Xuất khẩu lao động sang thị trường Trung Đông tại công ty Cổ Phần Tiến Bộ Quốc Tế (AIC) – Thực trạng và giải pháp


LỜI MỞ ĐẦU

Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới diễn ra và đang để lại những hậu quả rất nghiêm trọng. Dư luận thế giới hiện nay có những đánh giá khác nhau về diễn biến, mức độ của cuộc khủng hoảng và những ảnh hưởng đối với những lĩnh vực khác. Ngày 8-3-2009, ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra báo cáo nhận định về cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế toàn cầu hiện nay, đã khẳng định: “ GDP toàn cầu trong năm 2009 sẽ giảm mạnh nhất trong vòng 60 năm qua “.Theo WB, sản lượng công nghiệp toàn cầu 6 tháng đầu năm 2009 sẽ ít hơn 15% so với cùng kỳ năm 2008. Giá trị trao đổi thương mại toàn cầu ở mức thấp nhất trong 80 năm qua. Cuộc khủng hoảng lần này gây thiệt hại cho cả các nước phát triển và đang phát triển.

Cũng như hầu hết các nước đang phát triển khác trên thế giới, nền kinh tế Việt Nam cũng chịu những hậu quả nặng nề của cuộc khủng hoàng tài chính thế giới, trong đó vấn đề việc làm và xuất khẩu lao động (XKLĐ) của Việt Nam trong năm 2009 cũng là một vấn đề sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Điều này đặt các doanh nghiệp và người lao động vào thế bị động. Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn – Tổng GĐ Công ty Cổ Phần Tiến Bộ Quốc Tế (AIC) đã cho biết: “ Một số đối tác đã dừng tiếp nhận lao động mặc dù đã ký hợp đồng. Khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất là các công xưởng ở Đài Loan, Malaysia…Hiện khoảng 200 lao động có khả năng bị về nước trước thời hạn hợp đồng và AIC đang tìm mọi cách để đảm bảo quyền lợi cho người lao động”. Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động khác cũng không tránh khỏi tình trạng trên. Số đơn hàng mới đề nghị cung ứng lao động Việt Nam bắt đầu giảm, thậm chí có doanh nghiệp đã tuyển xong lao động nhưng đối tác lại yêu cầu lùi thời gian đưa lao động sang.

Ông Vũ Đình Toàn – Trưởng ban Quản lý lao động Việt Nam (LĐVN) ở Malaysia cũng cho biết: “ Không chỉ ở các doanh nghiệp sản xuất có quy mô nhỏ, một số nhà máy lớn ở Malaysia cũng bắt đầu bị ảnh hưởng, LĐVN bắt đầu gặp khó khăn về việc làm. Mới đây nhà máy điện tử Sharp ( có 170 LĐVN) cũng đã thông báo dãn công nhân”…

Thị trường Đài Loan ảnh hưởng rõ nét hơn. Ông Nguyễn Bá Hải – Trưởng ban quản lý LĐVN tại Đài Loan cho hay: “Đã xuất hiện tình trạng người lao động mất việc, một bộ phận thiếu việc làm, nghỉ việc dài ngày. Chưa có thống kê chính xác nhưng có khoảng 200 LĐVN sẽ bị chấm dứt hợp đồng về nước trước hạn”. Theo ông Hải, ngành chịu tác động mạnh nhất là công nghiệp điện tử vì các sản phẩm này chủ yếu xuất sang Nhật và Mỹ- hai nước bị suy thoái nghiêm trọng (khoảng 30% trong tổng số 81.000 LĐVN tại Đài Loan đang làm việc trong lĩnh vực này).

Thị trường Hàn Quốc và Nhật Bản cũng rơi vào cảnh tương tự. Một số chủ sử dụng lao động ở Nhật Bản, nhất là ở ngành điện tử đã hoãn tiếp nhận tu nghiệp sinh Việt Nam. Một số lao động là chuyên gia tại thị trường Nhật Bản cũng phải về nước do mất việc. Thị trường Qatar, Singapore cũng đã có lao động về nước do chủ sử dụng lao động cắt giảm nhân công.

Tuy nhiên, bên cạnh những thị trường XKLĐ truyền thống như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc đang bị thu hẹp vẫn còn có những thị trường tiềm năng, với nhiều cơ hội lớn như thị trường Trung Đông. Thị trường này có ưu điểm là thu nhập của lao động khá ổn định, khoảng 7-9 triệu đồng, chi phí đi không cao mà người lao động lại được miễn phí tiền ăn, ở, đi lại, không phải nộp thuế, phí trong thời gian làm việc. Hiện tại, các chủ sử dụng lao động ở UAE ( các Tiểu Vương quốc Arab Thống Nhất), Saudi Arabia…vẫn có nhu cầu tiếp nhận số lượng lớn LĐVN trong các lĩnh vực xây dựng, cơ khí, thợ hàn và giúp việc gia đình… Có thể nói, thị trường Trung Đông đang là thị trường tiềm năng của rất nhiều doanh nghiệp kinh doanh XKLĐ Việt Nam trong đó có công ty AIC. Chính vì vậy, việc phát triển thị trường XKLĐ Trung Đông có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của công ty AIC. Đây cũng chính là lý do em lựa chọn đề tài Xuất khẩu lao động sang thị trường Trung Đông tại công ty Cổ Phần Tiến Bộ Quốc Tế (AIC) – Thực trạng và giải pháp” làm đề tài thực tập chuyên đề của mình.

Mục tiêu nghiên cứu:

Phân tích được thực trạng và tìm ra các khó khăn của AIC trong vấn đề phát triển thị trường xuất khẩu lao động ở Trung Đông trong điều kiện hiện nay. Từ đó đề ra các giải pháp để phát triển thị trường xuất khẩu lao động tại Trung Đông.

Câu hỏi nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi sau:

  1. Các vấn đề còn tồn tại của công ty AIC trong quá trình XKLĐ sang Trung Đông là gì?
  2. Tại sao lại tập trung vào phát triển thị trường Trung Đông? Thị trường này có ý nghĩa chiến lược như thế nào đối với sự phát triển của công ty?
  3. Để phát triển thị trường Trung Đông, AIC cần đưa ra những biện pháp cụ thể như thế nào?

Số liệu và phương pháp phân tích:

  • Ø Số liệu: Số liệu trong bài chủ yếu là lấy từ nguồn thứ cấp tại công ty AIC. Được thu thập từ các phòng ban của công ty. Ngoài ra, còn có các số liệu được thu thập từ các nguồn thông tin như báo chí, mạng internet, các bài nghiên cứu…
  • Ø Phương pháp nghiên cứu: Về mặt phương pháp, bài viết sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả, kết hợp lý luận với thực tiễn.

Kết cấu của chuyên đề:

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo chuyên đề được chia thành 3 chương:

Chương I. Những vấn đề chung về phát triển thị trường xuất khẩu lao động và vai trò của xuất khẩu lao động đối với nền kinh tế quốc dân.

Chương II. Thực trạng XKLĐ sang thị trường Trung Đông trong thời gian qua tại công ty Cổ Phần Tiến Bộ Quốc Tế (AIC).

Chương III. Phương hướng và giải pháp nhằm phát triển thị trường XKLĐ ở Trung Đông trong thời gian tới tại công ty AIC.

 

Do thời gian có hạn và trình độ của người nghiên cứu còn hạn chế, chuyên đề khó tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến và sửa chữa của các thầy cô giáo để bài viết của em được hoàn chỉnh hơn, qua đó em có thể hoàn thiện hơn nữa kiến thức của mình.

Để hoàn thành chuyên đề này, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân, những người đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt cho em những kiến thức quý báu. Đặc biệt là TS Phạm Thái Hưng người đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập tại công ty Cổ Phần Tiến Bộ Quốc Tế  (AIC). Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ, công nhân viên tại công ty AIC đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thực tập và thu thập tài liệu cần thiết để hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp.

CHƯƠNG I

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VÀ VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN

 

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN.

 

1. Khái niệm về thị trường.

 

Thị trường là một phạm trù kinh tế khách quan, gắn  bó chặt chẽ với khái niệm phân công lao động xã hội. Ở đâu và khi nào có phân công lao động xã hội và sản xuất hàng hóa thì ở đó và khi ấy có thị trường. Cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa, khái niệm thị trường ngày càng biến đổi và ngày càng được bổ sung hoàn thiện hơn.

 

Ban đầu thị trường được quan niệm đơn giản là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa của các chủ thể kinh tế. Thị trường có tính không gian, thời gian, có mặt cả người mua, người bán và đối tượng được đem trao đổi. Theo quan niệm này thì khi sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển, các mặt hàng trở nên phong phú, đa dạng với nhiều hình thức trao đổi phức tạp hơn đã không phản ánh một cách đầy đủ bản chất của thị trường. Điều này đòi hỏi phải có quan niệm phù hợp hơn.

 

Philip Kotler quan niệm: “ Thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thế, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn đó”.

 

Ở Việt Nam có nhà kinh tế quan niệm: “Thị trường là lĩnh vực trao đổi mà ở đó người mua và người bán cạnh tranh với nhau để xác định giá cả hàng hóa và dịch vụ”…

 

Ở phạm vi của doanh nghiệp thương mại, thị trường được mô tả là một hay nhiều nhóm khách hàng tiềm năng với những nhu cầu tương tự nhau và những người bán cụ thể nào đó mà doanh nghiệp với tiềm năng của mình có thể mua hàng hóa dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu trên của khách hàng.

Thị trường của doanh nghiệp thương mại có thể phân chia theo các tiêu thức khác nhau, có các loại thị trường như: thị trường hàng hóa, thị trường dịch vụ, thị trường sức lao động, thị trường đầu vào, thị trường đầu ra, thị trường trong nước, thị trường ngoài nước ( thị trường khu vực, thị trường quốc tế)…

 

2. Khái niệm về phát triển thị trường của doanh nghiệp.

 

Phát triển thị trường là tổng hợp cách thức biện pháp của doanh nghiệp nhằm đưa khối lượng sản phẩm kinh doanh đạt được mức tối đa, mở rộng quy mô kinh doanh, tăng them lợi nhuận và nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trường. Phát triển thị trường vừa là mục tiêu, vừa là phương thức quan trọng để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển. Chỉ có mở rộng và phát triển thị trường, mới duy trì được mối quan hệ thường xuyên, gắn bó với khách hàng, củng cố và tạo dựng uy tín của doanh nghiệp trước người tiêu dung. Phát triển thị trường còn tạo ra những cơ hội đầu tư kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên, thực hiện những mục tiêu đã vạch ra, giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển một cách bền vững trong cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt.

 

3. Nội dung phát triển thị trường của doanh nghiệp.

 

3.1. Phát triển thị trường về sản phẩm.

 

Phát triển thị trường về sản phẩm là đưa thêm ngày càng nhiều dạng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu, thị hiếu của thị trường, đặc biệt là sản phẩm mới có chất lượng cao. Đó chính là phương thức kinh doanh có hiệu quả và cũng là phương thức thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dung.

 

Có thể phát triển sản phẩm theo hai hướng sau:

  • Phát triển sản phẩm mới hoàn toàn.
  • Cải tiến, hoàn thiện sản phẩm, thay thế sản phẩm hiện có.

 

3.2. Phát triển thị trường về khách hàng.

 

Thị trường của doanh nghiệp thường là tập hợp các khách hàng rất đa dạng khác nhau về lứa tuổi, giới tính, thu nhập,…nhưng có thể phân chia thành các nhóm khác nhau. Có thể phân chia thành các nhóm sau:

 

3.2.1. Căn cứ vào hành vi tiêu thụ.

 

Khách hàng là người tiêu dùng cuối cùng và người tiêu thụ trung gian. Trong đó, người tiêu thụ cuối cùng mua sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của chính bản thân, còn người tiêu thụ trung gian mua sản phẩm không phải để tiêu dung mà để bán lại nhằm mục đích kiếm lời.

3.2.2. Căn cứ vào khối lượng hàng hóa mua.

 

Khách hàng mua với khối lượng lớn và khách hàng mua với khối lượng nhỏ. Xét về mặt kinh tế, cần khuyến khích những người mua với khối lượng lớn, về mặt hình thức quan hệ không được phân biệt đối xử giữa hai loại khách hàng này.

 

3.2.3. Căn cứ vào mối quan hệ khách hàng – doanh nghiệp.

 

Khách hàng truyền thống và khách hàng mới. Khách hàng truyền thống là những khách hàng có mối quan hệ thường xuyên, liên tục với doanh nghiệp. Họ có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự phát triển ổn định của doanh nghiệp. Khách hàng mời là khách hàng lần đầu tiên đến với doanh nghiệp, nếu gây được niềm tin họ sẽ trở thành khách hàng truyền thống.

 

Có thể phát triển khách hàng theo hai hướng:

  • Phát triển về mặt số lượng khách hàng.
  • Phát triển khách hàng về mặt chất lượng.

 

Tuy nhiên, phát triển thị trường của doanh nghiệp trên góc độ khách hàng là phát triển khách hàng cả về số lượng, chất lượng, phạm vi, không gian, thời gian, địa điểm,…

 

3.3. Phát triển thị trường về phạm vi địa lý.

 

Phát triển thị trường về mặt địa lý là mở rộng và phát triển thị trường theo lãnh thổ bằng các biện pháp khác nhau.

  • Mở rộng mạng lưới bán hàng của doanh nghiệp: các đại lý, văn phòng giao dịch …Cần phát triển mạng lưới bán hàng cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Việc phân bổ mạng lưới cần tính đến hiệu quả chung của cả hệ thống tức là đảm bảo nâng cao năng lực tiêu thụ của từng điểm cũng như của toàn hệ thống, tránh sự loại trừ tiêu diệt nhau, bảo đảm sự vận động hợp lý cảu sản phẩm, giảm chi phí…
  • Tạo đầu mối giao thông, thành lập trung tâm giao dịch, chi nhánh của doanh nghiệp nhằm phát triển thị trường.

Bên cạnh đó, phát triển thị trường về địa lý còn được thực hiện thông qua lựa chọn kênh phân phối thích hợp.

 

II. LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG (XKLĐ) VIỆT NAM.

 

1. Khái niệm.

 

 

XKLĐ là một vẫn đề có nội dung kinh tế xã hôi sâu sắc, có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố kinh tế xã hội khác. Làm rõ mối quan hệ này sẽ cho phép chúng ta nhìn nhận vấn đề này trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội một cách khách quan và thực tế hơn.

Để có cái nhìn tổng thể và rõ ràng về vấn đề nghiên cứu, một số khái niệm có liên quan đến lĩnh vực lao động và việc làm được hệ thống lại như sau:

 

1.1. Nguồn lao động.

 

Nguồn lao động là một bộ phận của dân cư bao gồm những người trong độ tuổi lao động (không kể những người mất khả năng lao động), và những người ngoài độ tuổi lao động (trên, dưới độ tuổi lao động) thực tế có tham gia lao động.

Ở Việt Nam, độ tuổi lao động theo quy định là từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ giới và từ 15 đến 60 tuổi đối với nam giới. Thực chất những người dưới độ tuổi lao động thực tế có tham gia lao động ở Việt Nam hiện nay hơi khó xác định về phạm vi. Thông thường trẻ em từ 10 tuổi (thậm chí từ 7 – 8 tuổi) ở nông thôn đã tham gia vào lao động. Tuy nhiên để thống nhất với các số liệu thống kê được công bố thì việc độ tuổi nhóm này chỉ tính người từ dưới 15 tuổi.

 

1.2. Lao động.

 

Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên để phù hợp với lợi ích của mình. Lao động là sự vận động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, là quá trình kết hợp sức lao động và tư liệu sản xuất.

 

1.3. Sức lao động.

 

Sức lao động là tổng thể lực và trí lực của con người trong quá trình tạo ra của cải xã hội, nó phản ánh khả năng lao động của con  người, là điều kiện đầu tiên cần thiết trong quá trình lao động xã hội. Trên thị trường lao động, sức lao động được coi là hàng hóa – đó là loại hàng hóa đặc biệt vì con người có tư duy, tự làm chủ bản thân mình hay nói cách khác con người là chủ thể lao động. Thông qua thị trường lao động, sức lao động được xác định là giá cả, hàng hóa lao động cũng tuân theo quy luật cung cầu của thị trường

 

1.4. Thị trường lao động.

 

Trong mỗi xã hội, ở nơi nào xuất hiện nhu cầu sử dụng lao động và có nguồn lao động cung cấp ở đó sẽ hình thành nên thị trường cho lao động. Có thể hiểu thị trường lao động là một lĩnh vực của nền kinh tế mà ở đó diễn ra quá trình mua bán, trao đổi, thuê, mướn sức lao động.

Khi cung và cầu lao động chỉ nảy sinh trong phạm vi biên giới một quốc gia thì ta có thị trường lao động nội địa (thị trường lao động trong nước). Khi cung và cầu lao động nảy sinh ngoài biên giới quốc gia một nước thì có thị trường lao động quốc tế.

Trên thị trường lao động quốc tế, XKLĐ được thực hiện chủ yếu trên cơ sở quan hệ cung cầu lao động. Nó chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật kinh tế thị trường. Bên cầu phải tính toán kỹ hiệu quả của việc nhập khẩu lao động nên cần phải xác định một cách chặt chẽ số lượng, cơ cấu, chất lượng lao động hợp lý. Bên cung có mong muốn xuất khẩu càng nhiều lao động càng tốt. Do vậy, muốn loại hàng hóa đặc biệt này chiếm được ưu thế trên thị trường bên cung cấp lao động cần phải có sự chuẩn bị và đầu tư để được thị trường chấp nhận, phải đáp ứng kịp thời về số lượng lao động có chất lượng cao. Chất lượng lao động càng cao càng đem lại hiệu quả kinh tế lớn và càng được thị trường nước ngoài dễ chấp nhận.

Chất lượng lao động cao được thể hiện ở trình độ tay nghề phù hợp với công nghệ của nước tiếp nhận lao động, thể lực tốt, có ngoại ngữ, được trang bị đầy đủ kiến thức làm việc theo tác phong công nghiệp, am hiểu luật pháp và phong tục tập quán của nước sử dụng lao động, có thể thích ứng nhanh với môi trường làm việc mới.

Song đối với hàng hóa sức lao động, thị trường thế giới không phải là vô hạn và có rất nhiều đòi hỏi khắt khe với những quy định riêng. Hiện nay, có thể kể đến một số thị trường có nhu cầu về lao động như các nước sản xuất dầu lửa ở Trung Đông, thị trường loa động Đông Bắc Á, Đông Nam Á, nơi tập trung nhiều nước có sự tăng trường kinh tế cao như Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore.

 

1.5 Xuất khẩu lao động.

 

Dưới góc độ dân số học, việc di chuyển lao động giữa các quốc gia đã được hầu hết các chuyên gia dân số học của thế giới nghiên cứu và đưa ra khái niệm “Di dân quốc tế”. Có thể nói hoạt động này vài thập kỷ gần đây đã diễn ra sôi động và thu hút được sự chú ý nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế. Nhưng đây không phải là một hiện tượng kinh tế xã hội có tính mới mẻ mà nó đã xuất hiện ngay từ cuối thế kỷ 19. Ngày nay, XKLĐ đã trở nên rất phổ biến và trở thành xu thế chung của thế giới.

Ở Việt Nam, ngay từ những năm 1980 đã xuất hiện thuật ngữ “Hợp tác quốc tế lao động”, lúc đó được hiểu là sự trao đổi lao động giữa các quốc gia thông qua các hiệp định được thỏa thuận và ký kết giữa các quốc gia đó, là sự di chuyển lao động có thời hạn giữa các quốc gia một cách hợp pháp và có tổ chức. Trong hành vi trao đổi này nước đưa lao động đi được coi là nước XKLĐ, còn nước tiếp nhận sử dụng lao động được coi là nước nhập khẩu lao động.

Có một cách hiểu khác về XKLĐ: XKLĐ là sự hợp tác sử dụng lao động giữa nước thừa và thiếu lao động, là việc di chuyển lao động có kế hoạch và có thời hạn từ nước thừa lao động sang nước thiếu lao động. Theo khái niệm này có thể đưa ra các dẫn suất như “nước đưa lao động đi, nước tiếp nhận lao động, người đi hợp tác quốc tế về lao động…”. Trên thực tế cũng có xuất hiện vai trò của nước thứ ba làm nhiệm vụ trung gian môi giới có tính chất kinh doanh. Ví dụ như năm 1980 hai công ty của Nhật Bản thuê lao động của Trung Quốc đi xây dựng bệnh viện và đường cao tốc tại Irac.

Trước đây, khi nước ta còn mối quan hệ mật thiết với hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thì khái niệm “hợp tác quốc tế về lao động” có nội dung lớn, bao hàm nhiều lĩnh vực trong quan hệ quốc tế và lao động. Trong quan hệ đó, hiệu quả kinh tế chưa được coi trọng. Do đó, việc sử dụng khái niệm này ở nước ta chỉ còn nguyên nghĩa trong phạm vi hợp tác giữa các nước xã hội chủ nghĩa trước kia. Ngày nay nước ta thống nhất sử dụng thuật ngữ XKLĐ để nhấn mạnh hơn đến tính hiệu quả kinh tế của hoạt động này.

Vì vậy chúng ta có thể hiểu XKLĐ là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc những hợp đồng có tính chất pháp quy được thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận lao động.

 

2. Đặc điểm.

 

XKLĐ là một đặc thù của xuất khẩu nói chung và là một bộ phận của kinh tế đối ngoại, hàng hóa đem xuất khẩu là sức lao động, bên cầu là chủ thể người nước ngoài. XKLĐ là một hoạt động tất yếu khách quan của quá trình chuyên môn hóa và hợp tác quốc tế giữa các nước trong sản xuất.

XKLĐ ở Việt Nam là một hoạt động được sự chỉ đạo thống nhất của Nhà nước, được Nhà nước xem đó là một lĩnh vực hoạt động kinh doanh đối ngoại quan trọng, đã ban hành một hệ thống luật và các văn bản dưới luật để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh xung quanh vấn đề XKLĐ, cho phép các tổ chức kinh tế Nhà nước, các doanh nghiệp cổ phần hóa được tổ chức và thực hiện XKLĐ trên cơ sở tuân thủ hệ thống và các văn bản pháp quy đó.

Tại Việt Nam, các hợp đồng đưa người đi lao động có thời hạn ở nước ngoài được ký kết trên cơ sở pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

XKLĐ là một phương thức để thực hiện phân công lao động quốc tế, đưa Việt Nam hòa nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Ngoài ra, XKLĐ còn là một hướng sử dụng lao động có hiệu quả phù hợp với điều kiện kinh tế của mỗi nước, tận dụng được lợi thế so sánh của cả nước xuất và nhập khẩu lao động.

 

3. Nguyên nhân.

 

Bất cứ một hiện tượng kinh tế xã hội nào cũng có điều kiện và tiền đề nảy sinh. Để đi đến hoạt động XKLĐ mang tính chiến lược và cạnh tranh gay gắt như hiện nay, bản thân nó cũng có một quá trình tiến triển. Bắt đầu từ sự di cư quốc tế do tính tất yếu và tác dụng tiến bộ của lịch sử: từ buổi bình minh của loài người đã xuất hiện sự di cư này để đi tới những miền đất tốt đẹp hơn. Ngày nay chính sự phân bố không đều về dân cư, điều kiện tự nhiên (tài nguyên) cùng với sự bùng nổ dân số trên thế giới đã hình thành luồng di cư: lao động (dân cư) ở những nước kinh tế chậm phát triển di cư đến những nước có nền kinh tế khá hơn, lao động ở nước nghèo tài nguyên di chuyển đến những nước có điều kiện thiên nhiên thuận lợi, dân cư ở những nước có mật độ dân số cao di chuyển đến những nước có mật độ dân số thấp…Như vậy, việc di chuyển lao động trước hết là một hiện tượng khách quan trong quá trình hoạt động kinh tế của bản thân người lao động.

Ứng với mỗi nước, với một trình độ sản xuất, điều kiện tự nhiên và dân cư nhất định thường có sự mất cân đối về lao động trên các mặt:

  • Mức nhu cầu lao động thường lớn hơn (nhỏ hơn) mức cầu về số lượng lao động.
  • Cơ cấu nhu cầu lao động thường lớn hơn (nhỏ hơn) khả năng cung cấp lao động.

Trình độ phát triển kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật của mỗi quốc gia không thể giải quyết hết sự mất cân đối này, đòi hỏi phải có sự trao đổi lao động trực tiếp với quốc gia khác. Việc trao đổi này dẫn đến XKLĐ.

Trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới sau khi xuất hiện hình thức XKLĐ, người lao động được đưa ra nước ngoài làm việc đã trở thành đối tượng để Nhà nước và các cơ quan chức năng, các tổ chức lao động quốc tế nghiên cứu, qua đó đã ban hành nhiều văn bản pháp quy để bảo vệ quyền lợi của người lao động, ví dụ như quyền được đối xử bình đẳng như công nhân của nước chủ nhà, chế độ về nhà, đào tạo nghề nghiệp chuyên môn, về bảo vệ thành quả lao động, vấn đề nhập và xuất cảnh, về biện pháp giải quyết việc làm của Tổ chức Lao động thế giới (ILO). Tổ chức này cũng đã coi di dân quốc tế là một biện pháp quan trọng góp phần giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động.

Khoảng 70 – 80 năm về trước, nhiều quốc gia nhận thấy không thể tạo được đầy đủ việc làm trong nước cho người lao động, mặt khác do nền kinh tế quá thấp kém và mức sống của người lao động quá thấp trong khi nhiều vùng, nhiều quốc gia trên thế giới lại có nhu cầu về lao động mà số lượng lao động nước mình không đáp ứng nổi hoặc rẻ hơn nếu thuê lao động nước ngoài, kể cả việc thuê lao động chuyên môn để tận dụng chất xám từ bên ngoài. Nhìn thấy mối lợi này mà nhiều nước trong khu vực như Philipin, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan….đã có chủ trương khuyến khích người lao động nước mình ra nước ngoài làm việc.

Trong khoảng 40 năm trở lại đây, việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài đã nâng lên một bước về chất do sự gia tăng cung cầu lao động trên thị trường thế giới, sự phát triển kinh tế trong phạm vi toàn cầu đang có sự biến đổi về chất và không đồng đều giữa các nước dựa trên cơ sở phát triển mạnh của khoa học kỹ thuật. Nhóm các nước phát triển vẫn cần nhu cầu lao động giản đơn trong các ngành dịch vụ, nông nghiệp, ngư nghiệp và một số ngành sản xuất nặng nhọc khác như Pháp, Hà Lan, Đức, Anh,…thường tiếp nhận lao động truyền thống từ Châu Phi, Thổ Nhĩ Kỳ, Mêhicô và một số người Nam Mỹ khác. Tuy nhiên, bản thân bản thân các nước này lại đưa lao động kỹ thuật và các chuyên viên bậc cao (lao động chất xám) đi làm việc ở các nước phát triển có hai xu hướng: Một là tiếp nhận lao động kỹ thuật và lao động giản đơn từ các nước khác để khai thác tài nguyên của chính nước mình nhằm thúc đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế, điển hình là các nước khu vực Trung Đông. Hai là đơn thuần cung cấp lao động sang các nước phát triển và đang phát triển đang có nhu cầu thuê mướn lao động để giảm sức ép việc làm trong nước và để tăng nguồn ngoại tệ. Ngoài ra, ngay ở trong các nước này cũng có nhu cầu trao đổi lao động theo tưng thời kỳ như Malaysia một mặt vẫn gửi lao động đi làm việc ở Trung Đông nhưng một mặt vẫn tiếp nhận lao động từ Thái Lan sang làm việc ở các đồn điền, khai thác mỏ, đánh cá.

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Đề tài Đại học và được gắn thẻ , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s