CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM VỀ CHÍNH TRỊ – AN NINH VỚI ASEAN 10 NĂM ĐẦU THẾ KỶ 21


LỜI MỞ ĐẦU

Kể từ khi được thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967 đến nay, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã có 10 nước thành viên và trở thành một thể chế chính trị có tiếng nói ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương nói riêng và thế giới nói chung. Đối với Việt Nam, việc gia nhập ASEAN là một trong những quyết sách hết sức quan trọng của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Phó Thủ tướng, bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm nhấn mạnh: “Trong 15 năm qua, Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời, và là thành viên chủ động, tích cực, có trách nhiệm trong ngôi nhà chung Đông Nam Á(1).

Hiện nay, Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á đang cố gắng xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột là chính trị, kinh tế và văn hoá- xã hội(2). Tuy nhiên bài viết này chỉ tập trung vào phân tích nhân tố chính trị- an ninh trong quan hệ giữa Việt Nam và ASEAN vì theo đánh giá chung của các nhà nghiên cứu về ASEAN ở khu vực và trên thế giới, thành tựu lớn nhất mà tổ chức ASEAN đạt được là ở lĩnh vực chính trị và an ninh. Xét thời điểm thành lập ASEAN và quá trình thành lập, vấn đề hợp tác về chính trị – an ninh là rất quan trọng ở khu vực.

Vào thời điểm ngay sau khi gia nhập ASEAN năm 1995, Việt Nam  còn tỏ ra khá bị động và chưa tham gia nhiều vào hoạt động của ASEAN do chưa có sự hiểu biết đầy đủ về các nước trong khu vực. Tuy nhiên, từ sau Hội nghị cấp cao ASEAN VI tổ chức tại Việt Nam năm 1998, chúng ta đã tham gia chủ động và tích cực vào các hoạt động của khối và để lại nhiều dấu ấn đáng kể. Đến năm 2010, Việt Nam là chủ nhà của hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ XVI và XVII, lúc này Việt Nam đã trở thành thành viên quan trọng và có tầm ảnh hưởng nhất định trong khu vực. Vì vậy, trong 10 năm hội nhập và phát triển với khu vực trên lĩnh vực chính trị- an ninh, chúng ta cần một cái nhìn tổng quan và rút ra những bài học kinh nghiệm cho những năm tiếp theo trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực biến đổi phức tạp không ngừng.

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đi sâu phân tích bối cảnh thế giới và khu vực 10 năm đầu thế kỷ 21 để thấy được cơ sở mà nước ta hoạch định chính sách với ASEAN trong lĩnh vực chính trị- an ninh, cũng như việc triển khai những chính sách đó vào thực tế. Ở phần cuối bài viết là những nhận định, đánh giá kết quả của quá trình triển khai chính sách đối ngoại của ta với ASEAN về chính trị- an ninh.

  •  Từ lâu, trong công việc nội bộ của một quốc gia nói riêng cũng như quan hệ quốc tế nói chung, vấn đề chính trị luôn đi cùng an ninh. Có thể hiểu chính trị theo nghĩa giản đơn là những vấn đề về tổ chức và điều khiển bộ máy nhà nước và về quan hệ chính thức giữa các quốc gia với nhau; còn an ninh là trạng thái yên ổn về mặt chính trị, về trật tự xã hội. Vì vậy các quốc gia khi muốn phát triển một cách bền vững cần một thể chế chính trị ổn định, luôn cố gắng đảm bảo an ninh, khi đó các lực lượng lao động trong xã hội sẽ có khả năng phát huy tối đa những năng lực để xây dựng đất nước. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các yếu tố gây bất ổn ngày càng trở nên đa dạng, khó lường; việc hợp tác giữa các quốc gia trên cơ sở cùng mục tiêu về chính trị- an ninh trong khu vực và trên toàn thế giới trở thành một nhu cầu tất yếu. Việt Nam và ASEAN cũng nằm trong xu thế chung đó.

 

  • Bối cảnh 10 năm đầu thế kỷ XXI
  • Bối cảnh thế giới

Toàn cảnh chính trị thế giới trong những năm đầu thế kỷ XXI có nhiều biến đổi đa dạng và phức tạp. Bên cạnh các vấn đề an ninh truyền thống vẫn còn tồn tại như cuộc khủng hoảng trên bán đảo Triều tiên, vấn đề eo biển Đài Loan, chạy đua vũ trang; thì các vấn đề an ninh phi truyền thống liên tiếp nổi lên thu hút sự chú ý của các nước như buôn lậu, ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em, cướp biển, khủng bố, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế quốc tế và tội phạm công nghệ cao. Thế kỷ XXI bắt đầu cũng đánh dấu quy mô của chủ nghĩa khủng bố đã lan rộng ra quy mô toàn thế giới, biểu hiện là cuộc tấn công vào Mỹ ngày 11/9/2001 và các cuộc đánh bom vào khu vực du lịch Bali Indonexia vào tháng 10/2002. Ngoài ra, xu thế toàn cầu hóa vẫn tiếp tục phát triển mạnh, mọi hoạt động quốc tế đều không thể biệt lập. Do đó, cuộc khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ Mỹ năm 2008 đã lan nhanh và có tác động xấu đến cả đời sống kinh tế và chính trị toàn cầu. Như vậy để đối phó với những khó khăn của thế kỷ mới một cách có hiệu quả cần có sự hợp tác, liên hết toàn khu vực và quốc tế dưới nhiều hình thức, dựa trên cơ sở có nguyên tắc và luật pháp quốc tế. Về phía Việt Nam cần phải tăng cường hợp tác giữa các nước, các khu vực trên những lợi ích chung trong đời sống chính trị quốc tế.

 

  • Bối cảnh khu vực

Môi trường chính trị an ninh ở khu vực Đông Nam Á trong những năm đầu thế kỉ 21 đã có nhiều biến đổi theo hướng  bất lợi cho hòa bình và ổn định khu vực so với môi trường chính tri an ninh ở Đông Nam Á những năm 90 của thế kỉ trước. Phong trào li khai đã được kích trở lại từ sự kiện Đông Timor rời khỏi Indonesia để trở thành một quốc gia độc lập. Sự có mặt của Mỹ ở một số nước Đông Nam Á làm cho Mỹ và các đồng minh của Mỹ trở thành một trong những kẻ thù của các lực lượng hồi giáo li khai.

Những diễn biến trên trong tình hình khu vực Đông Nam Á đã được các lực lượng khủng bố quốc tế xem là cơ hội thuận lợi để biến vùng này trở thành địa bàn hoạt động quan trọng trong cuộc chiến chống Mỹ và các đồng minh. Các hoạt động khủng bố trong khu vực ngày càng gia tăng về số lượng và mức độ tàn bạo trong mấy năm gần đây bởi có sự kết hợp giữa các lực lượng khủng bố quốc tế  và khu vực mà điển hình là cuộc đánh bom ở khu du lịch Bali, Indonesia.

Bên cạnh đó còn nhiều thách thức an ninh phi truyền thống đang gia tăng và trở nên trầm trọng như buôn lậu vũ khí, ma túy, phụ nữ và trẻ em ngày càng trở nên dễ dàng trong bối cảnh khu vực hóa đang diễn ra mạnh mẽ.

Các vấn đề có “tác động lan toả” ảnh hưởng đến an ninh toàn khu vực do hệ quả của sự lệ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng về kinh tế, chính trị và an ninh của các quốc gia trong khu vực. Đó là các vấn đề liên quan đến nội trị của một số nước, vấn đề tăng cường vũ trang trong khu vực và các vấn đề an ninh phi quân sự như năng lượng, lương thực, môi trường… Lấy vấn đề tăng cường mua sắm vũ khí trong khu vực trong thời gian gần đây làm ví dụ. Mặc dù có nhiều nguyên nhân để lý giải hiện tượng này, nhưng ở khía cạnh nào đó, việc này thể hiện sự lo ngại lẫn nhau và thiếu lòng tin của các nước trong khu vực về môi trường an ninh trong tương lai.

 

  • Bối cảnh Việt Nam

Trong 10 năm từ 2000 đến 2010, Việt Nam đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những tác động tiêu cực của hai cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế khu vực và toàn cầu, đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Các lĩnh vực văn hoá, xã hội đạt thành tựu quan trọng trên nhiều mặt, nhất là xóa đói, giảm nghèo. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt; dân chủ trong xã hội tiếp tục được mở rộng. Chính trị – xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững. Công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế được triển khai sâu rộng và hiệu quả, góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định và tăng thêm nguồn lực cho phát triển đất nước.Diện mạo của đất nước có nhiều thay đổi. Thế và lực của nước ta vững mạnh thêm nhiều; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, tạo ra những tiền đề quan trọng để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, vẫn đang tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị – xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia. Chính sự nhìn nhận khách quan, trung thực về bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước này đã giúp Việt Nam thấy được sự cần thiết của hợp tác và liên kết với ASEAN trên các mặt, đặc biệt là chính trị- an ninh.

 

  • Định hướng chính sách của Việt Nam về chính trị – an ninh với ASEAN

Mười năm đầu thế kỷ XXI đánh dấu một bước chuyển biến lớn trong định hướng chính sách đối ngoại của Đảng ta với ASEAN, đặc biệt về lĩnh vực chính trị – an ninh. Đại hội IX và X ghi nhận những bước tiến quan trọng trong nhận thức của Đảng về quan hệ Việt Nam – ASEAN.

Trong lĩnh vực chính trị – an ninh, từ Đại hội IX, Đảng ta luôn xác định “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Đại hội Đảng chỉ ra Việt Nam cần đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bền vững. Phát triển quan hệ với tất cả các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới và các tổ chức quốc tế theo các nguyên tắc: tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hòa bình; tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Đặc biệt coi trọng vai trò của ASEAN, xác định ASEAN là một đối tác quan trọng trong hợp tác chính trị – an ninh, trong các văn kiện Đại hội Đảng, chúng ta cũng nhấn mạnh đến chính sách đối ngoại đối với ASEAN. Văn kiện Đại hội IX nêu rõ: “Coi trọng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng. Nâng cao hiệu quả và chất lượng hợp tác với các nước ASEAN. Tiếp tục mở rộng quan hệ với các nước bạn bè truyền thống”. Đến Đại hội X, Đảng vẫn khẳng định: “ Nâng cao hiệu quả và chất lượng hợp tác với các nước ASEAN, cùng xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hoà bình, không có vũ khí hạt nhân, ổn định, hợp tác cùng phát triển”. Trong xác định phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2001 – 2005 tại Đại hội IX, Việt Nam cũng nêu rõ tầm quan trọng của hợp tác an ninh – chính trị khu vực Đông Nam Á: “Tích cực thực hiện các cam kết đối với các cơ chế hợp tác song phương và đa phương mà nước ta đã tham gia, đặc biệt chú ý tới các cam kết trong khuôn khổ ASEAN (như AFTA, AICO, AIA), APEC, ASEM”.

Đứng trước những thay đổi của tình hình thế giới và khu vực 10 năm đầu thế kỉ XXI, Việt Nam đã bắt đầu chủ động hơn trong quan hệ với ASEAN. Khác với Đại hội VIII năm 2006, chỉ nêu chung chung về việc hợp tác và tham gia vào các tổ chức khu vực: “Tiếp theo việc gia nhập ASEAN và chuẩn bị cho việc tham gia Khối mậu dịch tự do (AFTA), cần xúc tiến việc tham gia Diễn đàn kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức thương mại quốc tế (WTO)”, từ Đại hội IX, chúng ta đã bắt đầu coi trọng hơn đến chính sách đối ngoại với ASEAN: “Thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện và có hiệu quả với các nước ASEAN, các nước châu Á – Thái Bình Dương”. Trong các phát biểu quan trọng, các nguyên thủ quốc gia nước ta cũng nhấn mạnh đến chính sách đối ngoại an ninh – chính trị của Việt Nam với ASEAN: “Việt Nam sẽ tiếp tục làm hết sức mình vì sự nghiệp xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 và đặc biệt là để hoàn thành trách nhiệm Chủ tịch ASEAN (1)”.

Như vậy, chính sách đối ngoại của Việt Nam về chính trị – an ninh với ASEAN 10 năm đầu thế kỉ XXI đã có những định hướng thay đổi theo từng thời kỳ, tạo cơ sở và nền tảng cho việc triển khai vào thực tế. Những định hướng đúng đắn đó đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao vị thế của Việt Nam trong ASEAN suốt 10 năm qua.

 

  • Quá trình triển khai chính sách về chính trị – an ninh giữa Việt Nam – ASEAN

Trong quãng thời gian 10 năm, đã có rất nhiều hoạt động triển khai chính sách đối ngoại  của Việt Nam trong mảng chính trị- an ninh với ASEAN. Sau đây là những vấn đề và sự kiện nổi bật trong mối hợp tác giữa Việt Nam và ASEAN trong lĩnh vực này.

 

  • Chủ trương và đóng góp của Việt Nam trong việc xây dựng cộng đồng an ninh- chính trị ASEAN đến 2015

Tháng 11/2003, tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 9 họp tại Bali, Indonesia, các nhà lãnh đạo ASEAN đã thông qua tuyên bố hòa hợp ASEAN II, trong đó đề ra mục tiêu là thành lập Cộng Đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột là Cộng đồng An ninh ASEAN (ASC), cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), cộng đồng Văn hóa – xã hội ASEAN (ASCC). Việt Nam luôn xác định là một bộ phận không tách rời của gia đình ASEAN và chủ trương tham gia hợp tác ASEAN với phương châm chủ động, tích cực, và có trách nhiệm, góp phần xây dựng một ASEAN liên kết chặt chẽ, vững mạnh và là hạt nhân trong cấu trúc mới đang định hình ở khu vực. Phát biểu tại lễ kỷ niệm lễ kỷ niệm niệm 43 năm thành lập ASEAN, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định “Việt Nam đã và sẽ tiếp tục cùng các nước ASEAN, các nước bạn bè, đối tác, phấn đấu vì một Cộng đồng ASEAN đoàn kết, liên kết chặt chẽ và thịnh vượng, vì một Đông Nam Á và một Đông Á hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển” (1)

Trong hợp tác về lĩnh vực an ninh – chính trị, Việt Nam xác định rõ duy trì hoà bình và an ninh khu vực Đông Nam Á và Châu Á-Thái Bình Dương là nguyện vọng thiết tha và quyết tâm mạnh mẽ của các nước thành viên ASEAN cũng như các nước khác trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. ASEAN cần phát huy hơn nữa vai trò là nhân tố quan trọng hàng đầu thúc đẩy đối thoại và hợp tác về các vấn đề chính trị-an ninh, vì hoà bình, ổn định và thịnh vượng ở khu vực. Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng bộ Ngoại giao Phạm Gia Khiêm cho rằng: “ Cộng đồng an ninh ASEAN ko nhằm tạo ra khối phòng thủ chung, mà mục tiêu là tạo dựng một môi trường hòa bình và an ninh cho phát triển ở khu vực Đông Nam Á  thông qua việc  nâng cao hợp tác chính trị – an ninh ASEAN lên tầm cao mới, với sự tham gia, đóng góp xây dựng của các đối tác bên ngoài”(1). Quan điểm của Việt Nam là ASC không phải là một khối phòng thủ chung như NATO hiện nay hay như SEATO trước đây. Khái niệm này của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với khái niệm của ASC.

Đối với ASC, Việt Nam đã tích cực tham gia vào việc hoàn thiện Chương trình hành động về ASC và đăng cai tổ chức hội nghị các quan chức cấp cao SOM về cộng đồng này. Chương trình hành động ASC đã chấp nhận quan điểm an ninh toàn diện do Việt Nam đề xuất với việc khẳng định sự ổn định chính trị – xã hội, tăng trưởng kinh tế cùng với việc thu hẹp khoảng cách phát triển, xoá đói giảm nghèo là nền tảng và cơ sở bảo đảm sự phát triển bền vững của ASC. Việt Nam cũng đã cùng với các nước ASEAN khác vận động, đưa vào nội dung Chương trình hành động việc ngăn chặn sự can thiệp quân sự từ bên ngoài vào dưới bất kỳ hình thức nào, đặc biệt không cho phép dùng lãnh thổ của một nước vào mục đích chống phá các nước thành viên khác.

Để tránh tình trạng khi xảy ra tranh chấp, các nước thành viên ASEAN đưa vấn đề của họ lên tòa án Lahay nhờ phân xử, làm giảm vai trò của ASEAN với tư cách một tổ chức hợp tác giữa các nước Đông Nam Á, Việt Nam đã cùng các nước thành viên khác soạn thảo quy chế hoạt động của Hội đồng tối cao nhằm nâng cao vai trò của nó trong việc giải quyết các tranh chấp khu vực. Trong hội đồng tối cao, Việt Nam luôn “nhấn mạnh vai trò chủ đạo của ASEAN, tránh biến hội đồng tối cao thành một tòa án khu vực, trong đó, một vài nước có thể đóng vai trò khống chế các quyết định của hội đồng(2).

Việt Nam đã tham gia kí kết và phê chuẩn ngay từ đầu Hiệp Ước Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân(SEAN – WFZ) nhằm xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hoàn toàn không có vũ khí hạt nhân. Khi đảm nhiệm vai trò chủ tịch ASC và ARF, Việt Nam đã chủ động nêu sáng kiến và tổ chức thành công cuộc họp tham khảo ý kiến giữa các nước ASEAN với 5 nước có vũ khí hạt nhân về một số nội dung trong nghị định thư và vận động các nước này sớm tham gia nghị định thư của SEANWFZ.

Như vậy, những đóng góp và nỗ lực của Việt Nam trong việc hướng tới xây dựng Cộng đồng ASEAN, trong đó có ASC, trong suốt 10 năm qua thực sự đáng ghi nhận và thực tế, nó đã được ghi nhận bởi các nước thành viên của Hiệp hội. Những việc làm và hành động này của Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với chính sách đối ngoại mà ta đã vạch ra đối với ASEAN. Tuy nhiên, để tiếp tục “nâng cao vị thế trong khu vực và trên thế giới”, Việt Nam cần nỗ lực hơn nữa và phải có những đóng góp thực sự nổi trội hơn nữa trong ASEAN, đặc biệt trong việc xây dựng Cộng đồng ASEAN.

 

  • Ứng xử của Việt Nam về biển Đông trong giữ gìn an ninh ở khu vực Đông Nam Á

Biển Đông là một vùng biển rất quan trọng về tài nguyên và đường hàng hải. Nhưng cũng là một vùng biển ẩn chứa những của những xung đột tiềm tàng giữa các quốc gia có tuyên bố chủ quyền chồng lấn trên biển Đông, các tuyên bố chủ quyền gồm tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Phillipin, Việt Nam và Brunây, làm cho tình hình trên biển Đông càng thêm phức tạp. Thậm chí, trong lịch sử đã có những đụng độ bằng quân sự.

Bất cứ một hành động đơn phương nghiêm trọng nào trên biển Đông có thể gây căng thẳng, mất ổn định an ninh chính trị trong khu vực vốn rất nhạy cảm này. Việt Nam cũng là một trong các bên tranh chấp. Vậy chính sách củaViệt Nam như thế nào để vừa thể hiện được quan điểm, lập trường của mình vừa đảm bảo xung đột không xảy ra, giữ được sự ổn định về an ninh chính trị?

Việt Nam đã có những nỗ lực nhằm giải quyết các vấn đề về biển Đông, chủ trương giải quyết các bất đồng thông qua thương lượng hòa bình dựa trên việc tôn trọng luật pháp quốc tế, Tuyên bố Manila về Biển Đông năm 1992, Tuyên bố về cách ứng xử giữa các bên ở Biển Đông được ký kết giữa ASEAN và Trung Quốc ngày 4/11/2002. Cho đến nay Việt Nam vẫn tôn trọng những gì đã được kí kết giữa các quốc gia có tranh chấp về biển Đông và mong muốn các bên còn lại thực hiện nghiêm túc để căng thẳng không leo thang.

Việt Nam đã tích cực tham gia vào các Hội thảo về biển Đông, mới đây nhất là Hội thảo “Biển Đông: Hướng tới một cơ chế quản lí hợp tác” do Trường Nghiên cứu quốc tế S. Rajaratnam, Đại học Công nghệ Nanyang tổ chức tại Singapore năm 2007. Đồng thời cũng tổ chức các Hội thảo liên quan đến biển Đông như hội thỏa khoa học quốc tế về biển Đông: “ Biển Đông: hợp tác vì an ninh và phát triển ở khu vực”. Hội thảo nhằm tăng cường hợp tác khu vực và xây dựng lòng tin giữa các quốc gia. Mục tiêu của hội thảo là hình thành mạng lưới các nhà nghiên cứu về Biển Đông từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau như khoa học pháp lý, chính trị, quan hệ quốc tế. Hội thảo cũng nhằm tạo diễn đàn để các nhà nghiên cứu chia sẻ, thảo luận những quan điểm của mình, đồng thời tăng cường tình hữu nghị giữa các học giả nghiên cứu về Biển Đông. Ở mức độ cao hơn, hội thảo kiến nghị những giải pháp, từ góc độ học thuật, đối với những tranh chấp hiện nay ở khu vực Biển Đông. Kế đó là hội thảo biển Đông lần II ngày 11/11/2010, tại thành phố Hồ Chí Minh, với sự góp mặt của nhiều học giả quốc tế đến tham dự. Các cuộc hội thảo cũng là cơ hội để Việt Nam bày tỏ ý chí, nguyện vọng lập trường của mình.

Trung Quốc là một nước lớn trong khu vực. Do vậy, mỗi bước đi của Trung Quốc đều có ảnh hưởng đến tình hình an ninh trong khu vực. Trung Quốc đã có nhiều hành động đơn phương, gây căng thẳng thêm cho tình hình vốn đã rất phức tạp. Năm 2008, một tập đoàn dầu khí Trung Quốc đã công bố dự án khai thác ở biển Đông trị giá lên đến 30 tỷ USD. Rồi đơn phương đưa ra các lệnh cấm đánh bắt cá ở biển Đông, đưa ra tấm bản đồ chín đoạn. Phía Việt Nam đều có những phản ứng cứng rắn: “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền hợp pháp của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như các vùng  biển và thềm lục địa của Việt Nam. Mọi hoạt động tiến hành trên vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam mà không có sự đồng ý, chấp thuận của Việt Nam đều vi phạm chủ quyền, vi phạm lợi ích quốc gia của Việt Nam và hoàn toàn vô giá trị(1).

Điều này cho thấy, ngoài việc Việt Nam có thái độ mềm mỏng để tránh cho căng thẳng có thể leo thang, nhưng cũng có lập trường cứng rắn đối với phần chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc. Việt Nam tiếp tục cùng hợp tác với các nước ASEAN để giải quyết các vấn đề về biển Đông theo hướng thương lượng, đàm phán hòa bình. Việt Nam và ASEAN đang xúc tiến việc xây dựng Bộ quy tắc ứng xử về biển Đông (COC) có tính ràng buộc hơn thay thế cho DOC trước đó.

 

  • Việt Nam và các cơ chế đối thoại trong ASEAN và giữa ASEAN với bên ngoài

Trong suốt quá trình hợp với ASEAN kể từ khi gia nhập đến nay, Việt Nam đã tham gia đầy đủ vào các quan hệ đối thoại của ASEAN đặc biệt là  đã tham gia đầy đủ vào các cơ chế hợp tác chính trị – an ninh và các hoạt động hợp tác của ASEAN như các cơ chế về chính trị (SOM, AMM, Cấp cao chính thức và không chính thức). Việt Nam cũng tham gia hầu hết các cơ chế đối thoại trong ASEAN và giữa ASEAN với bên ngoài như Diễn đàn hợp tác Á-Âu (ASEM), Hội nghị Bộ Trưởng ASEAN (PMC), Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN và các nước Đông Bắc Á là Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc (ASEAN+3). Việt Nam đã tham gia tích cực vào việc trao đổi ý kiến, đánh giá tình hình thế giới và khu vực, tăng cường phối hợp lập trường về các vấn đề khu vực và quốc tế và khi cần thiết thì thoả thuận về đối sách chung.

 

  •  Việt Nam và các cơ chế đối thoại trong ASEAN
    • ARF và đóng góp của Việt Nam

ARF là một trong những diễn đàn khu vực đầu tiên Việt Nam tham gia thành lập, trực tiếp kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau 17 năm tham gia ARF, Việt Nam đã chủ động đề xuất nhiều sáng kiến, tham gia soạn thảo nhiều văn bản, chủ trì thành công nhiều hoạt động của ARF. Các hoạt động này của Việt Nam được các nước trân trọng và đánh giá cao.

Những đóng góp cụ thể của Việt Nam cho ARF trước hết thể hiện qua những lần chủ trì hoặc đồng chủ trì thành công các hội nghị của Diễn đàn như ISM-DR 98-99, Chủ tịch ARF 2000-2001. Ngoài những hoạt động này, thông qua các nước ASEAN khác, Việt Nam cũng đã đi đầu trong quá trình cải tiến bộ máy, kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả hợp tác của ARF, những sáng kiến này đang tiếp tục được thực hiện và áp dụng rộng rãi.

Là Chủ tịch ASEAN từ tháng 1/2010, Việt Nam đã chuẩn bị từ sớm cho nhiệm vụ Chủ tịch ARF. Ngay từ tháng 7/2009, ta đã đề xuất và được các nước chấp thuận một số định hướng lớn cho Diễn đàn trong năm 2010. Nổi lên trong số đó là tiếp tục củng cố và thúc đẩy ARF tiến lên trên cơ sở các nguyên tắc, các định hướng đã có là ASEAN phải luôn ở vị trí trung tâm và là hạt nhân của cả tiến trình và đồng thời các biện pháp xây dựng lòng tin vẫn phải là trọng tâm cho các hoạt động của ARF.

Cụ thể hơn, Việt Nam đã đề xướng, điều hành và chủ trì soạn thảo thành công Kế hoạch Hành động Hà Nội thực hiện Tuyên bố Tầm nhìn ARF. Đây là một kế hoạch rộng lớn, bao quát các lĩnh vực hợp tác của ARF, đề ra những bước đi cụ thể cho cả Diễn đàn. Diễn đàn ARF 17 (Hà Nội, 23/7/2010) đã thông qua văn kiện này, và Ngoại trưởng các nước đều đánh giá cao nỗ lực của Việt Nam, chất lượng của văn kiện và cam kết sẽ thúc đầy thực hiện nghiêm túc các hoạt động đề ra trong kế hoạch. Với những đóng góp này, chắc chắn, nhiệm kỳ Chủ tịch ARF 2010 của Việt Nam sẽ thành công, đi vào lịch sử của Diễn đàn như một dấu mốc đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ, hướng tới quan hệ đối tác toàn khu vực vì hòa bình, ổn định, thịnh vượng và phát triển (1).

  • Việt Nam và đóng góp cho kênh 2

Bên cạnh đó, Việt Nam tham gia ngày càng tích cực và chủ động hơn vào kênh 2- kênh có vai trò quan trọng trong hoạt động của ASEAN, được xem như là một kênh phi chính phủ, kênh không chính thức, có tác dụng tham khảo ý kiến và tư vấn cho Kênh 1, kênh chính phủ, kênh chính thức . Chức năng của Kênh 2 là đối thoại, tham khảo ý kiến, tư vấn, nghiên cứu, xây dựng lòng tin, thông tin liên lạc… nhằm nâng cao ý thức hợp tác, tăng sự phụ thuộc lẫn nhau, xây dựng lợi ích cộng đồng, do vậy mà có thể kiềm chế, dẫn tới loại trừ giải pháp dùng vũ lực giải quyết xung đột và giảm thiểu các nguy cơ gây xung đột.

 

Việt Nam dã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo của Kênh 2, góp phần thúc đẩy một cơ chế mà thông qua đó các học giả, các quan chức với tư cách cá nhân có thể thảo luậncác vấn đề an ninh chính trị của khu vực; thiết lập các mối liên hệ với những thiết chế và tổ chức thuộc khu vực và các khu vực khác trên thế giới nhằm trao đổi thông tin, quan điểm và kinh nghiệm về phương cách xử lí các vấn đề cũng như hợp tác an ninh chính trị khu vực; và đưa ra những khuyến nghị mang tính định hướng cho các chính phủ và các cơ quan liên chính phủ trong việc giải quyết các vấn đề an ninh chính trị của khu vực.

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Đề tài Đại học và được gắn thẻ , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s