Phân loại hàng hóa và kiểm tra sau thông quan đối với ô tô. Thực trạng và giải pháp.


Lời mở đầu

Năm 1945 Cách mạng tháng 8 thành công, Hồ Chủ tich đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà. Tuy nhiên, sau đó Việt Nam vẫn phải tiếp tục trải qua 30 năm chiến tranh ác liệt và 27 năm thử thách trong thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh.

Với cái tên đầu tiên là “Sở Thuế quan và thuế gián thu” được thành lập với mục đích đảm bảo việc kiểm soát hàng hoá xuất nhập khẩu và duy trì nguồn thu ngân sách Hải quan Việt Nam không ngừng chăm lo xây dựng, hoàn thiện và nâng cao cơ sở pháp lý – quản lý Nhà nước để ngày càng phù hợp hơn với thực tiễn của nước Việt Nam. Từ chỗ Hải quan Việt Nam còn phải tạm thời sử dụng những quy định nghiệp vụ về thuế quan của chính quyền thực dân đến nay đã xây dựng và ban hành được “Điều lệ Hải quan”, Pháp lệnh Hải quan và tiếp đó là Luật Hải quan Việt Nam có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2002.

Với những mục tiêu nhằm tạo thuận lợi cho phát triển xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển du lịch và giao thương quốc tế, đảm bảo quản lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Hải quan Việt Nam đã luôn luôn thực hiện theo khẩu hiệu mà mình đã đặt ra.

Trong các công tác hoạt động của Hải Quan Việt Nam thì công tác phân loại hàng hóa và hậu kiểm là giải pháp cải cách hành chính của Hải quan mà mục tiêu lớn nhất là tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp, chỉ có thông quan nhanh, với chi phí thấp nhất, Hải quan mới thật sự góp phần vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam. Nước ta ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, nhất là từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Tình hình đó đặt ra cho Hải quan Việt Nam nhiều nhiệm vụ bức thiết, đòi hỏi ngành hải quan phải làm một cuộc “cách mạng”, chuyển từ kiểm tra hàng hóa trước khi thông quan sang kiểm tra sau thông quan (hậu kiểm).

Thực tế cho thấy, lực lượng phân loại hàng hóa và kiểm tra sau thông quan đang ngày càng đáp ứng tốt các yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế và nhiệm vụ chống thất thu cho ngân sách Nhà nước. Chỉ có thông quan nhanh, với chi phí thấp nhất, Hải quan mới thật sự góp phần vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.

Trong nội dung của đề án này tôi xin trình bày về phân loại hàng hóa và kiểm tra sau thông quan đối với hàng ô tô, thực trạng và giải pháp. Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Xuân Hương đã hướng dẫn tôi hoàn thành đề án này. Do bị giới hạn về thời gian và thông tin, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng đề án không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp của cô.

 

Chương 1: Cơ sở lý luận về phân loại hàng hóa và kiểm tra

sau thông quan

1.1. Phân loại hàng hóa

1.1.1. Khái quát về phân loại sản phẩm, hàng hóa và ý nghĩa của việc phân loại

1.1.1.1. Sản phẩm

a. Sản phẩm là gì?

Có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về sản phẩm, đó là:

– Theo định nghĩa tiêu chuẩn ISO 8402 thì: Sản  phẩm là kết quả của các hoạt động hoặc các quá trình.

– Theo luật chất lượng sản phẩm ( Số 05/2007/QH12): Sản phẩm là kết quả của các quá trình sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhằm mục đích kinh doanh hoặc tiêu dùng.

Sản phẩm có thể là vật chất hay phi vật chất, sản phẩm được làm ra để thỏa mãn các nhu cầu của cuộc sống xã hội. Do vậy sản phẩm phải có khả năng thỏa mãn nhu cầu và tạo cho nó tính hữu ích hay giá trị sử dụng. Có thể phân chia tính chất của sản phẩm theo các tiêu thức sau:

– Theo tính chất mục đích: Tính chất này quyết định công dụng chính của sản phẩm nhằm thỏa mãn loại nhu cầu nào đó. Ví như thực phẩm thì có chất dinh dưỡng và không độc với cơ thể…Sự khác nhau của nhóm tính chất tạo ra các loại sản phẩm khác nhau về mục đích sử dụng với tên gọi khác nhau.

– Theo tính chất điều kiện: Các tính chất này liên quan đến điều kiện sử dụng, thể hiện quy cách sản phẩm, làm cho sản phẩm có thể thích hợp với những hoàn cảnh sử dụng cụ thể. Nhờ tính chất điều kiện mà cùng một mục đích sử dụng thỏa mãn một loại nhu cầu, vẫn có nhiều sản phẩm khác nhau để lựa chọn. Các đặc trưng về kích thước, khối lượng, tính năng của  sản phẩm phần lớn thuộc tính chất nầy.

– Theo tính chất kĩ thuật, kinh tế, xã hội: Đây là nhóm tính chất liên quan đến trình độ chế tạo sản phẩm, mức độ thỏa mãn nhu cầu, hiệu quả sử dụng và mức độ phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội tiêu dùng của sản phẩm. Đây cũng là nhóm tính chất quan trọng nhất liên quan tới chất lượng hàng hóa.

– Theo tính chất cảm nhận: Đây là tính chất trên sản phẩm mà nhờ nó tạo ra sự hấp dẫn người  tiêu dùng khi sủ dụng, chúng tạo ra cảm giác thích thú, thỏa mãn, hãnh diện khi sử dụng sản phẩm. Đó là các tính chất liên quan đến tính thẩm mỹ, hiện đại sang trọng của sản phẩm. Đây là nhóm tính chất quyết định khả năng tiêu thụ của nhiều loại sản phẩm. Do vậy, với một số sản phẩm nhóm tính chất cảm nhận chiếm tới 60-90% giá trị sản phẩm. Việc khai thác thị hiếu của người tiêu dùng làm cho nhóm tính chất này không đổi và tăng lên không ngừng. Các tính chất cảm nhận còn phụ thuộc thương hiệu sản phẩm, tâm lý thị hiếu người mua và các dịch vụ khác sau khi bán hàng. Tổ hợp các tính chất nêu trên tạo ra các đặc tính sản phẩm cụ thể, phản ánh khả năng sản phẩm đó thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng.

Như vậy, khi định đưa 1 sản phẩm ra thị trường ta phải biết được sản phẩm đó đáp ứng được nhu cầu gì của người tiêu dùng, họ chỉ mua sản phẩm khi nó giải quyết được một vấn đề của họ. Khách hàng cần lợi ích mà sản phẩm đem lại cho họ chứ không phải là bản thân sản phẩm đó.

Khi đưa ra thị trường, ngoài công dụng thì ta còn phải chú ý đến những yếu tố khác của sản phẩm để tăng khả năng nhận biết cho khách hàng và khả năng cạnh tranh cho sản phẩm là bao bì, đặc điểm, kiểu dáng, tên hiệu, chất lượng và giá. Thông thường những yếu tố này được tính chung vào 1 chiến lược sản phẩm để tạo thành 1 hình ảnh trong lòng khách hàng mà ta hay gọi là thương hiệu. Một số yếu tố gắn liền đến sản phẩm như tên hiệu, bao bì và dịch vụ khách hàng kèm theo.

b, Hệ hàng:

Chuỗi hệ hàng (Product line) là 1 nhóm những sản phẩm có liên hệ mật thiết với nhau, hoặc vì chúng hoạt động theo 1 cách tương tự, được bán cho cùng một giới khách hàng, được đưa vào thị trường theo cùng những ngả như nhau, hoặc xếp chung 1 mức giá bán nào đó. Như vậy Kymdan sản xuất 1 chuỗi hàng các tấm nệm nằm, Toyota sản xuất 1 hệ các xe hơi. Đa số các công ty đều có 1 Giám đốc cấp cao để quản lý mỗi hệ hàng này.

Những yếu tố quan trọng nhất của 1 hệ hàng là chiều dài chuỗi (hệ) hàng, đặc điểm và việc hiện đại hoá chuỗi.

1 chuỗi hệ hàng được cho là quá dài khi ta có thể tăng lợi nhuận bằng cách loại bớt món hàng, và ngược lại sẽ là quá ngắn khi ta có thể thêm lợi nhuận bằng cách thêm những món hàng mới.

Vấn đề độ dài của chuỗi hàng phụ thuộc vào mục tiêu của công ty. Nếu công ty chủ trương giữ khả năng sinh lợi cao thì công ty sẽ chỉ giữ lại những sản phẩm đắt khách, còn nếu công ty đang tìm kiếm thêm thị phần thì sẽ có hệ hàng dài hơn (như Vifon muốn thâm nhập thị trường đồ chay nên có thêm mỳ chay, Honda sản xuất thêm dòng xe máy Wave giá rẻ cạnh tranh với xe Trung Quốc).

Theo thời gian, dưới áp lực của lực lượng bán hàng và phân phối, khả năng sản xuất, các công ty sẽ có thêm những món hàng mới để tăng doanh số và có thêm lợi nhuận. Do đó hệ hàng sẽ dài ra.

Đặc điểm của hệ hàng cũng có ảnh hưởng không ít đến hệ hàng, đặc điểm này được tạo ra bởi 1 hay 1 vài món hàng tiêu biểu trong chuỗi (hệ) hàng. Như xe Rolls- Royce có giá từ 80.000- hơn 100.000 $ đã định hình xe hơi Rolls-Royce là hệ xe hơi sang trọng.

c) Phổ hàng:

Phổ hàng (product mix) còn được gọi là quần loại sản phẩm (Product assortment), là tập hợp mọi hệ mặt hàng và món hàng của 1 người bán cống hiến để bán cho người mua. Như thế phổ hàng của Honda có 2 hệ hàng lớn là: xe máy và xe hơi, phổ hàng của Avon có 4 hệ hàng lớn: mỹ phẩm, nữ trang, đồ thời trang và đồ gia dụng.

Phổ hàng được xem xét theo chiều dài, chiều rộng, chiều sâu và tính đồng nhất. Chiều dài là tổng số món hàng của công ty, chiều rộng là số lượng các hệ mặt hàng, chiều sâu là số mẫu khác nhau (dạng, biến thể) của mỗi sản phẩm trong mặt hàng ví dụ dầu gội Clear có 4 loại công thức và 4 cỡ vậy Clear có chiều sâu là 16. Tính đồng nhất là nói đến mối liên quan giữa các hệ hàng về sử dụng, các yêu cầu trong sản xuất, các hệ thống phân phối hay các mặt khác.

1.1.1.2. Hàng hóa

Hàng hóa là sản phẩm được đưa vào thị trường tiêu dùng thông qua trao đổi, mua bán, tiếp thị…Sản phẩm hàng hóa vật chất thường có các dấu hiệu sau:

– Có dạng cụ thể, có đơn vị sản phẩm.

– Tách biệt quá trình sản  xuất, chế tạo với quá trình sử dụng.

– Có thể giữ gìn, vận chuyển được.

Mỗi loại sản phẩm, hàng hóa đều có vòng đời và tồn tại trên thị trường một thời gian, sau đó sẽ được thay thế bằng sản phẩm khác ưu việt hơn. Việc tạo ra sản phẩm mới thay thế sản phẩm cũ theo một chu trình, gồm các giai đoạn sau:

– Nghiên cứu, thiết kế

– Chế tạo sản phẩm

– Phân phối, tiêu thụ sản phẩm

– Tiêu dùng

1.1.1.3. Ý nghĩa của việc phân loại hàng hóa

Việc phân chia hàng hóa theo những dấu hiệu đặc trưng và sắp xếp chúng theo một trật tự thành hệ thống là một yêu cầu tất yếu. Qua phân loại tổng thể hàng hóa được phân chia lần lượt theo nhiều dấu hiệu đặc trưng khác nhau, được tính toán kĩ theo một trình tự kế tiếp logic từ cao đến thấp, từ tổng quát đến cụ thể tạo nên một hệ thống phân bổ hợp lý nhiều bậc. Qua phân loại, tổng thể hàng hóa được phân chia thành ngành hàng, lớp hàng, nhóm hàng, loại hàng…nếu tiếp tục mãi có thể đến từng tên hàng cụ thể, cá biệt với đầy đủ các đặc trưng của chúng.

Để chỉ ra các bậc phân loại từ cao xuống thấp có thể dùng các thuật ngữ sau:

Ngành hàng => Phân ngành => Nhóm hàng =>Phân nhóm => Loại => Kiểu => Dạng

Việc phân loại hàng hóa có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa. Nó liên quan trực tiếp đến các nghiệp vụ thống kê, kế hoạch, kế toán…

Việc phân loại hàng hóa cho phép bao quát được toàn bộ hàng hóa, khả năng xem xét, phân tích có hệ thống toàn bộ danh mục hàng hóa, đánh giá tình hình cơ cấu hàng hóa trong từng nhóm hàng, loại hàng theo từng nhu cầu để có biện pháp xử lý phù hợp, tạo điều kiện khái quát hóa và phân tích những yêu cầu chất lượng hàng hóa. Các phương pháp đánh giá chung và cụ thể chất lượng hàng hóa có tác dụng tốt cho chăm sóc và bảo quản hàng hóa theo đặc điểm từng nhóm hàng, loại hàng, theo đặc điểm nguyên vật liệu sử dụng để gia công sản xuất cũng như theo ý nghĩa và giá trị của hàng hóa.

Phân loại hàng hóa đảm bảo tính trật tự, tính hệ thống, hợp lý trong kết cấu danh mục hàng hóa, tạo kiều kiện để hợp lý hóa các hoạt động sản xuất kinh doanh như tổ chức, bố trí cơ sở kinh doanh, tổ chức mặt hàng, tổ chức mua bán vận chuyển bảo quản hàng hóa…mang lại hiệu quả chung cho kinh doanh, tiêu dùng hàng hóa.

Nói chung một sự phân loại hàng hóa đúng có tác dụng tích cực đến nhiều mặt hoạt động xã hội: nghiên cứu, học tập, sản xuất, lưu thông, tiêu dùng cũng như cho các hoạt động quản lý nói chung.

1.1.2. Yêu cầu và nguyên tắc phân loại sản phẩm, hàng hóa

1.1.2.1. Yêu cầu phân loại sản phẩm, hàng hóa

Một hệ thống phân loại hoàn chỉnh phải đảm bảo đc các yêu cầu: Có cơ sở  khoa học, phù hợp với thực tiễn và áp dụng thuận tiện

– Cơ sở khoa học của hệ thống phân loại hể hiện ở tính bao quát được toàn bộ danh mục hàng hóa, sự phân bố mạch lạc theo trình tự kế tiếp logic, tránh trùng lặp hoặc bỏ sót danh mục. Đảm bảo thuận tiện cho việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại trong tập hợp, tính toán, thông tin.

– Phù hợp với thực tế tức là phải phù hợp với tình hình và điều kiện kinh tế xã hội tức là phải xuất phát từ yêu cầu xã hội, đường lối và phương hướng phát triển kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường và xu hướng phát triển nhu cầu tiêu dùng xã hội.

– Áp dụng thuận tiện làm cho hệ thống phân loại trở thành hiện thực, phát huy tác dụng mang lại hiệu quả trong thực tế cuộc sống. Nếu không đáp ứng được yêu cầu này thì hệ thống phân loại được đề xuất chỉ dừng lại ở phương án bất khả thi.

Hệ thống phân loại phải ổn định trong thời gian thích hợp: hệ thống phân loại liên quan đến nhiều biểu loại biểu mẫu, sổ sách của nghiệp vụ khác nhau nên nếu không ổn định sẽ gây ra nhiều khó khăn. Muốn ổn đinh hệ thống phân loại phải có tính bao quát lớn gồm những hàng hóa đang có và có chỗ dự trữ cho những hàng hóa mới. Nếu không có tính bao quát thì hệ thống phân loại sẽ bị phá vỡ nếu có hàng hóa mới.

1.1.2.2. Nguyên tắc phân loại sản phẩm, hàng hóa

– Phải xác định mục đích khi xây dựng hệ thống phân loại hàng hóa: Phân loại để làm gì? Phân loại để tổ chức sản xuất, tổ chức tiêu thụ, để tổ chức bảo quản…mỗi hệ thống phân loại chỉ phục vụ một mục đích nhất định và tùy theo đó mà lựa chọn dấu hiệu ở mỗi khâu phân loại và số bậc phân loại của hệ thống. Các hệ thống phân loại sử dụng cho các mục đích khác nhau sẽ khác nhau. Vì vậy tồn tại hệ thống phân loại dùng trong thống kê, kế hoạch, nghiên cứu,vận chuyển, kế hoach, bảo quản…

– Trong mỗi khâu phân loại hàng hóa chỉ được phân chia theo một dấu hiệu duy nhất: phải giữ nguyên dấu hiệu phân loại trong suốt quá trình, không được thay đổi nửa chừng nếu thay đổi sẽ gây ra sự lộn xộn, hệ thống phân loại sẽ không đảm bảo tính logic

– Việc dùng các dấu hiệu trong hệ thống cần tuân thủ nguyên tắc: dấu hiệu mang tính khái quát dùng ở bậc cao (những khâu phân loại đầu tiên và có nhiều loại hàng hóa ), dấu hiệu mang tính cụ thể dùng ở bậc thấp (những khâu sau và có số ít hàng hóa).

1.1.3. Tiêu thức phân loại sản phẩm, hàng hóa. Phân loại sản phẩm, hàng hóa theo tiêu chuẩn quốc tế.

1.1.3.1 Tiêu thức phân loại sản phẩm hàng hóa

Tiêu thức phân loại sản phẩm hàng hóa là những đặc trưng của sản phẩm hàng hóa được chọn làm căn cứ để phân chia tập hợp hàng hóa sản phẩm thành những bộ phận, những tập hợp tương ứng trong quá trình phân loại.

Các tiêu thức phân loại chủ yếu:

– Thứ 1: Với hàng hóa tiêu dùng thường sử dụng các tiêu thức phân loại: công dụng, nguyên vật liệu, đặc điểm gia công sản xuất, đối tượng, thời gian sử dụng, kiểu mốt sản phẩm, màu sắc, cấp hạng, chất lượng trong đó công dụng là tiêu thức quan trọng nhất (thể hiện ở nhiều cung bậc khác nhau ở dạng tổng hợp và dạng cụ thể theo chức năng cơ bản của sản phẩm). Do đó dấu hiệu này được áp dụng cho nhiều bậc khác nhau trong hệ thống phân loại.

– Thứ 2: Với hàng hóa thuộc lĩnh vực kinh doanh, tiêu dùng sản phẩm thì tiêu thức công dụng sản phẩm thường được sử dụng ở các bậc cao trong hệ thống phân loại

– Thứ 3: Với hàng hóa thuộc lĩnh vực sản xuất thì nguyên vật liệu và công nghệ sản xuất là tiêu thức quan trọng.

– Thứ 4: Với nhóm sản phẩm trang bị và phục vụ trực tiếp cho từng cá nhân con người trong tiêu dùng thì đối tượng sử dụng là tiêu thức phân loại quan trọng, ngoài ra còn có kiểu mốt, cỡ số, màu sắc của sản phẩm là các tiêu thức luôn gắn liền ở các cấp bậc tiếp theo.

Ngoài ra còn có cấp, hạng sản phẩm là tiêu thức phân loại cần quan tâm

– Phân cấp là phân loại hàng hóa theo dấu hiệu đặc trưng là giá trị sản phẩm ví dụ như đồ gỗ cao cấp và đổ gỗ phổ thông…

– Phân hạng hàng hóa dựa theo mức chất lượng sản phẩm để phân loại như hạng 1,2 hay thượng hạng, hảo hạng…

1.1.3.2. Phân loại sản phẩm hàng hóa theo tiêu chuẩn quốc tế

– Phân loại sản phẩm hàng hóa theo tiêu chuẩn quốc tế là việc căn cứ vào tên gọi, mô tả về tính chất, thành phần cấu tạo, công dụng, quy cách đóng gói và các thuộc tính khác của hàng hóa thể các định, sắp xếp hàng hóa vào một mã số nhất định theo hệ thống hài hòa mô tả và mã hàng hóa

“ Công ước quốc tế về hệ thống hài hòa mô tả và mã hàng hóa” -gọi tắt là công ước HS

– Hệ thống hài hòa mô tả và mã hàng hóa HS bao gồm các quy tắc tổng quát, các chú giải bắt buộc và danh sách những nhóm hàng (mã 4 chữ số), phân nhóm hàng (mã 6 chữ số) đc sắp xếp một cách có hệ thống ứng với tên, mô tả và mã số hàng hóa

– Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam được xây dựng  trên cơ sở áp dụng đầy đủ hệ thống hài hòa gồm: các quy tắc tổng quát, chú giải bắt buộc và danh mục hàng hóa được chi tiết ở cấp mã tối thiểu (8 chữ số), đơn vị tính và các nội dung kèm theo trong đó

+ 6 chữ số đầu tuân thủ danh mục HS

+ Các chữ số tiếp theo là mã chi tiết cấp quốc gia được mở rộng theo yêu cầu quản lý nhà nước

– Từ ngày 1/1/2007 việc phân loại quốc tế hàng hóa, dịch vụ sẽ áp dụng theo bảng phân loại NICE IX và việc áp dụng này là phù hợp với bảng phân loại mà tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WTO đang áp dụng.

1.1.4 Bậc phân loại và kí mã hàng hóa

1.1.4.1 Bậc phân loại

– Hệ thống phân loại hàng hóa thường bao gồm nhiều bậc, mỗi bậc được coi là một điểm dừng trong hệ thống phân loại khi chuyển từ dấu hiệu sang dấu hiệu phân loại kế tiếp. Trong bậc phân loại cơ sở, ở bậc này hàng hóa thể hiện những đặc trưng cơ bản nhất của mình, có được tên gọi riêng lẻ để phân biệt với các sản phẩm tương tự cùng bậc, được coi như kết thúc quy trình công nghệ cơ bản. Trên bậc cơ bản hàng hóa còn nằm ở dạng một tập hợp dù nhỏ, dưới bậc cơ sở hàng hóa được mô tả chi tiết hơn qua những dấu hiệu cá biệt, chi tiết, bổ sung. Bậc cơ sở cũng là bậc phân loại cần đạt tới của bất cứ hệ thống phân loại hàng hóa nào.

– Số lượng bậc trong hệ thống phân loại phải có giới hạn hợp lý, phải cân đối số bậc cho hợp lý, không nên ít bậc quá và cũng không được nhiều bậc quá sẽ gây cồng kềnh. Mỗi bậc phân loại hàng hóa có tên gọi riêng phản ánh được vị trí, quy  mô của tập hợp hàng hóa ở bậc đó và để phân biệt với các bậc khác.

– Thường người ta dùng các tên để mô tả các bậc từ cao đến thấp như sau:

Tổng thể hàng hóa tiêu dùng => Ngành hàng (và phân ngành) =>Lớp (và phân lớp) =>Nhóm (và phân nhóm) =>Loại => Loại hàng thường được đặt cho bậc cơ sở.

1.1.4.2. Kí mã hàng hóa

– Cùng với phân loại thường tiến hành ký mã hàng hóa – là phương tiện phân loại bổ sung, làm cho hệ thống phân loại trở nên dễ nhận biết hơn, đảm bảo tiện lợi trong kinh doanh, trong tính toán thông tin. Có thể kí mã hàng hóa bằng nhiều hệ thống số và chữ, kết hợp cả số và chữ…Phổ biến nhất và thông dụng nhất là kí mã hàng hóa bằng hệ thống toàn số. Mỗi bậc phân loại có lượng con số giống nhau. Mỗi tập hợp hàng hóa, mỗi đơn vị hàng hóa mang một con số các biệt cho riêng mình, phản ánh mối quan hệ dọc theo bậc và quan hệ ngang cùng một bậc. Dùng hệ thống kí mã hàng hóa toàn bằng số và giới hạn trong hệ thống thập phân là thuận tiện nhất.

– Tổng thể hàng hóa chia ra ko quá 9 ngành và mỗi ngành chia ra không quá 9 phân ngành cho đến mỗi nhóm chia ra  không quá 9 loại hàng. Sau bậc cơ sở mang tên loại hàng, cần chi tiết hóa 1 số bậc thấp hơn và mỗi bậc cũng phải giữ theo 1 giới hạn đó. Như vậy hệ thống phân loại hàng hóa gồm n bậc và bậc 1 khởi đầu thì số đơn vị hàng hóa ở bậc thấp nhất ( bậc n) sẽ là: K=9n-1

1.2. Kiểm tra sau thông quan

1.2.1 Khái quát về kiểm tra sau thông quan

1.2.1.1 Khái niệm

Kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra của cơ quan Hải Quan nhằm thẩm định tính chính xác, trung thực của nội dung các chứng từ mà chủ hàng hóa hoặc người được ủy quyền, tổ chức, cá nhân trực tiếp xuất khẩu đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan Hải Quan để ngăn chặn, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về hải quan, gian lận thuế, vi phạm chính sách quản lý xuất nhập khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan.

1.2.1.2 Tác dụng của kiểm tra phân loại hàng hóa sau thông quan

Do sự tồn tại khách quan của những nguyên nhân vi phạm pháp luật về hải quan nên kiểm tra sau thông quan nhằm phát hiện, xử lý các vi phạm pháp luật về hải quan. Hơn thế nữa, kiểm tra sau thông quan còn giúp bổ sung cho những khiếm quyết của quá trình thông quan hải quan.

1.2.1.3 Nghĩa vụ và quyền của các bên kiểm tra sau thông quan

1.2.1.3.1 Nghĩa vụ và quyền của người kiểm tra

* Nghĩa vụ

– Xuất trình quyết định kiểm tra và chứng minh thư hải quan

– Thực hiện đúng trình tự kiểm tra, thủ tục kiểm tra

– Tuân thủ pháp luật, đảm bảo tính khách quan, chính xác

– Không đưa ra các yêu cầu trái pháp luật, gây khó khăn, phiền hà cho đơn vị được kiểm tra, các tổ chức, cá nhân có liên quan

– Không cố ý kết luận sai sự thật

– Báo cáo người ký quyết định kiểm tra sau thông quan và kiến nghị các biện pháp giải quyết các kết quả kiểm tra

– Chịu trách nhiệm trước pháp luật về biên bản kết luận kiểm tra

– Chấp hành quy chế bảo mật, quản lý và sử dụng đúng mục đích các chứng từ, tài liệu được cung cấp.

* Quyền của người kiểm tra

– Yêu cầu đơn vị được kiểm tra xuất trình các chứng từ, sổ sách kế toán, các chứng từ khác liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan

– Kiểm tra thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

– Lập biên bản kết luận kiểm tra, biên bản vi phạm đối với trường hợp có vi phạm pháp luật và kiến nghị biện pháp giải quyết

– Áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật

1.2.1.3.2 Nghĩa vụ và quyền của đơn vị bị kiểm tra

* Nghĩa vụ

– Cử người có thẩm quyền làm việc với đoàn kiểm tra

– Tạo điều kiện để người kiểm tra thi hành công vụ

– Cung cấp đầy đủ các chứng từ, sổ sách kế toán và các chứng từ khác có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo yêu cầu của người kiểm tra

– Đơn vị được kiểm tra phải chấp hành các quy định về kiểm tra sau thông quan, quyết định kiểm tra, biên bản kết luận kiểm tra

– Không cản trở hoạt động kiểm tra dưới mọi hình thức

* Quyền của đơn vị bị kiểm tra

– Yêu cầu người kiểm tra xuất trình quyết định kiểm tra, chứng minh thư hải quan

– Từ chối việc kiểm tra nếu quyết định không đúng với quy định của pháp luật

– Khiếu nại, tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật của người kiểm tra trong quá trình kiểm tra

– Được giải trình về biên bản kết luận kiểm tra, kiến nghị về biện pháp giải quyết của người kiểm tra

– Nhận biên bản kết luận kiểm tra

– Yêu cầu cơ quan Hải Quan bồi thường thiệt hại do việc xử lý kết quả kiểm tra không đúng pháp luật gây ra

1.2.1.4 Tính chất pháp lý của kiểm tra sau thông quan

– Cục trưởng Cục hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố  trực thuộc trung ương quyết định kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan của các tổ chức, cá nhân hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu có trụ sở đăng kí và mã số thuế trong phạm vi, địa bàn quản lý của mình.

– Đối với trường hợp nội dung kiểm tra phức tạp, liên quan đến nhiều đối tượng, dấu hiệu vi phạm liên quan đến phạm vi quản lý của nhiều Cục Hải quan tỉnh, thành phố thì Tổng cục trưởng Tổng cục Hải Quan ra quyết định kiểm tra sau thông quan

1.2.2 Kiểm tra sau thông quan

1.2.2.1 Đối tượng chịu kiểm tra sau thông quan

Đối tượng kiểm tra sau thông quan là các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan, chứng từ kế toán, sổ sách kế toán, báo cáo tài chính, các dữ liệu điện tử và các giấy tờ khác liên quan đến lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu của các tổ chức, cá nhân.

1.2.2.2 Phạm vi kiểm tra sau thông quan

* Việc kiểm tra sau thông qua chỉ được tiến hành khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan

Dấu hiệu vi phạm pháp luật cụ thể là:

– Khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan không hợp lệ theo quy định về hình thức, nội dung ghi chép, trình tự thời gian

– Khi phát hiện có dấu hiệu khai trị giá tính thuế không hợp lý, không đúng chế độ quy định về quản lý giá tính thuế nhà nước như:

+ Khai sai giá tính thuế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, giá thực tế phải thanh toán hoặc đã thanh toán

+ Phương thức và thời gian thanh toán thực tế không phù hợp với việc khai trên hồ sơ hải quan và không đúng với quy định của nhà nước

+ Bất hợp lý trong việc khai phương thức vận tải, phương tiện vận tải, quãng đường vận tải, tuyến đường vận tải, cước phí vận tải

+ Bất hợp lý trong việc khai phương thức vận tải

– Thông tin về xuất xứ, giấy chứng nhận xuất xứ (C/O)

– Có dấu hiệu gian lận trong việc hưởng ưu đãi về chính sách thuế, gian lận thương mại

– Lô hàng có dấu hiệu vi phạm các chính  sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của nhà nước

– Có thông tin về nội dung kết luận của giám định, kết quả phân tích, phân loại lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu

– Có dấu hiệu nghi vấn khác

* Trước và trong quá trình kiểm tra sau thông quan, cơ quan hải quan phải làm việc với các cơ quan như: thuế, ngân hàng, bảo hiểm, giám định, vận tải, giao nhận…để đối chiếu, thẩm tra, xác minh tính chính xác của các chứng từ, tài liệu thuộc lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan.

* Trường hợp cần thiết đối với số hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan còn lưu giữ tại đơn vị được kiểm tra hoặc tổ chức, cá nhân khác có liên quan thì cơ quan hải quan tiến hành kiểm tra thực tế hàng hóa để có kết luận chính xác nội dung kiểm tra.

1.2.2.3 Thời hạn kiểm tra sau thông quan

– Trong thời hạn 5 năm kể từ ngày thông quan người có thẩm quyền được quyền ra quyết định kiểm tra sau thông quan

– Quyết định kiểm tra sau thông quan được thông báo bằng văn bản cho đơn vị được kiểm tra ít nhất 05 ngày làm việc trước khi tiến hành kiểm tra

– Thời hạn kiểm tra trực tiếp tại đơn vị tối đa 05 ngày làm việc

– Nếu hết thời hạn kiểm tra mà chưa thực hiện xong có thể được gia hạn nhưng không quá 05 ngày làm việc và chỉ được gia hạn 1 lần.

1.2.2.4 Nội dung của kiểm tra sau thông quan

– Kiểm tra tính chính xác, trung thực của những nội dung đã được kê khai trên tờ khai hải quan, những chứng từ đã được xuất trình, nộp cho cơ quan hải quan, các chứng từ, sổ sách kế toán liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan

– Kiểm tra hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan, nếu hàng hóa đó còn đang được lưu giữ tại đơn vị được kiểm tra

– Kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, chính sách quản lý xuất khẩu, nhập khẩu, các quy định của pháp luật về thủ tục hải quan

1.2.2.5 Quy trình nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan

Kiểm tra sau thông quan gồm các bước:

Bước 1 – Chuẩn bị kiểm tra

– Căn cứ thông tin thu thập được, lập kế hoạch kiểm tra nêu rõ mục đích, yêu cầu kiểm tra, nội dung kiểm tra, phạm vi kiểm tra, thời gian thực hiện kiểm tra

– Dự kiến nhân sự đoàn kiểm tra và trưởng đoàn kiểm tra phù hợp với yêu cầu công việc

– Chuẩn bị tài liệu liên quan cho cuộc kiểm tra và nghiên cứu hồ sơ

– Tiến hành xác minh một số thông tin, tài liệu có liên quan

– Cơ quan Hải quan có thể mời đơn vị được kiểm tra đến trụ sở cơ quan hải quan để giải trình, làm rõ dấu hiệu vi phạm do cơ quan Hải quan phát hiện được. Nếu đủ cơ sở kết luận về dấu hiệu vi phạm này thì không phải tiến hành kiểm tra sau thông quan tại đơn vị được kiểm tra.

Bước 2 – Ban hành  quyết định kiểm tra sau thông quan và quy định thời hạn kiểm tra sau thông quan

– Ban hành quyết định kiểm tra sau thông quan với các nội dung:

+  Căn cứ pháp lý và lý do kiểm tra

+ Nội dung và phạm vi kiểm tra

+ Thời hạn kiểm tra

+ Trưởng đoàn và các thành viên đoàn kiểm tra (gọi tắt là người được kiểm tra)

– Quyết định kiểm tra sau thông quan được thông báo bằng văn bản

 

– Quyết định gia hạn thời gian kiểm tra sau thông quan

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Đề tài Đại học và được gắn thẻ , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s