Thực trạng và giải pháp phát triển xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ


LỜI MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết lựa chọn đề tài nghiên cứu.

Kinh doanh cà phê ngày nay đã chiếm một vị trí rất quan trọng trên phạm vi toàn thế giới. Đối với Việt nam, cà phê là mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực chỉ đứng sau gạo. Hàng năm xuất khẩu cà phê đem về cho nền kinh tế một lượng ngoại tệ không nhỏ, đồng thời giải quyết hàng trăm nghìn công ăn việc làm cho người lao động trong nước.

Trong xu thế mở cửa hội nhập kinh tế thế giới như ngày nay, dưới ánh sáng của đường lối chính sách mở cửa hội nhập với kinh tế thế giới của Đảng và Nhà nước thì thị trường hàng hóa nói chung và cà phê Việt nam nói riêng không ngừng được mở rộng. Trong đó phải kể đến thị trường Hoa kỳ, đây là một trong những bạn hàng lớn nhất của cà phê Việt Nam. Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng thị phần của cà phê xuất khẩu Việt Nam ở thị trường Hoa kỳ còn rất nhỏ bé và uy tín cũng như vị thế của cà phê Việt Nam ở thị trường này là chưa cao. Trong khi đó Việt Nam có năng lực sản xuất cà phê rất lớn, chúng ta có khí hậu và thổ nhưỡng rất thích hợp với cây cà phê. Mặt khác Việt Nam và Hoa Kỳ đã ký hiệp định thương mại song phương, nhưng khối lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ trong những năm gần đây lại tăng trưởng chậm và không ổn định. Mặc dù toàn ngành, các doanh nghiệp cà phê và Chính phủ đã có nhiều giải pháp, chính sách hỗ trợ, thúc đẩy sản xuất, chế biến và xuất khẩu cà phê. Tuy nhiên các giải pháp chưa đồng bộ, ăn khớp. Các chính sách về tài chính cũng còn nhiều hạn chế và gặp nhiều khó khăn trở ngại trong bối cảnh hội nhập. Vì vậy, việc đẩy nhanh tốc độ xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Hoa kỳ là một nhiệm vụ quan trọng của ngành cà phê Việt Nam, nhằm góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của ngành cà phê cũng như mục tiêu chiến lược xuất nhập khẩu của quốc gia.

Xuất phát từ những lý do trên em mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu  là “  Thực trạng và giải pháp phát triển xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ”

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài.

– Khái quát hóa một số lý luận xuất khẩu cà phê, chính sách tài chính thúc đẩy xuất khẩu trong điều kiện hội nhập thương mại quốc tế.

– Nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu cà phê vào thị trường Hoa kỳ và chính sách tài chính nhằm hỗ trợ cho hoạt động này.

– Đề ra một số giải pháp về tài chính nhằm thúc đẩy xuất khẩu cà phê của Việt Nam vào thị trường Hoa kỳ thời gian tới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ và các chính sách tài chính hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu cà phê Việt Nam.

– Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các chính sách tài chính trên tầm vĩ mô của Nhà nước tác động tới hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt nam sang thị trường Hoa kỳ.

4. Phương pháp nghiên cứu

– Phương pháp duy vật biện chứng và lịch sử

– Phương pháp thống kê toán

– Phương pháp phân tích tổng hợp

5. Nội dung và kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo đề tài nghiên cứu gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng hóa và chính sách tài chính thúc đẩy xuất khẩu cà phê.

    Chương 2: Thị trường Hoa Kỳ và thực trạng xuât khẩu

cà phê Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ     

       Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị về chính sách

nhằm thúc đẩy xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị

trường Hoa kỳ trong thời gian tới. 

 

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN HỘI NHẬP KINH TẾ VÀ XUẤT KHẨU MẶT HÀNG CÀ PHÊ.

1.1. XUẤT KHẨU HÀNG HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP.

1.1.1. Hội nhập thương mại quốc tế.

1.1.1.1. Khái niệm về hội nhập thương mại quốc tế.

Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế và thị trường của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương.

Hội nhập thương mại là một trong những mũi nhọn của hội nhập kinh tế quốc tế. Do vậy nói đến hội nhập kinh tế  là phải đề cập tới sự gắn kết nền kinh tế, thị trường của từng nước với nhau, hoặc giữa các khối kinh tế.

Ngoài ra hội nhập bao giờ cũng gắn liền với quá trình cam kết mở cửa thị trường và tự do hóa thương mại. Những nỗ lực hội nhập quốc tế của các quốc gia thể hiện trên nhiều phương diện, nhiều cấp độ khác nhau như đơn phương mở cửa thị trường tự do hoá thương mại, hợp tác song phương hoặc đa phương thể hiện trong việc ký kết các hiệp định thương mại song phương, tham gia vào các diễn đàn, các định chế khu vực và toàn cầu.

1.1.1.2. Cơ hội và thách thức khi hội nhập.

a. Cơ hội:

– Thông qua hội nhập, các quốc gia sẽ tham gia vào phân công lao động thế giới. Từ đó giúp các quốc gia khai thác tốt nguồn lực và lợi thế mà mình có để phát triển kinh tế và thương mại quốc tế của quốc gia.

– Thông qua hội nhập sẽ thúc đẩy thương mại quốc tế của quốc gia đó phát triển. Hàng hóa của quốc gia đó sẽ được mở rộng về thị trường tiêu thụ vì vậy sẽ khuyến khích các nhà đầu tư mở rộng đầu tư sản xuất. Mặt khác hàng hóa của nước đó cũng sẽ bị cạnh tranh gay gắt hơn trên thị trường thế giới và cả trên thị trường nội địa, buộc các doanh nghiệp phải tự đầu tư đổi mới công nghệ, quản lý để năng cao năng suất và hiệu quả sản xuất tăng sức cạnh tranh của hàng hóa của mình. Bên cạnh đó hội nhập còn giúp cho quốc gia và các nhà sản xuất lựa chọn được mặt hàng mà mình có lợi thế để sản xuất. Như vậy hội nhập thúc đẩy sự phát triển nền sản xuất trong nước phát triển.

– Thông qua hội nhập giúp cho các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển có cơ hội nhận chuyển giao công nghệ, vốn, khoa học kỹ thuật cũng như kinh nghiệm quản lý kinh tế và kinh nghiệm về kinh doanh quốc tế của các nước tiên tiến trên thế giới.

– Qua hội nhập cũng giúp cho các quốc gia đang và kém phát triển như Việt Nam sẽ có cơ hội giải quyết các tranh chấp thương mại bình đẳng hơn với các nước phát triển.

b. Thách thức:

– Sự cạnh tranh diễn ra ngày càng khốc liệt trên thị trường thế giới và thậm chí ngay cả trên thị trường nội địa. Đối với các nước hàng hóa chưa có sức cạnh tranh cao thì đây là một thách thức to lớn. Nếu không có các biện pháp, chính sách thích hợp để nâng cao sức cạnh tranh thì sẽ không có chỗ đứng trên thị trường thế giới, tồi tệ hơn nó còn phá hủy nền sản xuất trong nước.

– Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các nước, các nước kém phát triển thường ở vào vị trí bất lợi, thua thiệt và thường bị các nước phát triển đối xử bất công. Ngoài ra các tập đoàn đa quốc gia dễ dàng chi phối kinh doanh trong nền kinh tế hội nhập, thậm chí là chi phối cả Chính phủ.

– Khi tham gia hội nhập mở cửa nền kinh tế sự giao lưu giữa các nước trên thế giới sẽ ngày càng thông thoáng dễ dàng hơn và vì vậy văn hóa ngoại lai cũng như các tệ nạn xã hội mới cũng theo con đường này mà du nhập vào. Nếu nền văn hóa trong nước không đủ mạnh để đề kháng lại với văn hóa ngoại lai độc hại thì nó sẽ phá vỡ nền văn hóa trong nước. Lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền sẽ làm cho con người ta ngày càng xa nhau hơn, văn hóa truyền thống sẽ bị phá vỡ đặc biệt là với những quốc gia Á Đông có bẳn sắc văn hóa truyền thống lâu đời. Mà văn hóa đã mất thì hội nhập sẽ thất bại và sẽ mất tất cả.

– Hội nhập làm phân hóa giàu nghèo giữa các nước và giữa các tầng lớp trong cùng một nước gây ra nhiều vấn đề xã hội phức tạp mà các quốc gia khó giải quyết một sớm một chiều được. Hội nhập còn khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên trong nước gây ô nhiễm môi trường.

1.1.2. Xuất khẩu cà phê đối với phát triển kinh tế xã hội.

1.1.2.1. Đặc điểm của sản xuất kinh doanh cà phê

a. Nguồn gốc cây cà phê.

Cây cà phê được phát hiện một cách vô tình nhờ một anh chàng chăn dê tên là Kaddi thuộc ngôi làng CaFa của đất nước Ethiopia, khi đàn dê của anh ta ăn phải một loại quả màu đỏ (cà phê chín) và đêm đó đàn dê không ngủ mà quậy phá suốt đêm . Vì thế nó được gọi là cây Cafa, về sau loại cây này được gọi chệch đi là café, Coffee, hay cà phê như ngày nay.

b. Đặc điểm của sản xuất kinh doanh cà phê.

– Cà phê có tính thời vụ cao, đây chính là đặc điểm ảnh hưởng lớn nhất tới kinh doanh cà phê. Ngay cả những nước sản xuất và kinh doanh cà phê lớn như Braxin, Colombia cũng chịu tác động bởi đặc điểm này. Vào thời vụ thu hoạch  giá cà phê thường xuống thấp, còn vào giữa niên vụ giá cà phê thường tăng lên do hàng bị khan hiếm. Chính vì lý do này mà các nước xuất khẩu cà phê nói chung và các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu cà phê nói riêng sẽ có lợi thế hơn khi họ có đủ nguồn tài chính phục vụ cho việc dự trữ cà phê.

– Cà phê là cây công nghiệp dài ngày, có thời gian từ lúc đầu tư tới lúc khai thác từ 3 tới 5 năm. Chính đặc điểm này ảnh hưởng rất lớn tới những nhà sản xuất, đặc biệt đại đa số là những người nông dân ở những nước sản xuất cà phê có nguồn tài chính hạn chế thì vốn đầu tư ban đầu cho sản xuất cà phê của họ chủ yếu là vay từ các ngân hàng. Mặt khác do thời gian khai thác đưa vào kinh doanh dài nên khi thị trường cà phê có biến động theo chiều có lợi thì những người trồng cà phê khó có thể nắm bắt cơ hội ngay được. Còn khi đưa vào kinh doanh được thì thị trường cà phê lại có những biến chuyển bất lợi khác.

– Sản xuất cà phê chịu ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện thời tiết, tự nhiên. Những năm do hạn hán, lũ lụt thì cà phê bị mất mùa làm ảnh hưởng lớn tới thị trường cà phê thế giới và làm đảo lộn nhiều dự đoán của các chuyên gia, cũng như kế hoạch của các quốc gia và các công ty kinh doanh cà phê, đặc biệt là đối với những quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới như Braxin, Việt Nam.

– Kinh doanh cà phê có tính rủi ro cao, đặc biệt là các hình thức kinh doanh về hợp đồng tương lai, giá trừ lùi…

1.1.2.2. Vai trò của xuất khẩu cà phê đối với kinh tế, xã hội Việt Nam.

a. Đối với nền kinh tế, xã hội và môi trường.

– Xuất khẩu cà phê mỗi năm đem về cho nền kinh tế chúng ta một lượng ngoại tệ lớn,  khoảng 500 triệu USD. Xuất khẩu cà phê góp phần không nhỏ vào việc thực hiện mục tiêu của chiến lược xuất nhập khẩu nói riêng và mục tiêu phát triển chiến lược kinh tế xã hội nói chung của đất nước. Mặt khác xuất khẩu cà phê còn góp phần giúp tạo vốn cho đầu tư máy móc trang thiết bị cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế.

– Là một ngành sử dụng nhiều lao động, xuất khẩu cà phê góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm, giúp giải quyết vấn đề thất nghiệp cho nền kinh tế. Theo Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam (Vicofa) thì mỗi năm ngành cà phê thu hút khoảng 600.000 – 700.000 lao động, thậm chí trong ba tháng thu hoạch số lao động có thể lên tới 800.000 lao động. Lao động làm việc trong ngành cà phê chiếm khoảng 2,93% tổng số lao động trong ngành nông nghiệp và chiếm 1,83% tổng số lao động trên toàn nền kinh tế quốc dân.

– Mặt khác khi xác định cà phê là mặt hàng xuất khẩu chủ lực thì sẽ giúp Nhà nước hoạch định các chính sách như đầu tư, quy hoạch vùng một cách có trọng điểm, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao trong phát triển kinh tế.

– Cà phê không chỉ là cây có giá trị kinh tế cao, mà trồng cà phê còn giúp thực hiện phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái. Vì cây cà phê thích hợp với những vùng đất đồi, đặc biệt là cây cà phê Robusta.

b. Đối với các doanh nghiệp sản xuất, chế biến  xuất khẩu cà phê.

– Xuất khẩu cà phê giúp các doanh nghiệp có thêm lợi nhuận, thu được ngoại tệ để đầu tư mua máy móc thiết bị mở rộng và nâng cao sản xuất từ đó tăng lợi nhuận và hiệu quả trong hoạt động của mình.

– Tham gia kinh doanh xuất khẩu cà phê giúp các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp chuyên doanh về cà phê nâng cao được uy tín hình ảnh của đơn vị trong con mắt các bạn hàng và trên thị trường thế giới từ đó tạo ra cho doanh nghiệp lợi thế cạnh tranh để nâng cao hiệu quả hoạt động mở rộng thị trường tăng thị phần và lợi nhuận.

– Với những doanh nghiệp kinh doanh tổng hợp, việc kinh doanh xuất khẩu cà phê giúp doanh nghiệp có thêm mặt hàng để lựa chọn trong kinh doanh, từ đó lựa chọn được mặt hàng kinh doanh có hiệu quả tăng lợi nhuận uy tín.

c. Với người sản xuất cà phê.

– Cà phê là sản phẩm trong nước có nhu cầu không cao do thói quen tiêu dùng của người Châu Á nói chung và người Việt Nam nói riêng thích uống trà hơn cà phê. Vì vậy xuất khẩu cà phê sẽ tìm được đầu ra cho sản phẩm của người nông dân trồng cà phê, giúp họ tiêu thụ được sản phẩm của mình và có thu nhập.

– Cà phê là một cây trồng rất thích hợp với điều kiện thời tiết và thổ nhưỡng của Việt Nam, đặc biệt là vùng Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ. Cà phê là một loại cây có giá trị kinh tế cao nên việc xuất khẩu cà phê sẽ giúp người nông dân trồng cà phê làm giàu trên chính mảnh đất của mình.

– Ngoài ra việc trồng cà phê xuất khẩu giúp họ giải tạo ra việc làm cho

người nhà trong thời buổi nông nhàn. Bên cạnh đó việc xuất khẩu cà phê còn giúp cho người nông dân trồng cà phê được Nhà nước cũng như doanh nghiệp đầu tư vật tư, giống và kỹ thuật chăm sóc sẽ làm cho họ nâng cao năng xuất lao động, cây trồng và chất lượng sản phẩm qua đó tăng thu nhập cho chính họ.

1.1.2.3. Lợi thế và bất lợi thế của xuất khẩu cà phê Việt Nam.

a. Lợi thế.

– Cà phê Việt Nam có hương vị đặc thù với giá rẻ hơn so với cà phê cùng loại của các nước. Bên cạnh đó cà phê Việt Nam được các nhà rang xay trên thế giới đánh giá cao là dễ chế biến, đặc biệt là chế biến cà phê dùng ngay.

– Là mặt hàng xuất khẩu chiến lược nên được Nhà nước ưu đãi thông qua các chính sách về tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu, xúc tiến thương mại cũng như các hỗ trợ khác trong nghiên cứu và phát triển.

– Nhu cầu cà phê thế giới là không ngừng tăng lên, đặc biệt là sự thay đổi tập quán và thói quen tiêu dùng của người Á Đông trong đó phải kể đến người tiêu dùng Nhật Bản và Trung Quốc, hai quốc gia gần với chúng ta và có thị trường rộng lớn. Bên cạnh đó nhu cầu tiêu dùng cà phê của Châu Âu và Bắc Mỹ cũng không ngừng tăng.

– Việc Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam và việc hai nước ký hiệp định thương mại song phương (7/2000) là một lợi thế cho việc xuất khẩu cà phê Việt Nam đặc biệt là vào thị trường chiếm thị phần cà phê thế giới lớn như Hoa Kỳ. Giờ đây khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO thì cà phê xuất khẩu của chúng ta càng có nhiều lợi thế hơn nữa.

b. Những bất lợi thế.

– Chất lượng cà phê xuất khẩu của chúng ta thấp và không đồng đều, đây là một bất lợi lớn của cà phê xuất khẩu Vịêt Nam. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến cho cà phê xuất khẩu Việt Nam thấp và có sự chênh lệch lớn với giá cà phê thế giới và với Indonesia.

– Tình trạng cung vượt quá cầu trên thị trường cà phê thế giới trong những năm qua cũng làm cho cà phê xuất khẩu Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn.

      – Thể thức mua bán phức tạp của chúng ta cũng góp phần tạo nên bất lợi cho cà phê Việt Nam. Việc các nhà nhập khẩu than phiền về cách thức mua cà phê của họ ở Việt Nam tốn thời gian. Họ phải đến tận nhà xuất khẩu để đàm phán xem xét chất lượng cũng như các cam kết thời hạn, quá tốn kém thời gian. Trong khi với cách thức mua bán trên các sở giao dịch thì họ chỉ mất vài giờ. 

CHƯƠNG 2:

THỊ TRƯỜNG HOA KỲ VÀ THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU

CÀ PHÊ VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ.

2.1. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.

2.1.1. Khái quát về ngành cà phê Việt Nam.

Cây cà phê được người Pháp đưa vào Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1870. Năm 1930 chúng ta đã có 5.900 ha diện tích trồng cà phê và đến những năm 1960 –1970 chúng ta đã phát triển một số nông trường quốc doanh về cà phê ở các tỉnh phía Bắc. Đặc biệt ở trong khoảng thời gian này thì vào năm 1964 – 1967 chúng ta có được diện tích trồng cà phê lớn nhất là 13.000 ha.

Đến nay ngành cà phê Việt Nam có khoảng 500.000 ha diện tích trồng cà phê với sản lượng trên 80 vạn tấn, trong đó các doanh nghiệp Nhà nước (gồm cả các doanh nghiệp trung ương và địa phương) chỉ nắm giữ khoảng 10 –15% diện tích còn 80 – 85% diện tích còn lại nằm trong tay ngư

sời nông dân hoặc các hộ gia đình hay các chủ trang trại nhỏ.

Sau năm 1975 cà phê Việt Nam phát triển mạnh ở các tỉnh Tây Nguyên nhờ các hiệp định hợp tác liên chính phủ với Liên Xô, Cộng hòa dân chủ Đức, Bungari, Tiệp Khắc và Ba Lan. Nhưng có thể nói chỉ có ít xưởng cũ kỹ và chắp vá do Cộng hóa dân chủ Đức lắp ráp từ những năm 1960. Tuy nhiên trong những năm gần đây ngành cà phê Việt Nam đã có được các công ty và các cơ sở chế biến được lắp ráp các trang thiết bị máy móc mới, đảm bảo chế biến được 150.000 – 200.000 tấn cà phê nhân xuất khẩu.

Hiện nay, cà phê chủ yếu của Việt Nam là cà phê vối và phương pháp chế biến chủ yếu là bằng phương pháp khô nên chất lượng và giá trị không cao. Ngành cà phê Việt Nam hiện nay có Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam với tên viết tắt là Vicofa với 78 thành viên. Trong đó Tổng công ty cà phê Việt Nam là thành viên lớn nhất và cũng như của ngành cà phê Việt Nam hiện nay.

Toàn ngành cà phê Việt Nam hiện nay có khoảng gần 200 đơn vị tham gia xuất khẩu cà phê trong đó có 78 đơn vị là thành viên của Vicofa. Mỗi năm toàn ngành cà phê xuất khẩu khoảng 850.000 tấn/năm với giá trị khoảng trên một tỷ USD và thu hút bình quân 600.000 lao động mỗi năm.

2.1.2. Thị trường xuất khẩu của cà phê Việt Nam.

Cùng với sự mở cửa phát triển kinh tế của đất nước, thị trường của cà phê xuất khẩu Việt Nam cũng được mở rộng. Tính đến năm 2008 cà phê Việt Nam đã xuất khẩu sang khoảng 75 nước trên thế giới, gồm 65 hãng. Nhưng thị trường chính của cà phê xuất khẩu Việt Nam tập chung chủ yếu vào mười thị trường chính. Trong đó EU là thị trường lớn nhất của cà phê Việt Nam, sau đó là Hoa Kỳ và các nước Châu Á.

Trong mười thị trường chính của cà phê xuất khẩu Việt Nam thì các nước Châu Âu chiếm tỷ trọng cao nhất và ổn định nhất. Thị trường này chiếm từ 14- 16% thị phần cà phê xuất khẩu Việt Nam mỗi năm. Thị trường Bắc Mỹ thì cà phê của Việt Nam chủ yếu xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ, đây cũng là thị trường lớn thứ hai của cà phê Việt Nam, với tỷ trọng chiếm từ 11-15% mỗi năm. Các thị trường khác của cà phê xuất khẩu Việt Nam là thị trường các nước Châu Á. Tuy nhiên các thị trường này có mức ổn định không cao.

2.1.3. Kết quả xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong thời gian qua.

2.1.3.1. Kim ngạch xuất khẩu.

Những năm trước đây cà phê là một ngành nhỏ có đóng góp khá kiếm tốn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên trong những năm gần đây nó đã vươn lên trở thành ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch lên tới 500 triệu USD lần đầu tiên vào năm 1995 và cho đến nay hàng năm kim ngạch xuất khẩu cà phê trung bình hàng năm vẫn giữ ở khoảng 700 triệu USD/năm.Từ năm 2006 đã đạt trên 1 tỷ USD,

Bảng 2.1Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam thời kỳ 2003 – 2007

Năm số lượng (Tấn) Tốc độ     tăng (%) Giá cả trung bình (USD) Giá trị (USD) Tốc độ tăng (%)
2003

749.240

635,59

504.814.000

2004

974.759

30

657,59

641.022.000

26,98

2005

892.367

-8,45

824,19

735.485.686

14,73

2006

980.878

9,91

1240,89

1.217.167.000

65,49

2007

1.074.000

9,49

1529.79

1.643.000.000

34,98

                                             Nguồn: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

      Qua bảng số liệu trên ta thấy xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong giai đoạn này có mức độ tăng cả vè số lượng và giá cả. Trung bình tăng 7,47%/năm về số lượng và  9,66%/năm về giá trị. Chỉ có niên vụ 2005-2006 sản lượng xuất khẩu giảm 8,45% nhưng giá trị xuất khẩu vẫn tăng 14,75% do giá trung bình của thế giới tăng. Tuy nhiên chúng ta cũng thấy rằng tốc độ tăng không ổn định cả về số lượng xuất khẩu và cả giá trị xuất khẩu qua các từng năm.

2.1.3.2. Giá cả.

Giá cà phê trên thị trường thế giới diễn biến rất phức tạp, đặc biệt là cà phê vối, cà phê chè có gía ổn định hơn rất nhiều. Nếu như trước đây giá cà phê chè chỉ cao hơn cà phê vối 0,5 lần thì hiện nay nó đã cao gấp 2 lần. Trong khi cà phê vối giá giảm mạnh thì cà phê chè lại tăng có khi lên tới 1800 – 2000 USD/tấn. Nguyên nhân chính đó là các nước sản xuất cà phê vối chưa có được chiến lược phát triển bền vững, mà Việt Nam là một minh chứng.

Bảng 2.2: Giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam (USD/tấn).

Năm

2004

2005

2006

2007

Giá cà phê thế Giới

768

551,3

1335

1718

Giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam

685,4

824,81

1260,8

1605

Nguồn: Tổng công ty cà phê Việt Nam

2.1.3.3. Cơ cấu và chủng loại.

Như đã nêu ở phần trên, cà phê của Việt Nam chủ yếu là cà phê vối. Mặt khác chúng ta xuất khẩu chủ yếu là cà phê nhân, cà phê chế biến theo giá trị chỉ chiếm khoảng 0,5%/năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cà phê Việt Nam.

Bảng 2.3: Cơ cấu chủng loại cà phê xuất khẩu của Việt Nam

Cơ cấu

Niên vụ 2005/2006

Niên vụ 2006/2007

Sản lượng (tấn) Tỷ trọng (%) Sản lượng (tấn) Tỷ trọng(%)
Cà phê nhân

785.146,773

99,8889

975.973

99,5

Cà phê hòa tan

869,705

0,11

4906,30

0,49

Khác

8,890

0,0011

98,087

0,01

Tổng

786.025,368

980.878

                                                            

Khối lượng xuất khẩu cà phê thành phẩm chỉ chiếm không đến 0,5% trong tổng khối lượng xuất khẩu của cà phê Việt Nam. Tuy nhiên nó có giá trị cao hơn nên giá bán cũng cao hơn nhiều so với cà phê nhân nên giá trị kim ngạch của nó chiếm tới gần 2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam. Qua đây ta thấy rằng việc tăng tỷ trọng cà phê chế biến trong cơ cấu xuất khẩu cà phê của Việt Nam là rất cần thiết. Tuy nhiên hiện nay cả nước chỉ có một số ít các cơ sở sản xuất chế biến cà phê thành phẩm xuất khẩu, trong đó đáng kể chỉ có Nhà máy chế biến cà phê Biên Hòa của Vinacafe và doanh nghiệp cà phê Trung Nguyên, một nhà máy của Nestle.

2.2. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ.

2.2.1. Đặc điểm thị trường Hoa kỳ về cà phê.

2.2.1.1. Tình hình tiêu thụ.

Hoa Kỳ là nước tiêu thụ và nhập khẩu cà phê lớn nhất thế giới Người Mỹ uống cà phê như người Việt Nam uống chè. Hoa Kỳ không trồng cà phê nên tất cả cà phê tiêu dùng ở Hoa Kỳ kể cả cà phê nguyên liệu đều từ nguồn nhập khẩu. Nhu cầu nhập khẩu cà phê của nước này tương đối ổn định mỗi năm trên 1 triệu tấn. Tuy nhiên, do giá cà phê thế giới thường biến động nên trị giá nhập khẩu cũng thường biến động theo. Theo Hiệp hội cà phê Mỹ (NCA) số người tiêu dùng cà phê của Mỹ không ngừng tăng lên, năm 2003 là 118 triệu người, đến năm 2007 đã lên tới 170 triệu người. Còn theo dự điều tra của NCA và FAO thì trung bình một người dân Hoa Kỳ tiêu uống 2 cốc cà phê mỗi ngày tương đương với 4- 5 kg/năm (năm 2007 là 4,26 kg/người). Giai đoạn 2003- 2007 mức tiêu thụ là 4,1 kg/người/năm thấp hơn giai đoạn 1997- 2002 (4,35 kg/người/năm).

Bảng 2.4: Trị giá nhập khẩu cà phê vào Hoa Kỳ

                                              Năm

Trị giá (tỷ USD)

% so với năm trước

2001

1,515

_

2002

1,524

100,59

2003

1,776

116,53

2004

2,064

116,21

2005

2,775

134,44

                                        Nguồn: Vụ quy hoạch – kế hoạch. Bộ NN&PTNT

      Nhu cầu tiêu dùng cà phê của thị trường Hoa kỳ vẫn tăng lên trong những năm vừa qua. Nếu so sánh với lượng tiêu thụ của các thị trường khác như EU và Châu Á thì ta thấy. Năm 2001 tiêu thụ cà phê của EU là 2340000 tấn còn Châu Á là 630000 tấn, năm 2003 tương ưng là 2505000 tấn và 756000 tấn. Như vậy Hoa kỳ vẫn là một thị trường tiêu thụ cà phê lớn của thế giới. Cùng với dân số và nền kinh tế tăng trưởng, nhu cầu của người dân Mỹ về hàng hóa nói chung và với cà phê nói riêng sẽ tăng lên.

2.2.1.2. Cung cà phê trên thị trường Hoa kỳ.

 

Hoa kỳ là một thị trường hấp dẫn đối với bất kỳ một quốc gia nào. Có thể nói thị trường Hoa Kỳ chấp nhận mọi loại hàng hóa. Chính vì vậy các quốc gia đều thúc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của mình vào thị trường này nếu có thể. Cà phê là mặt hàng mà được người dân Mỹ sử dụng nhiều và nó như là một loại đồ uống thông dụng ở đây giống như trà ở Nhật Bản. Mặt khác ở Mỹ còn có trung tâm giao dịch cà phê lớn của thế giới, đó là trung tâm giao dịch cà phê NewYork. Vì vậy có rất nhiều nước xuất khẩu cà phê vào thị trường Hoa Kỳ, trong đó phải kể đến các quốc gia như Colombia 17%, Việt Nam 14%, Braxin 15%, Guatemala 11%, Mehico 10%, Indonesia 9%…Như vậy cà phê Việt Nam có một vai trò lớn trên thị trường cà phê của Hoa kỳ. Tuy có nhiều quốc gia xuất khẩu cà phê vào Hoa Kỳ nhưng không phải tất cả chúng cạnh tranh với nhau mà thường các quốc gia này cạnh tranh với những sản phẩm cùng loại với nhau. Như Việt Nam, chúng ta không phải cạnh tranh với tất cả các quốc gia trên mà chủ yếu là cạnh tranh với Indonesia, Braxin và một số nước Châu Phi khác.

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Đề tài Đại học và được gắn thẻ , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s