Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc sau khi gia nhập WTO


LỜI MỞ ĐẦU

Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai khu vực, lớn thứ ba thế giới, theo dự báo sẽ tiếp tục đà phát triển tốc độ cao đến năm 2020, tiếp tục mở cửa hội nhập mạnh vào kinh tế khu vực và thế giới, chắc chắn sẽ tác động đến cục diện kinh tế của Việt Nam nói riêng, kinh tế thế giới nói chung. Sự phát triển tốc độ cao của nền kinh tế lớn này kéo theo sự gia tăng nhanh chóng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa về số lượng, chất lượng cũng như chủng loại dẫn đến nhu cầu nhập khẩu của thị trường Trung Quốc ngày càng tăng cao. Do vậy, Trung Quốc được đánh giá là thị trường xuất khẩu tiềm năng của nhiều nước trong khu vực cũng như các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Việt Nam – Trung Quốc là hai nước láng giềng, việc giao lưu kinh tế, văn hóa giữa hai nước đã có từ lâu đời. Từ năm 1991 đến nay, sau gần 19 năm bình thường hóa quan hệ, Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại số một, là bạn hàng nhập khẩu lớn thứ ba của Việt Nam, sau Mỹ và Nhật Bản.

Việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) của hai nước mở ra một tiềm năng lớn đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc. Tuy nhiên, chúng ta cũng gặp không ít khó khăn khi xâm nhập hàng hóa vào thị trường này trong quá trình hội nhập như: cạnh tranh gay gắt với hàng hóa của các nước khác và hàng hóa Trung Quốc, hoạt động xuất khẩu phải tuân theo quy định của WTO; sửa đổi hệ thống luật pháp, chính sách kinh tế và thương mại… Những vấn đề đó đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận và phân tích một cách đúng đắn để có được biện pháp tích cực và chủ động nhằm khai thác hiệu quả thị trường đầy tiềm năng này.

Đề tài: “Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc sau khi gia nhập WTO”  nhằm đánh giá khách quan thực trạng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc trong thời gian qua, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu này.

Đề tài tập trung vào nghiên cứu đánh giá tình hình xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc qua hai giai đoạn. Giai đoạn 1: từ năm 1991 đến 2006 và giai đoạn 2 là: hai năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO, năm 2007 – 2008.

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục và tài liệu tham khảo, đề tài nghiên cứu gồm ba chương:

Chương 1: Xuất khẩu hàng hóa và vai trò của xuất khẩu hàng hóa đối với sự phát triển kinh tế

Chương 2: Thực trạng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc từ khi bình thường hóa quan hệ đến nay

Chương 3: Quan điểm và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc.

 

CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG HÓA SANG THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC

 

1.1.    Xuất khẩu hàng hoá và vai trò của xuất khẩu hàng hoá đối với phát triển kinh tế

1.1.1.    Khái niệm xuất khẩu hàng hoá

Thế giới đang bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên hội nhập và phát triển. Mỗi quốc gia đã tự sản xuất được khối lượng hàng hóa lớn, phong phú và đa dạng. Để thành công trong nền kinh tế toàn cầu này đòi hỏi các quốc gia cũng như các nhà kinh doanh không chỉ sản xuất phục vụ cho nhu cầu trong nước mà cần phải tìm kiếm, mở rộng khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường quốc tế. Để đưa hàng hóa, dịch vụ của quốc gia này sang phục vụ, buôn bán với quốc gia khác, các quốc gia cần thực hiện giao dịch buôn bán với nhau. Trên thực tế có nhiều hình thức thực hiện giao dịch nhưng phổ biến nhất là thông qua hoạt động xuất khẩu – phương thức đơn giản nhất để các chủ thể kinh tế mở rộng hoạt động của mình ra thị trường nước ngoài. Vậy xuất khẩu hàng hoá là gì?

Theo “điều 28, mục 1, chương 2, luật thương mại Việt Nam 2005”: Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.

Tham gia vào hoạt động xuất khẩu hàng hóa này bao gồm các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức và chính phủ của các quốc gia. Đây là những chủ thể không thể thiếu của một nền kinh tế.

 

1.1.2.    Các loại hình xuất khẩu hàng hoá

1.1.2.1.    Theo hình thức xuất khẩu

* Xuất khẩu trực tiếp:

Xuất khẩu trực tiếp là hình thức giao dịch trong đó người bán (nhà xuất khẩu) bán hàng trực tiếp cho khách hàng của mình ở thị trường nước ngoài.

Khi doanh nghiệp có đủ khả năng về tài chính, phát triển đủ mạnh để có thể thành lập một tổ chức hay một đơn vị bán hàng của riêng mình, có thể kiểm soát trực tiếp, nắm bắt được nhu cầu thị trường về số lượng, chất lượng, giá cả từ đó có thể làm thoả mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường.

Hình thức này đòi hỏi phải có cán bộ có nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu có trình độ cao, am hiểu và có kinh nghiệm kinh doanh quốc tế đặc biệt là nghiệp vụ thanh toán quốc tế thông thạo. Chi phí tiếp thị ở nước ngoài cao nên đối với những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, ít vốn không nên áp dụng hình thức này.

*   Xuất khẩu gián tiếp:

Xuất khẩu gián tiếp là hình thức bán hàng hoá, dịch vụ của công ty ra thị trường nước ngoài thông qua trung gian (qua người thứ ba) hay nói cách khác xuất khẩu gián tiếp là cách thức mà nhà sản xuất tiến hành xuất khẩu sản phẩm của mình ra nước ngoài thông qua dịch vụ của các tổ chức độc lập đặt tại quốc gia tiếp nhận xuất khẩu.

Hình thức này có ưu điểm:

Giảm chi phí bán hàng, chi phí tiếp thị. Những người trung gian thường có cơ sở vật chất nhất định, do vậy người uỷ thác giảm được một khoản chi phí cho việc đầu tư trực tiếp vào nước nhập khẩu.

Người trung gian thường là những người bản địa, am hiểu thị trường, pháp luật, tập quán buôn bán của địa phương vì vậy họ có thể đẩy mạnh việc kinh doanh, buôn bán và tránh những rủi ro mà người uỷ thác có thể gặp phải.

Tuy nhiên, hình thức này có nhược điểm là: Chủ thể tham gia kinh doanh xuất khẩu sẽ mất đi sự liên hệ với thị trường, lợi nhuận bị chia sẻ. Ngoài ra, bên phía trung gian thường đưa ra những yêu cầu đòi hỏi bên chủ thể xuất khẩu phải đáp ứng, tạo thế bị động cho bên xuất khẩu.

Hình thức này thường được sử dụng khi xâm nhập vào thị trường mới hoặc khi mặt hàng khó bảo quản như các mặt hàng tươi sống …

*  Gia công xuất khẩu:

Gia công xuất khẩu là hình thức bên nhận gia công sẽ nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của bên đặt gia công để sản xuất ra thành phẩm rồi giao lại cho bên đặt gia công và hưởng phí gia công.

Ở Việt Nam hình thức này chủ yếu diễn ra trong lĩnh vực gia công dệt may, giày dép. Hình thức này tạo điều kiện cho người lao động có công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập và học hỏi kinh nghiệm sản xuất, tiếp cận với công nghệ mới của nước ngoài. Mặt khác, với hình thức này thị trường tiêu thụ sẵn có vì vậy nó đem lại lợi ích tương đối lớn đặc biệt là đối với các nước đang phát triển.

Tuy nhiên, nhược điểm của hình thức này là tính bị động cao do toàn bộ hoạt động của các doanh nghiệp phụ thuộc vào bên đặt gia công về thị trường, giá bán, giá đặt gia công, nguyên vật liệu, mẫu mã … Nhiều trường hợp bên ngoài lợi dụng gia công để bán máy móc cho nước nhận gia công, sau một thời gian không đặt gia công nữa gây tổn thất, lãng phí cho bên nhận gia công.

*  Buôn bán đối lưu:

Là hình thức giao dịch buôn bán mà trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua và lượng hàng hoá trao đổi luôn tương đương với nhau về giá trị. Mục đích của việc xuất khẩu ở đây không phải là thu về một lượng ngoại tệ mà nhằm thu về một lượng hàng hoá cần thiết có giá trị xấp xỉ lô hàng xuất khẩu.

Khi tiến hành thực hiện hình thức này các bên cần phải tôn trọng nguyên tắc cân bằng. Nguyên tắc này được thể hiện:

–  Cân bằng về mặt hàng: hàng quý hiếm đổi lấy hàng quý hiếm, hàng ế thừa đổi lấy hàng ế thừa.

–  Cân bằng điều kiện giao dịch: cùng giao dịch FOB – cảng đi hay cùng giao dịch CIF – cảng đến.

–  Cân bằng giá cả: cùng tính cao hơn hay thấp hơn giá cả quốc tế.

–  Cân bằng về tổng giá trị hàng hoá mà các bên giao cho nhau.

*  Tạm nhập tái xuất:

Đây là hình thức mà hàng hoá xuất khẩu đi qua một số nước trung gian rồi mới đến nước nhập khẩu và trong đó nước tái xuất sẽ thu được một khoản chênh lệch giữa khoản tiền bỏ ra để nhập khẩu và khoản tiền thu được khi xuất khẩu.

Ưu điểm của hình thức này là rủi ro ít do nhà xuất khẩu chỉ đóng vai trò xuất khẩu hàng hoá sang nước thứ hai, nước thứ hai có vai trò là một trung gian vì thế rủi ro lúc này được san sẻ. Tuy nhiên lợi nhuận thu được của các nhà xuất khẩu là thấp do các chi phí về dịch vụ vận tải, bến bãi … là tương đối lớn.

* Xuất khẩu tại chỗ:

Xuất khẩu tại chỗ là hình thức bán hàng cho nước ngoài ngay trên lãnh thổ nước mình.

Đây là hình thức xuất khẩu mới nhưng ngày càng phát triển trong nền kinh tế thị trường mở cửa. Loại hình này ở Việt Nam chủ yếu diễn ra dưới hình thức bán hàng cho các khu chế xuất. Hình thức xuất khẩu này có đặc điểm là hàng hoá không bắt buộc phải vượt qua biên giới quốc gia mới đến tay của khách hàng. Ngoài ra, các thủ tục xuất khẩu thì đơn giản hơn, chi phí xuất khẩu cũng như rủi ro thấp. Tuy nhiên thị trường đối với loại hình này là không lớn, chỉ gồm những người nước ngoài đi du lịch hoặc làm việc tại nước xuất khẩu tiêu thụ.

Tóm lại, mỗi một hình thức xuất khẩu hàng hóa đều có ưu nhược điểm nhất định. Vì vậy, để thu được hiệu quả kinh tế cao nhất đòi hỏi mỗi quốc gia, mỗi nhà xuất khẩu cần có những chiến lược, định hướng lựa chọn phù hợp với sự phát triển kinh tế, khả năng, năng lực của mình.

1.1.2.2. Theo phương thức xuất khẩu

Gồm có:

* Thương mại chính ngạch

*  Thương mại tiểu ngạch

*  Buôn bán của cư dân biên giới

Thương mại chính ngạch là hình thức mà các hàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới theo giấy phép của Bộ Thương mại. Những hàng hóa xuất nhập khẩu phải được thông qua cửa khẩu quốc tế và quốc gia và phải tuân thủ các thủ tục xuất khẩu quốc tế.

Còn những hàng hóa xuất nhập khẩu theo giấy phép của Uỷ ban nhân dân các tỉnh biên giới thì được gọi là thương mại tiểu ngạch.

Hình thức buôn bán thứ 3 là hoạt động trao đổi của cư dân biên giới, do nhân dân hai vùng biên thực hiện. Các hàng hóa được trao đổi thường do họ tự sản xuất ra, đem trao đổi trực tiếp. Hình thức thương mại này nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân vùng biên. Do điều kiện địa hình không thuận lợi, chi phí vận chuyển hàng hóa từ dưới xuôi lên cao và khó khăn, họ tiến hành trao đổi hàng hóa ở những chợ vùng biên với giá cả rẻ hơn và hàng hóa sẵn có hơn. Đối với hình thức này, khối lượng trao đổi hàng hóa thường không nhiều.

1.1.3.    Vai trò của xuất khẩu hàng hoá đối với phát triển kinh tế

1.1.3.1. Xuất khẩu hàng hoá phát huy lợi thế so sánh của đất nước

Chúng ta biết rằng, mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất ở các quốc gia khác nhau và mức sử dụng yếu tố để sản xuất sản phẩm là những nhân tố quan trọng quyết định sự khác biệt về chi phí so sánh (lợi thế so sánh). Mỗi nước đều hướng đến chuyên môn hoá sản xuất vào các ngành sử dụng nhiều yếu tố sẵn có trong nước. Với những ngành này, nếu mặt hàng của nó chỉ giới hạn tiêu thụ trong nội địa thì không thể khai thác, tận dụng hết lợi thế của nó, và khó có thể phát triển hơn được. Như vậy, mỗi một quốc gia để có thể phát huy lợi thế so sánh của mình cần phải tiến hành xuất khẩu hàng hóa đó ra thị trường rộng lớn hơn – thị trường quốc tế.

 

 

1.1.3.2.      Xuất khẩu hàng hóa đóng góp vào ổn định và tăng trưởng kinh tế

Kết quả hoạt động của ngoại thương của một nước được đánh giá qua “cán cân thanh toán xuất – nhập khẩu”. Cán cân này tác động trực tiếp đến tổng cầu của nền kinh tế.

Xuất khẩu thuần (XKT) = Xuất khẩu (XK) – Nhập khẩu (NK).

Xuất khẩu thuần là một bộ phận của tổng cầu:

AD = C + I + G + XKT

Khi cán cân thương mại ở mức xuất siêu (NK > XK) sẽ làm tăng thu nhập của quốc gia nên làm tăng GDP và nền kinh tế tăng trưởng.

Đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa chính là việc tạo điều kiện thuận lợi để bán được nhiều nhất những hàng hóa mà một quốc gia có lợi thế. Khi doanh số bán hàng tăng lên, lượng hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài nhiều hơn, nó sẽ tác động trở lại, đó là nhu cầu mở rộng sản xuất, đẩy mạnh quá trình tạo ra sản phẩm, quy mô sản xuất của từng mặt hàng, từng ngành nghề, lĩnh vực cũng như quy mô toàn bộ nền kinh tế được mở rộng, khi đó xuất hiện hiệu ứng tính kinh tế nhờ quy mô. Khi quy mô sản xuất phát triển sẽ kéo theo sự ra đời của nhiều ngành hàng mới vừa để bổ trợ cho các ngành xuất khẩu chính, vừa để khai thác các tiềm năng của đất nước, GDP của nền kinh tế không ngừng tăng lên, quốc gia đạt được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định.

1.1.3.3.  Xuất khẩu hàng hóa góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá

Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới luôn luôn thay đổi một cách mạnh mẽ, đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá là tất yếu đối với nước ta.

Xuất khẩu hàng hóa tạo ra khả năng xây dựng cơ cấu kinh tế mới, năng động. Sự phát triển các ngành công nghiệp trực tiếp xuất khẩu đã tác động đến các ngành công nghiệp cung cấp đầu vào cho các ngành xuất khẩu tạo ra “mối quan hệ ngược” thúc đẩy sự phát triển của các ngành này. Bên cạnh đó khi vốn tích luỹ của nền kinh tế được nâng cao thì sản phẩm thô sẽ tạo ra “mối liên hệ xuôi” là nguyên liệu cung cấp cho đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến và “mối liên hệ xuôi” này được tiếp tục mở rộng. Sự phát triển của tất cả các ngành này sẽ làm tăng thu nhập của những người lao động, tạo ra “mối liên hệ gián tiếp” cho sự phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và dịch vụ.

Xuất khẩu hàng hóa tạo ra nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể cho đất nước. Nguồn thu nhập này vượt xa các nguồn thu nhập khác kể cả vốn vay và đầu tư nước ngoài. Đối với nhiều nước đang phát triển, xuất khẩu đã trở thành nguồn tích lũy vốn chủ yếu trong giai đoạn đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa. Đồng thời có ngoại tệ đã tăng khả năng nhập khẩu công nghệ, máy móc thiết bị và nguyên liệu cần thiết cho sự phát triển của ngành công nghiệp.

1.1.3.4.   Xuất khẩu hàng hóa tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm cải thiện đời sống nhân dân

Trước hết hoạt động xuất khẩu tạo thêm việc làm, thu hút hàng triệu lao động và làm tăng thu nhập cho người lao động, nhất là trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông lâm hải sản, công nghiệp dệt – may, giày – da. Nhiều ngành xuất khẩu đã tạo thêm việc làm phi nông nghiệp cho lao động khu vực nông thôn, góp phần tăng thu nhập và giảm bớt tình trạng nghèo đói.

Xuất khẩu hàng hóa còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu nhiều sản phẩm trung gian, một số ngành công nghiệp như dệt – may, sản xuất hàng tiêu dùng được mở rộng, tạo việc làm cho dân cư thành thị đặc biệt là lao động thanh niên đang ngày càng gia tăng. Ngoài ra, còn tạo nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ trực tiếp đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng của người dân.

Xuất khẩu hàng hóa tác động trực tiếp đến sản xuất làm cho cả quy mô và tốc độ sản xuất tăng lên, các ngành nghề cũ được khôi phục, ngành nghề mới ra đời tạo thêm việc làm cho người lao động.  Xuất khẩu còn giúp nâng cao chất lượng lao động, nâng cao trình độ chuyên môn, thay đổi phong cách làm việc theo hướng tích cực.

1.1.3.5. Xuất khẩu hàng hóa nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Xuất khẩu hàng hóa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước ngày càng lớn mạnh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Bởi vì khi hướng vào thị trường quốc tế làm cho các doanh nghiệp phụ thuộc vào thị trường thế giới nhiều hơn là thị trường trong nước, do vậy các doanh nghiệp muốn đứng vững trong cạnh tranh phải dựa vào các tiêu chuẩn quốc tế. Thời kỳ đầu có thể có sự trợ giúp của Nhà nước, song muốn tiếp tục tồn tại thì phải tự khẳng định được vị trí của mình. Mặt khác thị trường thế giới rộng lớn sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thu được hiệu quả nhờ quy mô sản xuất lớn.

Xuất khẩu hàng hóa còn tạo điều kiện nâng cao khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước.

 

1.1.4.    Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động xuất khẩu hàng hóa

Để thực hiện tốt các hoạt động xuất khẩu hàng hóa thì việc xây dựng được một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá là một vấn đề cần thiết. Thực hiện được điều này sẽ giúp các cơ quan quản lý nhà nước có cơ sở đánh giá kết quả hoạt động xuất khẩu, đồng thời giúp các nhà sản xuất tìm ra được mặt hạn chế, yếu kém trong hoạt động xuất khẩu của mình, từ đó đề ra những giải pháp hữu hiệu để khắc phục, nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu, đáp ứng mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội mà quốc gia đã đề ra. Sau đây là những chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hoạt động xuất khẩu của một quốc gia:

1.1.4.1.   Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch xuất hàng hóa của một nước cho biết nước đó đã xuất khẩu được bao nhiêu hàng hóa, khối lượng và giá trị bao nhiêu.

Nếu kim ngạch xuất khẩu hàng hóa càng cao thì chứng tỏ hoạt động xuất khẩu của nước đó càng phát triển. Mặt khác nếu kim ngạch xuất khẩu cao và giá trị của hàng hóa đem xuất khẩu là lớn thì điều đó chứng tỏ quốc gia đó đang thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu.

1.1.4.2.   Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa

Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa là sự gia tăng về khối lượng và giá trị hàng hóa được xuất khẩu của một nước trong một khoảng thời gian nhất định. Sự gia tăng được thể hiện ở quy mô và tốc độ. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ.

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Đề tài cao học và được gắn thẻ , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s