Xây dựng quan hệ hợp tác với cơ quan Hải quan để thực hiện tốt công tác thu thuế XNK qua Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam BIDV


PHẦN MỞ ĐẦU

1.   Tính cấp thiết của đề tài.

Thực tế trong những năm gần đây cho thấy thủ tục hành chính tiêu tốn rất nhiều thời gian của các doanh nghiệp. Mặc dù đã có những bước chuyển nhất định, nhưng trình độ quản lý thuế và Hải quan của Việt Nam hiện vẫn ở mức thấp so với các nước tiên tiến trên thế giới. Theo báo cáo môi trường kinh doanh hàng năm, các tổ chức quốc tế xếp thứ hạng về thuế của Việt Nam ở mức 140/182 nước (Singapore thứ 5, Malaysia thứ 21, Thái Lan thứ 82); thời gian doanh nghiệp làm các thủ tục về thuế và các nghĩa vụ với ngân sách là 1.050 giờ (trong đó bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế chiếm 400 giờ), trong khi Singapore là 84 giờ, Indonesia 266 giờ, Malaysia 145 giờ, Thái Lan 264 giờ. Đối với Hải quan, việc kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu thực hiện thủ công; khai Hải quan, nộp thuế chưa được điện tử hóa…, thời gian thông quan còn kéo dài; tỷ lệ hàng hóa thuộc diện kiểm tra thực tế cao gấp 2 lần các nước trong khu vực; gấp 3 lần các nước tiên tiến.

Thuế và Hải quan trong thời gian qua có nhiều chuyển biến đáng ghi nhận, nhưng so với yêu cầu và kỳ vọng thì cần có sự đột phá mạnh mẽ hơn nữa. Sự thiếu đồng bộ của các chuẩn mực với các thông lệ quốc tế và chất lượng nhân lực chuyên trách quá mỏng cần bổ sung tại các đơn vị Hải quan, thuế cũng là nguyên nhân dẫn tới cải cách hành chính và hiện đại hóa chưa đạt những bước tiến như mong đợi.

Từ thực trạng trên, kết hợp với chủ trương của Chính phủ về thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, chủ trương hiện đại hoá và cải cách thủ tục hành chính của Bộ Tài chính. Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 128/2008/TT-BTC ngày 24/12/2008 về việc Hướng dẫn thu và quản lý các khoản thu Ngân sách Nhà nước (NSNN) qua Kho bạc Nhà nước (KBNN), trong đó có hướng dẫn các hình thức thu NSNN qua hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM), đặc biệt là từ chủ trương hiện đại hoá của ngành Hải Quan theo hướng triển khai Hải Quan điện tử góp phần cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, rõ ràng, minh bạch, dễ thực hiện, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực XNK.

Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý quỹ ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước, thực hiện tốt chỉ đạo của Chính phủ về tăng cường thanh toán không dùng tiền mặt và tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước được tiếp cận các hình thức thu mới qua ngân hàng, đồng thời vẫn tuân thủ các quy định pháp luật về thuế và các khoản thu ngân sách nhà nước, ngày 18/8/2009, Kho bạc Nhà nước, Tổng cục Hải quan và Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) đã ký kết “thỏa thuận hợp tác về tổ chức phối hợp thu ngân sách Nhà nước tại quầy giao dịch các chi nhánh, các phòng giao dịch của BIDV”.

Trước thực tiễn trên, cùng với quá trình nghiên cứu và nhận thức cá nhân, chuyên đề thực tập tốt nghiệp của em đã đi sâu vào đề tài : ”Xây dựng quan hệ hợp tác với cơ quan Hải quan để thực hiện tốt công tác thu thuế XNK qua Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam BIDV”.

2.   Mục tiêu của đề tài.

Mục tiêu của đề tài tập trung vào các nội dung:

– Đáng giá hoạt động một số mặt của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam trong những năm gần đây.

– Thực trạng kết quả hợp tác giữa cơ quan hải quan và một số Ngân hàng thương mại Việt Nam., đặc biệt là đối với BIDV. Đưa ra mô hình quy trình hợp tác giữa BIDV và Hải quan Việt Nam.

– Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị góp phần tăng cường hợp tác giữa BIDV và Hải quan Việt Nam.

3.  Phương pháp thực hiện đề tài.

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp được thực hiện trên cơ sở phương pháp phân tích định tính và phân tích định lượng, trong đó chủ yếu dùng phương pháp định tính để nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của quan hệ hợp tác giữa KBNN, cơ quan Hải quan và BIDV . Từ đó đề xuất các biện pháp – giải pháp, các kiến nghị và điều kiện để tăng cường quan hệ hợp tác giữa BIDV và cơ quan Hải quan nhằm thực hiện tốt công tác thu thuế XNK cho NSNN.

4.  Đối tượng và phạm vi thực hiện của đề tài.

–  Đối tượng của đề tài : quan hệ hợp tác giữa Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam và cơ quan Hải quan Việt Nam về thu thuế XNK.

– Phạm vi thực hiện của đề tài : nghiên cứu trong phạm vi toàn bộ hệ thống  NHĐT&PTVN trên cơ sở số liệu báo cáo từ năm 2005 đến năm 2009 .

1.    Kết cấu của đề tài.

Kết cấu đề tài bao gồm các nội dung sau :

Phần mở đầu.

Chương 1: Khái quát về Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam.

Chương 2: Thực trạng quan hệ hợp tác giữa Tổng cục Hải quan và một số Ngân hàng thương mại Việt Nam. Mô hình quy trình thu thuế XNK ở Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam.

Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị để tăng cường quan hệ hợp tác giữa Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam với tổng cục hải quan nhằm thực hiện tốt công tác thu thuế XNK..

Kết luận.

 

CHƯƠNG I.
KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM

1.1. Giới thiệu về ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam.

1.1.1  Sơ lược về ngân hàng BIDV.

Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (Bank for Investment and Development of Vietnam, tên gọi tắt là BIDV) được thành lập ngày 26/4/1957 với tên gọi Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam. Ngày 24/6/1981 chuyển thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam. Ngày 14/11/1990 chuyển thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Lịch sử xây dựng, trưởng thành của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một chặng đường đầy gian nan thử thách nhưng cũng rất đỗi tự hào gắn với từng thời kỳ lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược và xây dựng đất nước của dân tộc Việt Nam…

Hoà mình trong dòng chảy của dân tộc, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã góp phần vào việc khôi phục, phục hồi kinh tế sau chiến tranh, thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất (1957 – 1965); Thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH, chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ở miền Bắc, chi viện cho miền Nam, đấu tranh thống nhất đất nước (1965- 1975); Xây dựng và phát triển kinh tế đất nước (1975-1989) và Thực hiện công cuộc đổi mới hoạt động ngân hàng phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước (1990 – nay). Dù ở bất cứ đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào, các thế hệ cán bộ nhân viên BIDV cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình – là người lính xung kích của Đảng trên mặt trận tài chính tiền tệ, phục vụ đầu tư phát triển của đất nước…

  • Nhiệm vụ hoạt động: Kinh doanh đa  ngành, đa lĩnh vực về tài chính, tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng và phi ngân hàng phù hợp với quy định của pháp luật, không ngừng nâng cao lợi nhuận của ngân hàng, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế đất nước.
  • Phương châm hoạt động:

–         Hiệu quả kinh doanh của khách hàng là mục tiêu hoạt động của BIDV.

–         Chia sẻ cơ hội- Hợp tác thành công.

Sau những năm thực hiện đường lối đổi mới kinh tế, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng thể hiện trên một số bình diện sau đây:

* Quy mô tăng trư­ởng và năng lực tài chính được nâng cao:

Đến 31/12/2009, tổng tài sản của BIDV đạt 158.219 tỷ đồng; Dư nợ tín dụng 95.324 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 3.451 tỷ đồng, các chỉ tiêu an toàn chất lượng đều đạt và vượt chuẩn quốc tế. Với đội ngũ hơn 12000 nhân viên làm việc chuyên nghiệp, nghiêm túc và hiệu quả, đặc biệt có kinh nghiệm trong lĩnh vực đầu tư phát triển, là thế mạnh cạnh tranh của BIDV.             

BIDV vẫn tiếp tục phát huy vai trò phục vụ đầu tư phát triển bằng việc triển khai các thoả thuận hợp tác toàn diện với các Tập đoàn, Tổng Công ty lớn của đất nước. BIDV đã và đang ngày càng nâng cao uy tín về cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đồng bộ cho lực lượng “chủ công” này của nền kinh tế đồng thời khẳng định giá trị của thương hiệu BIDV trong lĩnh vực phục vụ các dự án, chương trình lớn của đất nước. Bên cạnh tăng cường các quan hệ hợp tác với các “quả đấm thép” của nền kinh tế, BIDV cũng đã chú trọng đến việc mở rộng khách hàng là doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nền khách hàng đã đa dạng hơn cả về loại hình sở hữu và ngành nghề.

* Lành mạnh hóa tài chính và năng lực tài chính tăng lên rõ rệt:

BIDV đã chủ động thực hiện minh bạch và công khai các hoạt động kinh doanh, là ngân hàng đi tiên phong trong việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế. Từ 1996, BIDV liên tục thực hiện kiểm toán quốc tế độc lập và công bố kết quả báo cáo. Bắt đầu từ năm 2006, BIDV là ngân hàng đầu tiên thuê Tổ chức định hạng hàng đầu thế giới Moody’s thực hiện định hạng tín nhiệm cho BIDV và đạt mức trần quốc gia. Cũng trong năm 2006, với sự tư vấn của Earns & Young, BIDV trở thành Ngân hàng thương mại tiên phong triển khai thực hiện xếp hạng tín dụng nội bộ theo điều 7 Quyết định 493 phù hợp với chuẩn mực quốc tế và được NHNN công nhận. .

* Đầu tư phát triển công nghệ thông tin:

  Nhận thức công nghệ thông tin là nền tảng cho hoạt động của một ngân hàng hiện đại, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ và sức mạnh cạnh tranh của BIDV trên thị trường, BIDV luôn đổi mới và ứng dụng công nghệ phục vụ đắc lực cho công tác quản trị và phát triển dịch vụ ngân hàng tiên tiến; phát triển các hệ thống công nghệ thông tin như: ATM, POS, Contact Center; Củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng các hệ thống: giám sát tài nguyên mạng; mạng định hướng theo dịch vụ (SONA); kiểm soát truy nhập máy trạm; Tăng cường công tác xử lý thông tin phục vụ quản trị điều hành ngân hàng MIS, CRM

  Năm 2009, BIDV đứng đầu danh sách ICT Việt Nam Index (chỉ số sẵn sàng cho ứng dụng công nghệ thông tin) và nằm trong Top 10 CIO tiêu biểu của khu vực Đông Dương

* Hoàn thành tái cấu trúc mô hình tổ chức- quản lý, hoạt động, điều hành theo tiêu thức Ngân hàng hiện đại:

 Thực hiện nội dung Đề án Hỗ trợ kỹ thuật do Ngân hàng thế giới (WB) tài trợ nhằm chuyển đổi mô hình tổ chức hoạt động giai đoạn 2007 – 2010, năm 2008, BIDV đã thực hiện cơ cấu lại toàn diện, sâu sắc trên tất cả các mặt hoạt động của khối ngân hàng. Từ tháng 9/2008, BIDV đã chính thức vận hành mô hình tổ chức mới tại Trụ sở chính và từ tháng 10/2008 bắt đầu triển khai tại chi nhánh. Theo đó, Trụ sở chính được phân tách theo 7 khối chức năng: Khối ngân hàng bán buôn; Khối ngân hàng bán lẻ và mạng lưới; Khối vốn và kinh doanh vốn; Khối quản lý rủi ro; Khối tác nghiệp; Khối Tài chính kế toán và Khối hỗ trợ. Tại chi nhánh được sắp xếp thành 5 khối: Khối quan hệ khách hàng; Khối quản lý rủi ro; Khối tác nghiệp; Khối quản lý nội bộ và Khối trực thuộc. Mô hình tổ chức mới được vận hành tốt là nền tảng quan trọng để BIDV tiến tới trở thành một ngân hàng bán lẻ hiện đại.

 Cùng với quá trình cơ cấu lại mô hình tổ chức, công tác quản lý hệ thống cũng đã liên tục được củng cố, tăng cường, phù hợp với mô hình tổ chức và yêu cầu phát triển mới. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển đã xây dựng và hoàn thiện kế hoạch phát triển thể chế, ban hành cơ bản đầy đủ hệ thống văn bản nghiệp vụ, tạo dựng khung pháp lý đồng bộ cho hoạt động ngân hàng theo luật pháp, phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

* Đầu tư, tạo dựng tiềm lực cơ sở vật chất và mở rộng kênh phân phối sản phẩm:

Xác định tầm quan trọng của việc xây dựng cơ sở vật chất hiện đại, tương xứng với tầm vóc, quy mô và vị thế hoạt động của ngân hàng, trong năm 2009, BIDV đã đưa vào sử dụng tháp văn phòng hạng A theo tiêu chuẩn quốc tế – BIDV Tower – tại 35 Hàng Vôi, Hoàn Kiếm, Hà nội.

Với mục tiêu phát triển mạng lưới, kênh phân phối để tăng trưởng hoạt động, là cơ sở, nền tảng để triển khai các hoạt động kinh doanh, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đồng thời nâng cao hiệu quả quảng bá và khẳng định thương hiệu của ngân hàng, đến nay BIDV đã có 108 chi nhánh và hơn 500 phòng giao dịch, hàng nghìn ATM và POS tại 63 tỉnh thành trên toàn quốc.

* Không ngừng đầu tư cho chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực:

BIDV luôn quan tâm thoả đáng tới đời sống vật chất, tinh thần của người lao động. Bên cạnh việc tiếp tục bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nòng cốt cho ngành, đào tạo và đào tạo lại cán bộ, BIDV đã liên tục tuyển dụng nguồn nhân lực trẻ có tri thức và kỹ năng đáp ứng các yêu cầu của hội nhập. Toàn hệ thống đã thực thi một chính sách sử dụng lao động tương đối đồng bộ, trả công xứng đáng với năng lực và kết quả làm việc của mỗi cá nhân đồng thời tạo ra môi trường làm việc cạnh tranh có văn hoá, khuyến khích được sức sáng tạo của các thành viên…

* Tiếp tục mở rộng và nâng tầm quan hệ đối ngoại lên tầm cao mới.

Là ngân hàng thương mại nhà nước ở vị trí doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam do UNDP xếp hạng, BIDV có thế mạnh và kinh nghiệm hợp tác quốc tế. BIDV hiện đang có quan hệ đại lý, thanh toán với 1551 định chế tài chính trong nước và quốc tế, là Ngân hàng đại lý cho các tổ chức đơn phương và đa phương như World Bank, ADB, JBIC, NIB….

Thực hiện chiến lược đa phương hóa trong hợp tác kinh tế và mở rộng thị trường, BIDV đã thiết lập các liên doanh: Vid Public Bank (với Malaysia năm 1992), Lào Việt Bank (năm 1999) Bảo hiểm Lào -Việt (năm 2008), Ngân hàng Liên doanh Việt – Nga ( năm 2006), Công ty quản lý quỹ đầu tư BVIM (với Hoa Kỳ năm 2006), Công ty địa ốc BIDV Tower (với Singapore năm 2005), Công ty quản lý quỹ đầu tư tại Hồng Kông và đang có kế hoạch thiết lập hiện diện tại Cộng hoà Séc, Hoa Kỳ.v.v. Với việc đầu tư vào thị trường Lào trên cả ba lĩnh vực: Ngân hàng, Bảo hiểm và Đầu tư tài chính, BIDV đã cùng các đối tác Lào tạo nên một cầu nối hữu hiệu cho quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai nước Lào – Việt liên tục phát triển.

* Doanh nghiệp Vì cộng đồng

BIDV đã có nhiều đóng góp tích cực hiệu quả với sự phát triển tiến bộ chung của cộng đồng. Trong những năm qua, BIDV đã hưởng ứng và chủ động tổ chức triển khai có hiệu quả nhiều chương trình chính sách xã hội đối với cộng đồng bên cạnh việc đảm bảo tốt chính sách, chế độ cho hơn 1,4 vạn cán bộ nhân viên trong toàn hệ thống. Chỉ tính riêng trong 5 năm (từ 2004 -2008), BIDV đã dành cho công tác xã hội 106,5 tỷ đồng bằng nhiều hình thức khác nhau như: hỗ trợ Y tế, Giáo dục, nhà ở cho người nghèo, cứu trợ đồng bào bị thiên tai… Năm 2009, BIDV có bước đột phá trong thực hiện công tác An sinh xã hội, hỗ trợ giảm nghèo với Đề án An sinh xã hội – Vì cộng đồng 2009-2010 với tổng kinh phí dành cho người nghèo là 302 tỷ đồng, nhận đỡ đầu 5/62 huyện nghèo nhất cả nước và thực hiện hỗ trợ các vùng nghèo khác trên toàn quốc tập trung vào các lĩnh vực: Y tế, giáo dục, Xóa nhà tạm cho người nghèo, khắc phục hậu quả thiên tai…

* Bồi đắp văn hoá doanh nghiệp:

Văn hoá doanh nghiệp là tài sản quý báu của BIDV do các thế hệ cán bộ công nhân viên BIDV xây dựng, gìn giữ và bồi đắp từ hơn 5 thập kỷ nay với các nguyên tắc ứng xử là kim chỉ nam cho hoạt động:

Đối với khách hàng, đối tác: BIDV luôn nỗ lực để xây dựng mối quan hệ hợp tác tin cậy và lâu dài, cùng chia sẻ lợi ích, thực hiện đầy đủ các cam kết đã được thống nhất.

Đối với cộng đồng xã hội: BIDV dành sự quan tâm và chủ động tham gia có trách nhiệm các chương trình, hoạt động xã hội, cống hiến cho lợi ích và sự phát triển của cộng đồng.

Đối với người lao động: Với quan điểm “Mỗi cán bộ BIDV là một lợi thế cạnh tranh”, BIDV cam kết tạo lập môi trường làm việc chuyên nghiệp, tạo cơ hội làm việc và phát triển nghề nghiệp bình đẳng, đồng thời thúc đẩy năng lực và niềm đam mê, gắn bó trong mỗi người lao động.

* Chuẩn bị tốt các tiền đề cho Cổ phần hóa BIDV:

BIDV đã chủ động xây dựng Đề án cổ phần hóa BIDV, trình và được Chính phủ chấp thuận. Nỗ lực nâng cao năng lực tài chính bằng việc phát hành 3.200 tỷ đồng trái phiếu tăng vốn cấp 2; minh bạch hóa hoạt động kinh doanh với việc thực hiện và công bố kết quả kiểm toán quốc tế; Thực hiện định hạng tín nhiệm và đạt mức trần quốc gia do Moody’s đánh giá;…

 

* Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để phát triển theo mô hình Tập đoàn:

Được sự chấp thuận của Chính phủ, BIDV đang xây dựng đề án hình thành Tập đoàn Tài chính với 4 trụ cột là Ngân hàng – Bảo hiểm – Chứng khoán – Đầu tư Tài chính trình Thủ tướng xem xét và quyết định..

Qua 53 năm xây dựng và trưởng thành, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, góp phần đắc lực cùng toàn ngành Ngân hàng thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia và phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của công nghệ và tri thức, với hành trang là bề dày truyền thống, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam tự tin hướng tới những mục tiêu và ước vọng to lớn hơn trở thành một Tập đoàn Tài chính Ngân hàng có uy tín trong nước, trong khu vực và vươn ra thế giới.

1.1.2  Bộ máy tổ chức của BIDV.

1.1.2.1  Sơ đồ bộ máy tổ chức của BIDV.

1.1.2.2  Bộ máy tổ chức của BIDV.

BIDV là một trong những ngân hàng có mạng lưới phân phối lớn nhất trong hệ thống các ngân hàng tại Việt Nam, chia thành hai khối:

  • Khối kinh doanh: trong các lĩnh vực sau:

– Ngân hàng thương mại:  

+ 103 chi nhánh cấp 1 với gần 400 điểm giao dịch, hơn 700 máy ATM và hàng chục ngàn điểm đặt máy quẹt thẻ POS (thanh toán ko dùng tiền mặt) trên toàn phạm vi lãnh thổ, sẵn sàng phục vụ mọi nhu cầu khách hàng.

+ Trong đó có 2 đơn vị chuyên biệt là:

– Ngân hàng chỉ định thanh toán phục vụ thị trường chứng khoán (Nam Kì Khởi Nghĩa)

– Ngân hàng bán buôn phục vụ làm đại lý ủy thác giải ngân nguồn vốn ODA (Sở Giao dịch 3)

– Chứng khoán: Công ty chứng khoán BIDV (BSC)

– Bảo hiểm: Công ty Bảo hiểm BIDV (BIC): Gồm Hội sở chính và 10 chi nhánh

– Đầu tư – Tài chính:

+ Công ty Cho thuê Tài chính I, II; Công ty Đầu tư Tài chính (BFC), Công ty Quản lý Quỹ Công nghiệp và Năng lượng,…

+ Các Liên doanh: Công ty Quản lý Đầu tư BVIM, Ngân hàng Liên doanh VID Public (VID Public Bank), Ngân hàng Liên doanh Lào Việt (LVB); Ngân hàng Liên doanh Việt Nga (VRB),  Công ty liên doanh Tháp BIDV.

  • Khối sự nghiệp:

– Trung tâm Đào tạo (BTC).

– Trung tâm Công nghệ thông tin (BITC)

1.2.  Đánh giá tình hình hoạt động của Ngân hàng BIDV giai đoạn 2005-2009.

1.2.1. Tình hình kinh tế xã hội trong giai đoạn 2005-2009.

Hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại nói chung và của hệ thống Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển nói riêng trong các năm từ 2005-2009 đã diễn ra trong điều kiện môi trường vừa thuận lợi lại vừa phải đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn.

Thuận lợi.

Giai đoạn 2005-2009 tình hình kinh tế thế giới và khu vực có nhiều biến động bất ổn, đặc biệt là cuộc suy thoái toàn cầu bắt đầu từ cuối năm 2008 mà khởi nguồn từ Mỹ. Tuy vậy, xu thế hội nhập và phát triển vẫn được mở rộng, đầu tư giữa các quốc gia tạo cơ hội tốt cho các nền kinh tế trong đó có Việt Nam và Việt Nam cũng đã tận dụng được cơ hội tốt đó thể hiện qua các thành tựu:

– Tình hình chính trị xã hội đất nước ổn định, nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, bình quân giai đoạn 2005-2009 đạt trên 7%.

– Sự kiện Việt nam được gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO đã mở ra một thời kỳ mới cho nền kinh tế Việt Nam phát triển, quan hệ thương mại quốc tế của Việt Nam nhanh chóng được mở rộng, kim ngạch xuất khẩu và kết quả thu hút đầu tư nước ngoài tăng nhanh.

– Trong lĩnh vực hoạt động kinh tế tài chính: trong năm 2006 và đầu năm 2007, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có bước phát triển nhảy vọt, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp huy động vốn phục vụ cho chiến lược phát triển của mình; Hàng loạt DNNN chuyển đổi loại hình sở hữu doanh nghiệp từ sở hữu nhà nước sang hình thức công ty cổ phần giúp cho doanh nghiệp thật sự chủ động trong hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường; bên cạnh đó một số lượng lớn các DN ngoài quốc doanh cũng nhanh chóng hình thành.

– Hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách của chính phủ và các bộ ngành cũng tiếp tục được bổ sung, môi trường pháp lý cho hoạt động kinh tế, xã hội được cải thiện đáng kể.

Khó khăn.

Tuy nhiên, ngoài những thuận lợi trên, nhiều hạn chế trong nền kinh tế chưa được khắc phục cũng ảnh hưởng không tốt đến hoạt động tín dụng, chẳng hạn:

– Cuộc suy thoái toàn cầu và các ảnh hưởng kéo theo của nó làm lao đao nền kinh tế của toàn thế giới, nó tác động đến tất cả các mặt của xã hội: thất nghiệp tăng cao, lạm phát luôn ở mức cao, thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, tỷ giá ngoại tệ biến đổi liên tục và bất thường….

– Áp lực cạnh tranh của nền kinh tế ngày càng tăng, một bộ phận doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nước bộc lộ sự yếu kém, hiệu quả kinh doanh thấp, cùng với các chính sách sắp xếp chuyển đổi các DN này làm bộc lộ nợ xấu, tác động mạnh đến hoạt động tín dụng ngân hàng.

– Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi đổi mới mạnh mẽ trong hoạt động tài chính Ngân hàng, trong khi các ngân hàng thương mại nhà nước vẫn đang phải tiếp tục cơ cấu lại mô hình tổ chức quản trị điều hành.

– Khu vực kinh tế dân doanh  mới phát triển trong vài năm gần đây, nên trình độ nền kinh tế còn thấp, thu nhập người dân chưa cao cũng làm hạn chế hoạt động tín dụng bán lẻ.

– Thêm vào đó, các hoạt động kinh tế và sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp nói chung, chịu áp lực cạnh tranh ngày càng tăng theo tiến trình hội nhập của Việt Nam vào kinh tế quốc tế.

– Trong khi đó, ở góc độ vĩ mô, cơ chế chính sách của Nhà nước lại chưa đồng bộ, môi trường pháp lý và đặc biệt là hệ thống luật pháp chưa đầy đủ, thực hiện chưa nghiêm cũng tạo ra cản trở đối với hoạt động tín dụng.

Tất cả những đặc điểm kinh tế xã hội nêu trên có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các NHTM, trong đó có BIDV.

1.2.2. Tình hình hoạt động của NHĐT&PTVN giai đoạn 2005-2009.

Nhận thức được đầy đủ những thuận lợi cũng như khó khăn, thách thức trong giai đoạn mới, NHĐT&PTVN đã khắc phục khó khăn, tranh thủ thời cơ và đạt được những thành tựu quan trọng như: xử lý nợ xấu, tăng trưởng an toàn, hiệu quả, tăng vốn điều lệ, tạo lập tiền đề để hội nhập và phát triển theo hướng xây dựng tập đoàn tài chính đa năng và hội nhập quốc tế. Trong giai đoạn 2005-2009, NHĐT&PTVN tiếp tục duy trì tăng trưởng về quy mô, chất lượng, nâng cao năng lực tài chính và chuyền dịch cơ cấu theo hướng tích cực, cụ thể:

1.2.2.1. Về tổng tài sản:

Tính đến 31/12/2009 tổng tài sản của BIDV đạt 158.219 tỷ đồng tương đương 10 tỷ USD, trong đó tổng cung thanh khoản (gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng nhà nước và các tổ chức tín dụng khác, chứng khoán và các tài sản kinh doanh khác) đạt 31%. So sánh với các năm, tổng tài sản tăng 34% so với năm 2008, gấp 1,84 lần so với năm 2006 và gấp 2,23 lần so với năm 2005 (2005 năm đầu tiên thực hiện đề án cơ cấu lại ).

Bảng 1.1:  Tổng tài sản của BIDV giai đoạn 2005-2009

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009
Tổng tài sản 70802 85851 99660 117976 158219
Tốc độ tăng trưởng   21% 16% 18% 34%

 (Nguồn: Báo cáo thường niên 2005-2009 của BIDV)

1.2.2.2. Về vốn chủ sở hữu

Trong lộ trình cơ cấu lại tài chính, BIDV xác định vấn đề cấp bách là tăng vốn tự có để gia tăng hệ số CAR phù hợp với thông lệ quốc tế. Năm 2009 phản ánh nỗ lực của BIDV trong việc tăng trưởng mức vốn tự có. Tính đến 31/12/2009, vốn tự có của BIDV là 10.590 tỷ VND, trong đó vốn điều lệ chiếm tỷ trọng chủ yếu (trên 60%). Tỷ trọng vốn được bổ sung từ nguồn  lợi nhuận trích lập các quỹ và lợi nhuận để lại qua các năm của BIDV từ 2005 đến 2009 trong khoảng từ 27% – 47%. Vốn tự có của BIDV tăng hơn 2,8 lần so với năm 2005 do trong năm 2006 vốn tự có cấp 2 tăng thêm 3.250 tỷ đồng thông qua phát hành trái phiếu dài hạn trên thị trường quốc tế. Vốn tự có tăng liên tục qua các năm với tốc độ khá cao giúp cải thiện và nâng cao tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu lên trên 9.5% tuy nhiên so với chuẩn mực quốc tế, hệ số CAR mới đạt ở mức 5.9% và chưa thật sự  ổn định.

Bảng 1.2:  Vốn chủ sở hữu của BIDV giai đoạn 2005-2009

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009
Vốn chủ sở hữu 3.760 5.503 6.182 6.530 10.590
Tốc độ tăng trưởng   46,4% 12,3% 5,6% 70%

      (Nguồn: Báo cáo tổng kết 2005-2009 của BIDV)

Biểu đồ 1.2: Tốc độ tăng trưởng Vốn chủ sở hữu của BIDV

1.2.2.3. Về huy động vốn

Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2009 đạt 113.724 tỷ VNĐ. Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động năm 2009 đạt 33%, đây là mức tăng trưởng khá cao so với mức tăng trưởng bình quân 23%/năm giai đoạn 2005- 2009.

Kết quả huy động vốn tăng trưởng ngày càng cao xuất phát từ chủ trương tập trung mở rộng và phát triển mạng lưới các phòng giao dịch ở các thị trường tiềm năng đồng thời triển khai nhiều hình thức phát triển sản phẩm huy động vốn mang tính cạnh tranh cao, hấp dẫn, phù hợp với nhu cầu gửi tiền đa dạng như: chứng chỉ tiền gửi, dịch vụ tiết kiệm gửi một nơi, rút tiền nhiều nơi trong cùng hệ thống, tiết kiệm tích luỹ, tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm tiện ích, tiết kiệm ổ trứng vàng và những biện pháp khuyến mãi hấp dẫn khác kết hợp với việc điều chỉnh lãi suất một cách linh hoạt, phù hợp với thực tế biến động lãi suất trên thị trường. Đặc biệt năm 2006 là năm đầu tiên BIDV thực hiện huy động vốn thông qua hình thức phát hành trái phiếu dài hạn trên thị trường quốc tế với tổng khối lượng phát hành là 3.250 tỷ đồng.  Cơ cấu nguồn vốn huy động được điều chỉnh với tỷ trọng tiền gửi TCKT tăng dần qua các năm và đạt 58% vào năm 2009. Tỷ lệ vốn trung dài hạn có chuyển biến tích cực từ 29% năm 2005 lên 43% năm 2009 là nỗ lực rất lớn của BIDV trong việc đáp ứng cơ bản nhu cầu sử dụng vốn trung dài hạn. Tỷ lệ tăng trưởng huy động vốn so với tăng trưởng tín dụng ngày càng tăng đã làm tăng lượng vốn khả dụng của BIDV, tạo điều kiện để BIDV mở rộng đầu tư vào các loại tài sản có khác như trái phiếu chính phủ, đô thị, doanh nghiệp…tham gia tích cực trên thị truờng tiền tệ và chứng khoán, vừa làm tăng tính thanh khoản của tài sản có, vừa làm tăng thêm hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng.

Bảng 1.3:  Vốn huy động của BIDV giai đoạn 2005-2009

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009
– Vốn huy động 46.115 59.910 67.262 85.747 113.724
  Huy động từ dân cư 25.824 31.153 36.321 44.588 51.176
  Huy động từ  TCKT 20.291 28.757 30.941 41.159 62.548
– Tỷ lệ nguồn vốn TDH 29% 32% 38% 40% 43%
– Tỷ lệ nguồn vốn ngoại tệ 28% 30% 26% 27% 21%
– Tốc độ tăng trưởng   30% 12% 27% 33%

                          (Nguồn: Báo cáo thường niên 2005-2009 của BIDV)

Biểu đồ 1.3: Cơ cấu nguồn vốn huy động năm 2009 của BIDV

1.2.2.4. Về hoạt động tín dụng

Rút kinh nghiệm bài học tiềm ẩn rủi ro tín dụng các giai đoạn trước có nguyên nhân quan trọng do tăng trưởng nóng, tăng trưởng không phù hợp với  khả năng kiểm soát và điều kiện thị trường cho phép, trong những năm gần đây BIDV thực hiện việc tăng trưởng có kiểm soát quy mô và theo từng đối tượng ngành, địa bàn kinh tế. Với ngành kinh tế mạnh, các địa bàn kinh doanh có ưu thế, các chi nhánh có chất lượng tín dụng tốt được ưu tiên và gia tăng tín dụng với tốc độ cao hơn tốc độ bình quân chung. Các địa bàn, các ngành kinh tế và chi nhánh kiểm soát tín dụng yếu kém, tiềm ẩn rủi ro cao được kiểm soát theo hướng hạn chế tốc độ gia tăng hoặc rút giảm quy mô tín dụng. Kết quả là tính đến 31/12/2009, tổng dư nợ của BIDV đạt 95.324 tỷ VND, tăng 1.6 lần so với năm 2005, tỷ lệ tăng trưởng năm 2009 đạt  14%. Tỷ lệ tăng này được coi là tỷ lệ phù hợp với tăng trưởng kinh tế cũng như sát với mục tiêu chỉ đạo kiểm soát của ngân hàng nhà nước.

Bảng 1.4:  Dư nợ cho vay của BIDV giai đoạn 2002-2006

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009
– Tổng dư nợ cho vay 57.228 63.758 69.577 83.324 95.324
   Dư nợ ngắn hạn 29.015 32.580 37.780 48.328 56.241
   Dư nợ trung dài hạn 28.213 31.178 31.797 34.996 39.083
-Tốc độ tăng trưởng   11% 9% 20% 14%

   (Nguồn: Báo cáo thường niên và báo cáo tổng kết 2005-2009 của BIDV)

 

Biểu đồ 1.4: Tốc độ tăng trưởng Dư nợ cho vay qua các năm

 

1.2.2.5. Về kết quả kinh doanh và khả năng sinh lời

Trong giai đoạn 5 năm từ 2005 – 2009, lợi nhuận của BIDV luôn đảm bảo năm sau cao hơn năm trước. Riêng năm 2008 lợi nhuận có sự sụt giảm giảm 9% mặc dù chênh lệch thu chi trước DPRR tăng tới 43% là do số trích DPRR thực hiện trong năm 2008 tăng đột biến, chiếm 73% chênh lệch thu chi. Nguyên nhân chính là do năm 2008 là năm đầu tiên thực hiện việc phân loại nợ và trích lập dự phòng theo quy định mới (Quyết định 493/2008/NHNN), việc phân loại nợ và trích lập DPRR hướng tới thông lệ quốc tế khiến số dư nợ phải trích DPRR tăng lên rất cao.

Năm 2009, chênh lệch thu chi trước dự phòng rủi ro đạt 3.473 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2008, tăng gấp 3,2 lần so với năm 2005. Lợi nhuận  sau thuế đạt 964 tỷ tăng 72% so với năm 2008. Sự tăng trưởng về lợi nhuận đã góp phần gia tăng nguồn vốn chủ sở hữu của BIDV.

 

Bảng 1.5: Các chỉ tiêu tổng hợp về kết quả kinh doanh của BIDV

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009
Tổng thu nhập từ  HĐKD 1.659 1.856 2.784 4.098 4.957
C.lệch thu chi trước  DPRR 1.062 1.194 1.933 2.772 3.473
Chi phí dự phòng trong năm (685) (670) (1.122) (2.032) (2.133)
Lợi nhuận ròng sau thuế 77 361 610 560 964

        (Nguồn: Báo cáo thường niên 2005-2009 của BIDV)

Biểu đồ 1.5: Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế qua các năm

Tuy kết quả lợi nhuận đạt được khá khả quan, nhưng cũng cần nhìn nhận những ảnh hưởng thực tế của một số yếu tố làm lợi nhuận có sự tăng trưởng như trên:

– Thứ nhất về lãi dự thu. Theo dự án hiện đại hóa được hoàn thành vào năm 2005, lãi dự thu được hạch toán từng ngày, trong đó có những khoản lãi dự thu của những khoản vay có tiềm ẩn rủi ro xuất phát từ việc phân loại nợ chưa thật chính xác cũng như một số bất cập trong việc hạch toán kế toán, do đó đã đưa vào thu nhập những khoản không chắc chắn, đẩy thu nhập lên rất cao.

– Thứ hai về DPRR. Hiện tại, BIDV chưa thực hiện trích lập đủ DPRR theo quy định. Số DPRR còn thiếu khoảng 3.000 tỷ. Như vậy có thể thấy là khoản lợi nhuận hiện tại chưa tính đến việc trích đủ DPRR phải trích theo quy định.

Bảng 1.6:  Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời của BIDV

Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009
ROA 0.50% 0,5% 0,64% 0,50% 0.72%
ROE 9.00% 7,8% 10,44% 8,81% 14.19%

Các chỉ tiêu ROA và ROE có sự tăng trưởng không đều đặn trong thời gian qua. Các chỉ tiêu sinh lời của BIDV đều rất thấp so với thông lệ và so với kế hoạch phát triển thể chế đã cam kết với World Bank. Hiện tại BIDV đang nỗ lực để tìm kiếm các giải pháp nhăm nâng cao năng lực tài chính đồng thời cải thiện các chỉ tiêu sinh lời nhằm đạt được mục tiêu chiến lược đến năm 2010 chỉ số ROE đạt mức 12-15%, ROA đạt mức trên 1% theo thông lệ quốc tế.

1.3. Các hoạt động thanh toán của ngân hàng liên quan đến Hải quan.

1.3.1. Thư tín dụng.

– Phát hành thư tín dụng

Thư tín dụng (l/C) là một thoả thuận, dù được đặt tên hay mô tả như thế nào, theo đó một ngân hàng (ngân hàng phát hành), thực hiện theo yêu cầu và chỉ dẫn của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) hoặc xuất phát từ chính bản thân họ:

– Thanh toán cho hoặc thanh toán theo lệnh của một bên thứ ba (người hưởng lợi), hoặc sẽ chấp nhận và thanh toán hối phiếu đòi tiền do người thụ hưởng ký phát, hoặc

– Ủy quyền cho một ngân hàng khác thực hiện việc chiết khấu dựa trên bộ chứng từ được xuất trình với điều kiện các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng được tuân thủ.

– Ủy quyền cho một ngân hàng khác thực hiện việc thanh toán đó, hoặc chấp nhận và thanh toán hối phiếu đòi tiền nói trên, hoặc

với điều kiện các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng được tuân thủ.

– Thanh toán thư tín dụng là nghiệp vụ theo đó ngân hàng thực hiện việc kiểm tra và xử lý bộ chứng từ đòi tiền theo thư tín dụng mà ngân hàng đã phát hành trước đó.

Thanh toán thư tín dụng trả chậm là nghiệp vụ theo đó ngân hàng thực hiện việc kiểm tra và xử lý bộ chứng từ đòi tiền theo thư tín dụng trả chậm mà ngân hàng đã phát hành trước đó.

Thanh toán thư tín dụng trả ngay là nghiệp vụ theo đó ngân hàng thực hiện việc kiểm tra và xử lý bộ chứng từ đòi tiền theo thư tín dụng trả ngay mà ngân hàng đã phát hành trước đó.

– Thông báo thư tín dụng, bảo lãnh là nghiệp vụ theo đó ngân hàng kiểm tra tính chân thực và thông báo, trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua một ngân hàng thông báo khác, tới người thụ hưởng thư tín dụng, bảo lãnh do một ngân hàng khác phát hành theo đề nghị của ngân hàng phát hành đó hoặc theo đề nghị của một ngân hàng thông báo khác.

1.3.2. Nhờ thu.

– Nhờ thu là nghiệp vụ theo đó ngân hàng xử lý bộ chứng từ nhờ thu nhận được theo chỉ dẫn của người gửi chứng từ để:

+ nhận được thanh toán và/hoặc chấp nhận, hoặc

+ giao chứng từ trên cơ sở nhận được thanh toán và/hoặc chấp nhận, hoặc

+ giao chứng từ trên cơ sở các điều khoản và điều kiện khác.

 

– Nhờ thu đến là nghiệp vụ theo đó ngân hàng thông báo và xử lý các phát sinh liên quan đến bộ chứng từ đòi tiền hàng nhập theo hình thức nhờ thu theo chỉ dẫn của ngân hàng/khách hàng nhờ thu.

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Đề tài Đại học và được gắn thẻ , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s