Những điều kiện và giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả của hình thức hợp tác liên doanh với nước ngoài trong các đơn vị thuộc Bộ xây dựng


LỜI NÓI ĐẦU

Cùng với xu hướng phát triển chung của toàn thế giới. Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế xã hội diễn ra ở cả hai cấp độ khu vực hoá và toàn cầu hoá hơn nữa để tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoấ đất nước thì điều cần thiết là phải có vốn theo tính toán sơ bộ thì để duy trì chế độ tăng trưởng GDP 9-10%/năm như mục tiêu mà Đảng và chính phủ đề ra từ nay đến năm 2000 thì Việt Nam cần đầu tư khoảng 40-42 tỷ USD. So với năng lực tiết kiệm nội địa từ Việt Nam hiện nay thì con số này thực sự là khổng lồ. Chính vì vậy mà chúng ta phải tính đến khả năng huy động các nguồn vốn từ bên ngoài trong đó có hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mà hoạt động hợp tác liên doanh với nước ngoài (hình thức doanh nghiệp liên doanh – DNLD) là quan trọng.

Bộ xây dựng là một cơ quan quản lý nhà nước thuộc chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đã hoà nhập cùng với xu hướng chung của cả nước và trên thế giới, Bộ đã lãnh đạo các đơn vị thuộc bộ quản lý tích cực tham gia hoạt động hợp tác liên doanh với nước ngoài. Tính đến nay còn tồn tại khoảng 50 doanh nghiệp liên doanh hoạt động xây dựng thuộc 15 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm khoảng 2 % từ số doaah nghiệp được thành lập theo luật đầu tư nước ngoài đang hoạt động trên lãnh thổ nước ta, trong đó có 12 doanh nghiệp liên doanh và các doanh nghiệp của Bộ xây dựng, 12 doanh nghiệp thuộc các công ty trách nhiệm hữu hạn, 8 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và chủ yếu nằm ở địa bàn Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng nai, đã có một số doanh nghiệp bị giải thể trước thời hạn do đó hợp tác không có hiệu quả. Cac doanh nghiệp thuộc bộ xây dựng đã đóng góp một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất kinh doanh của bên ngoài xây dựng nói chung và của Bộ xây dựng nói riêng. cũng như đã góp phần thúc đẩy quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá, tăng thu ngân sách cho nhà nước, góp phần tăng trưởng kinh tế quốc dân (tăng GDP) chủ yếu thông qua các lĩnh vực sau : sản xuất nguyên vật liệu và cơ khí xây dựng. xây lắp công trình xây dựng, kinh doanh khách sạn, văn phòng (bất động sản); sản xuất xi măng, tư vấn xây dựng.

Việt Nam đã chính thức là thành viên của liên hiệp các nước Đông Nam Á  ASEAN (AFTA) ngày  28/7/1995 và tham gia diễn đàn hợp tác kinh tế  Châu Á Thái Bình Dương (APEC) ngày 14/11/1998. Điều này cho thấy chắc chắn sẽ làm tăng nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam nói chung và vào ngành xây dựng nói riêng. Cũng có nghĩa là sẽ có nhiều đối tác thuộc nhiều quốc gia và lãnh thổ sẽ liên doanh với các đơn vị thuộc Bộ xây dựng. Như vậy sẽ tạo ra những cơ hội nhưng đồng thời cũng gặp phải những thách thức mới. Chính vì vậy mà cần phải xem xét đánh giá những mặt đã đạt được và những hạn chế cần khắc phục của các liên doanh thuộc Bộ xây dựng để từ đó có các giải pháp để nâng cao hiệu quả lao động của hợp tác liên doanh với nước ngoài.

Đề tài Những điều kiện và giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả của hình thức hợp tác liên doanh với nước ngoài trong các đơn vị thuộc Bộ xây dựng” được lựa chọn là một tất yếu khách quan trong giai đoạn hiện nay bởi vì như chúng ta đã biết trong giai đoạn hiện nay quá trình hợp tác liên doanh với nước ngoài của các đơn vị thuộc Bộ xây dựng đã gặp phaỉ những hạn chế đáng kể mà lý do chủ yếu là do ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng  tài chính – tiền tệ Châu Á, cùng với những đột biến về khí hậu đã làm cho các liên doanh làm ăn thua lỗ và có liên doanh phải giải thể. Như vậy để làm thế nào cho các liên doanh này tồn tại và hoạt động có hiệu quả thì thật không dễ. Tuy nhiên qua đề tài này em cũng đưa ra một số giải pháp chủ yếu để khắc phục những hạn chế của các liên doanh thuộc Bộ xây dựng.

Bằng phương pháp phân tích ,dự báo, thống kê… mà đề tài đã được đánh giá sát thực. với nội dung của đề tài chuyên đề thực tập tốt nghiệp ngoài lời  mở đầu, lời cảm ơn và phần kết luận cùng các phụ lục và các tài liệu tham khảo kèm theo; được chia làm ba chương.

Chương I : Lý luận chung về hình thức hợp tác liên doanh với nước ngoài.

Chương II : Đánh giá tình hình thực hiện hoạt động liên doanh với nước ngoài của các đơn vị thuộc Bộ xây dựng qua các giai đoạn.

Chương III : Một số điều kiện và giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả của  hình thức hợp tác liên doanh với nước ngoài trong các đơn vị thuộc Bộ xây dựng trong thời gian tới.     

CHƯƠNG  I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ  HÌNH THỨC

HỢP TÁC LIÊN DOANH VỚI NƯỚC NGOÀI

Đầu  tư quốc tế thực chất là những phương thức đầu tư vốn, tài sản nước ngoài để tiến hành sản xuất kinh doanh, dịch vụ với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và những mục tiêu kinh tế nhất định. Ngày nay trong quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế – xã hội đang diễn ra nhanh chóng với quy mô và tốc độ ngày càng lớn, tạo nên một nền kinh tế thị trường toàn cầu. Trong đó tính phụ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế dân tộc ngày càng gia tăng. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học – công nghệ và cách mạng thông tin đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế của các nước tạo nên sự dịch chuyển vốn giữa các quốc gia, sự thay đổi các yếu tố sản xuất kinh doanh ở các nước sở hữu vốn tạo nên “lực đẩy” đối với đầu tư quốc tế. Mặt khác nhu cầu đầu tư phát triển để công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế nước ta là rất lớn, tạo nên sức hút mạnh mẽ đối với nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Đầu tư quốc tế đã đem lại những lợi ích đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta từ nay đến năm 2000 và 2005, cũng như chiến lược dài hạn. Chính vì lẽ đó mà đầu tư quốc tế là hoạt động đầu tư quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế thế giới nói chung và đối với Việt Nam nói riêng. Trong đó hình thức hợp tác liên doanh (với nước ngoài là hình thức chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong đầu tư quốc tế.

I – ĐẦU TƯ QUỐC TẾ.

1. Khái niệm :

– Đầu tư quốc tế là một quá trình trong đó các bên có quốc tịch khác nhau, cùng nhau tiến hành các hoạt động kinh doanh theo một chương trình đã được hoạch định trong một khoảng thời gian nhất định nhằm đem lại lợi ích cho tất cả các bên

– Dự án đầu tư quốc tế: Là một chương trình sử dụng vốn và tài nguyên đã được hoạch định trong một thời gian khá dài.

– Tích chất quốc tế của dự án đầu tư được thể hiện ở chỗ” Các bên có quốc tịch khác nhau” cùng nhau tham gia vào hoạt động đầu tư. Trong thực tiễn, có những định nghiã do sự tiếp cận ở các giác độ khác nhau.

+ Về hình thức: Dự án đầu tư quốc tế là một bộ hồ sơ, tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống một kế hoạch hoạt động đầu tư trong tương lai của các nhà đầu tư nước sở tại.

+ Về nội dung: Dự án đầu tư quốc tế là một tập hợp các hoạt động có liên quan tới nhau được kế hoạch hoá mà các nhà đầu tư phải thực hiện ở nước sở tại nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng các mục tiêu đã đề ra bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định.

+  Về mặt quản lý: Dự án đầu tư quốc tế là một công cụ mà các nhà đầu tư ở nước sở tại dùng để hoạch định việc sử dụng các yếu tố sản xuất  để tạo ra hiệu quả kinh tế – xã hội trong một thời gian dài.

+  Về phương diện kế hoạch hoá: Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện một cách chi tiết chương trình đầu tư của nhà đầu tư ở nước sở tại làm tiền đề cho việc ra các quyết định đầu tư và tài trợ.

– Vốn đầu tư quốc tế: Là những tài sản hữu hình như tiền vốn, đất đai, nhà cửa, nhà máy, thiết bị và hàng hoá hoặc tài sản vô hình như bằng sáng chế, phát minh, nhãn hiệu hàng hoá, bí quyết kỹ thuật, uy tín kinh doanh , bí quyết thương mại…mà các bên tham gia hoạt động đầu tư quốc tế đóng góp; các doanh nghiệp còn có thể đầu tư bằng cách đóng cổ phần, trái phiếu; các quyền sở hữu khác như thế chấp cầm cố, quyền thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên.

Như vậy vốn đầu tư quốc tế có hai dòng chính: đầu tư của tư nhân và trợ giúp phát triển chính thức (ODA) của các chính phủ và các tổ chức quốc tế.

2. Các loại hình đầu tư quốc tế chủ yếu

Đầu tư quốc tế được phân ra làm 2 loại hình đầu tư chủ yếu đó là: đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp.

2.1. Đầu tư gián tiếp (Foreign Indireet Investment)

Đầu tư gián tiếp là một loại hình di chuyển vốn giữa các quốc gia trong đó người chủ sở hữu vốn không trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn đầu tư.

* Đặc điểm, tính chất hoạt động của loại hình đầu tư gián tiếp:

+ Phạm vi đầu tư có giới hạn và các chủ đầu tư có giới hạn vì các chủ đầu tư nước ngoài chỉ quyết định mua cổ phần của những doanh nghiệp làm ăn có lãi hoặc có triển vọng trong tương lai.

+ Số lượng cổ phần của các công ty nước ngoài được mua bị khống chế ở mức độ nhất định tuỳ theo từng nước để không có cổ phần nào chi phối doanh nghiệp. Thông thường số cổ phần này dưới 10 đến 25% số vốn phấp định.

+ Chủ đầu tư nước ngoài không tham gia điều hành hoạt động doanh nghiệp. Do đó, bên tiếp nhận đầu tư có quyền chủ động hoàn toàn trong kinh doanh.

Chủ đầu tư nước ngoài thu lợi nhuận theo lãi suất ở phiếu không cố định, tuỳ thuộc vào kết quả kinh doanh.

+ Tuy doanh nghiệp đầu tư không có khả năng phân tán rủi ro trong những người mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp. Nhưng ta thấy mặt hạn chế của hình thức này là: Dễ gây nợ nần cho bên tiếp nhận đầu tư; dễ bị phụ thuộc về kinh tế, chính trị vào chủ đầu tư bởi vì cho dù lãi xuất thấp nhưng vẫn là của đi vay đối với những khoản vay ưu đãi.

+ Loại hình đầu tư gián tiếp hoạt động dưới các dạng khác nhau như các khoản viện trợ ODA, tín dụng quốc tế, mua trái phiếu, cổ phần, vay ưu đãi với thời gian dài, lãi suất thấp v…v…

Về thực chất, đầu tư gián tiếp là loại hình đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư không trực tiếp chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư, họ chỉ hưởng lãi suất theo tỷ lệ cho trước của số vốn mà họ đầu tư thông qua một cá nhân hoặc một tổ chức khác. Ví dụ như các khoản viện trợ ODA, tín dụng quốc tế, mua trái phiếu, cổ phần…

2.2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI – Foreign Direct Investment)

– FDI là một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn đầu tư.

– Về thực chất, FDI là sự đầu tư của các công ty nhằm xây dựng các cơ sở, chi nhánh ở nước ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần cơ sở đó. Đây là hình thức đầu tư mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ và cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư.

– Đặc điểm, tính chất hoạt động của FDI:

+ Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu theo luật đầu tư của từng nước quy định. Ví dụ luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam quy định chủ yếu đầu tư nước ngoài phải đóng tối thiểu 30% vốn phấp định của dự án. Hồng Kông quy định 10% và một số nước khác là 20%.

+ Quyền quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào mức độ góp  vốn. Nếu góp vốn 100% thì chủ đầu tư nước ngoài toàn quyền điều hành và quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

+ Lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định sau khi nộp thuế cho nước sở tại  và trả lợi tức cổ phần nếu có.

+ FDI thực hiện thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phiếu để thôn tính hoặc nhập các doanh nghiệp với nhau.

?+ Vì chủ đầu tư nước ngoài tham dự vào điều hành quá trình kinh doanh của doanh nghiệp tuỳ thuộc vào mức độ góp vốn, nên họ trực tiếp kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp và đưa ra những quyết định có lợi  nhất cho họ. Điều đó bảo dảm hiệu quả của vốn đầu tư được sử dụng nói chung là cao.

+ Cho phép các chủ đầu tư nước ngoài có thể hạ thấp chi phí sản xuất sản phẩm do khai thác được nguồn lao dộng dồi dào ở nước sở tại.  Từ đó mà  nâng cao tỷ suất lợi nhuận.

+ Tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của nước sở tại vì thông qua FDI mà chủ đầu tư nước ngoài xây dựng được các doanh nghiệp nằm “trong lòng” các nước thi hành các chính sách bảo hộ.

+ Loại hình FDI không quy định mức góp vốn tối đa, chỉ quy định mức tối thiểu, như vậy cho phép các nước sở tại tăng cường khai thác được vốn đầu tư nước ngoài.

+ Tạo điều kiện cho nước sở tại có thể khai thác tốt nhất những lợi thế của mình về tài nguyên thiên nhiên và vị trí địa lý.

+ Giúp cho nước sở tại nâng cao hiệu quả sử dụng phần vốn đóng góp của mình   mở rộng và góp phần vào việc nâng cao tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trong nước.

+ Tuy nhiên do có hạn chế là nếu môi trường kinh tế và chính trị không ổn định sẽ hạn chế nguồn FDI. Nếu nước sở tại không có một quy hoạch đầu tư cụ thể và khoa học sẽ dẫn đến đầu tư tràn lan không có hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị bóc lột quá mức và nạn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Nước chủ nhà phải đương đầu với các chủ đầu tư giầu kinh nghiệm, sành sỏi trong kinh doanh nên trong nhiều trường hợp dễ bị thua thiệt. Nước sở tại không hoàn toàn chủ động  trong việc  bố trí cơ cấu  đầu tư theo ngành và vùng lãnh thổ. Cũng có trường hợp việc  nhận đầu tư nối liền với sự du nhập những công nghệ thứ yếu, công nghệ mang theo chất thải ô nhiễm.

3. Các  hình thức chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Trong thực tiễn, hoạt động FDI có nhiều hình thức tổ chức cụ thể khác nhau tuỳ theo tính chất quản lý và vai trò của mỗi bên trong quá trình hợp tác đầu tư. Những hình thức thường được áp dụng (với các khái niệm sử dụng ở luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam):

3.1. Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng  (BCC) :Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành hoạt động đầu tư mà không thành lập pháp nhân.

3.2. Doanh nghiệp liên doanh :  Là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài  hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.

3.3. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: Là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam.

*Ngoài ra ta còn thấy có các hợp đồng xây dựng đầu tư theo phương thức đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư theo phương thức này:

3.4. Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT) : là phương thức đầu tư trong đó nhà đầu tư nước ngoài ký kết với cơ quan có thẩm quyền của  nước sở tại để tiến hành các hoạt động xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định. Hết thời hạn nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nhà nước Việt Nam.

3.5. Hợp đồng xây dựng  – chuyển giao – kinh doanh (BTO) : Là phương thức đầu tư trong đó cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài ký kết văn bản để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong rồi, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam, Chính phủ Việt Nam dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.

3.6. Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT) : Là phương thức đầu tư trong đó cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam, Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.

*Ngoài ra  cũng còn có các khu vực đầu tư nước ngoài như sau:

3.7. Khu chế xuất (FPZ) : Là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ thành lập hoặc cho phép thành lập.

3.8. Khu công nghiệp (IZ): là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất.

3.9. Khu công nghệ cao (HTZ) : là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị  hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu-triển khai khoa học-công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan, có ranh giới địa lý xác định; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong khu công nghệ cao có thể có doanh nghiệp chế xuất.

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Đề tài Đại học và được gắn thẻ , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s