Hoàn thiện công tác kế toán doanh thu – chi phí và xác định kết quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Hà Nội


CHƯƠNG I

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU_ CHI PHÍ VÀ XĐKQ CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ

I.TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM

I.1. Sự cần thiết khách quan và tác dụng của Bảo Hiểm

Trong cuộc sống sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày dù đã luôn luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhưng con người vẫn có nguy cơ gặp phải những nguy cơ bất ngờ xảy ra, các rủi ro đó do nhiều nguyên nhân như:

Các rủi ro do môi trường thiên nhiên: Bão, lụt, động đất, rét, hạn ….

Các rủi ro xảy ra do sự tiến bộ và phát triển của khoa học kỹ thuật: tai nạn ô tô, hàng không, tai nạn lao động v..v…

Các rủi ro do môi trường xã hội: thất nghiệp, trộm cắp, bệnh tật  v.v…

Bất kể do nguyên nhân gì, khi rủi ro xảy ra thường đem lại cho con người những khó khăn trong cuộc sống như mất hoặc giảm thu nhập, phá hoại tài sản, làm ngưng trệ sản xuất kinh doanh của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân v.v… làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế – xã hội nói chung.

          Để đối phó với các rủi ro, con người đã có nhiều biện pháp khác nhau nhằm kiểm soát cũng như khắc phục hậu quả mà rủi ro gây ra. Bảo hiểm là một phần quan trọng trong các chương trình quản lý rủi ro của các tổ chức cũng như cá nhân.

I.2. Những đặc trưng cơ bản của bảo hiểm

Hoạt động của bảo hiểm vừa có tính kinh tế vừa có tính xã hội, vừa mang đặc trưng của một nghành dịch vụ đặc biệt.

          Tính kinh tế  biểu hiện qua mối quan hệ giữa người tham gia với quỹ dự trữ bảo hiểm. Người tham gia nộp vào quỹ dự trữ dưới hình thức phí bảo hiểm; người bảo hiểm sử dụng quỹ đó để trợ cấp hoặc bồi thường thiệt hại cho người tham gia, nếu thiệt hại đó thuộc phạm vi rủi ro bảo hiểm. Mặt khác, người bảo hiểm sử dụng quỹ dự trữ đầu tư phát triển kinh tế xã hội, để tăng tích luỹ theo ngân sách v.v…

          Tính xã hội của bảo hiểm thể hiện tính cộng đồng, tính nhân đạo của bảo hiểm. Bảo hiểm hoạt động trên nguyên tắc số đông bù số ít, do đó bảo hiểm phải thu hút số đông người tham gia; phải xâm nhập vào mọi hoạt động trong nền kinh tế. Tính xã hội còn thể hiện trách nhiệm của xã hội đối với các thành viên của xã hội, như trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động v.v…

          Bảo hiểm là ngành dịch vụ đặc biệt với những đặc trưng cơ bản sau:

          + Sản phẩm vô hình: Nhà bảo hiểm bán các cam kết hay lời hứa về sự đảm bảo cho khách hàng.

+ Chu trình sản xuất ngược: Giá thành sản phẩm hoàn thành sau khi thời hạn bảo hiểm kết thúc, hay giá thành xác định được sau khi có giá bán sản phẩm.

+ Tâm lý người mua hàng: Nhằm đảm bảo yên tâm tinh thần mà không mong muốn lợi ích của sản phẩm, vì không momg có các sự kiện rủi ro xảy ra.

+ Người tiêu dùng không mong muốn tiêu dùng hàng hoá này trừ một số loại hình của bảo hiểm nhân thọ.

I.3. Hệ thống tổ chức Bảo Hiểm ở Việt Nam

Căn cứ tính chất hoạt động, bảo hiểm chia thành BHXH, BHYT và BH thương mại. Trong đó, BHXH và BHYT do Nhà nước tổ chức và quản lý thống nhất, thường do một cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế…) chịu trách nhiệm.

Bảo hiểm thương mại trực thuộc Bộ tài chính quản lý. Mô hình tổ chức chủ yếu là Tổng Công ty, công ty của các thành phần kinh tế ở các tỉnh, thành phố lớn. Tuỳ theo khả năng phát triển, các Tổng Công ty, công ty thành lập văn phòng đại diện ở các địa phương và tổ chức mạng lưới đại lý tiếp cận với khách hàng.

Thị trường bảo hiểm thương mại Việt Nam thực sự sôi động sau khi có Nghị định 100/CP của chính phủ về kinh doanh bảo hiểm.

II. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ

          Theo tiêu thức rủi ro bảo hiểm, bảo hiểm con người được chia thành 2 loại: Bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm con người phi nhân thọ.

+ Bảo hiểm con người phi nhân thọ là loại hình bảo hiểm chỉ liên quan đến các rủi ro như: Bệnh tật, tai nạn, mất khả năng lao động, và cả tử vong. Đặc điểm của loại này là không liên quan đến tuổi thọ của con người.

+ Bảo hiểm nhân thọ: Là loại hình bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro có liên quan đến tuổi thọ của con người.

II.1. Khái niệm bảo hiểm nhân thọ: Bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, mà trong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia hoặc người thụ hưởng quyền bảo hiểm một số tiền thoả thuận khi có sự kiện định trước xảy ra liên quan đến sinh mạng và sức khoẻ của con người, còn người bảo hiểm tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn. Nói cách khác, Bảo hiểm Nhân thọ là quá trình bảo hiểm rủi ro có liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của con người.

II.2. Các loại hình sản phẩm Nhân thọ cơ bản

Bảo hiểm Nhân thọ đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau. Do vậy, người bảo hiểm đã thực hiện đa dạng hoá các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, thực chất là đa dạng hoá các loại hợp đồng nhằm đáp ứng và thoả mãn mọi nhu cầu của người tham gia bảo hiểm. Có 3 loại hình Bảo hiểm Nhân thọ cơ bản:

+ Bảo hiểm trong trường hợp sống: (còn gọi là bảo hiểm sinh kỳ) nhằm chi trả cho người tham gia bảo hiểm một số tiền trợ cấp hay số tiền bảo hiểm, nếu đến một thời điểm nào đó được ấn định trong hợp đồng mà người được bảo hiểm vẫn còn sống như bảo hiểm tiền trợ cấp hưu trí, bảo hiểm niên kim nhân thọ .v.v.

          + Bảo hiểm trong trường hợp tử vong: Nhằm chi trả cho người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm nếu người được bảo hiểm chết tại một thời điểm được ấn định hoặc chết vào bất kỳ thời điểm nào tuỳ thuộc sự cam kết trong hợp đồng như bảo hiểm tử kỳ( bảo hiểm tạm thời hay bảo hiểm sinh mạng có thời hạn), bảo hiểm nhân thọ trọn đời ( bảo hiểm trường sinh )

          + Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp: Nhằm chi trả cho người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm số tiền trợ cấp hay số tiền bảo hiểm, nếu người được bảo hiểm hay người tham gia bảo hiểm sống đến một thời điểm quy định hay chết trước tại một thời điểm quy định trong hợp đồng. Thực chất bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp là loại hình bảo hiểm cùng một lúc bảo hiểm cho cả hai sự kiện “sống” và “chết” của người được bảo hiểm.

          + Các điều khoản bảo hiểm bổ sung: Khi triển khai các loại hình bảo hiểm nhân thọ, nhà bảo hiểm còn nghiên cứu, đưa ra các điều khoản bổ sung để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân.

II.3. Một số khái niệm liên quan đến Bảo hiểm Nhân thọ.

+ Người được bảo hiểm(NĐBH): Là người mà sinh mạng và cuộc sống của họ được bảo hiểm theo điều khoản của hợp đồng, có tên trong giấy yêu cầu bảo hiểm và phụ lục của hợp đồng bảo hiểm.

+ Người tham gia bảo hiểm(NTGBH): Là cá nhân hoặc tổ chức yêu cầu bảo hiểm, kê khai giấy yêu cầu, ký kết hợp đồng và nộp phí bảo hiểm. Người tham gia bảo hiểm có thể là: Người được bảo hiểm hoặc người có quyền lợi có thể được bảo hiểm đối với NĐBH.

+ Người được hưởng quyền lợi bảo hiểm(NĐHQLBH): Là người được nhận STBH hoặc hưởng quyền lợi bảo hiểm quy định trong hợp đồng bảo hiểm khi có sự kiện được bảo hiểm xảy ra. NĐHQLBH có thể là người được bảo hiểm, người do người tham gia bảo hiểm chỉ định với sự đồng ý của người được bảo hiểm hoặc người kế thừa hợp pháp của NĐBH.

+ Phí bảo hiểm: Là số tiền mà người tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ phải thanh toán cho công ty bảo hiểm để thực hiện cam kết trong hợp đồng bảo hiểm.

          + Giá trị giải ước: Là số tiền mà người tham gia bảo hiểm được nhận theo các quy định trong điều khoản của hợp đồng khi người tham gia bảo hiểm yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng trước khi đáo hạn hợp đồng hoặc khi hợp đồng chấm dứt hiệu lực.

II.4. Nhiệm vụ kế toán Doanh thu – Chi phí – Xác định Kết quả.

Để điều hành và quản lý toàn bộ hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp một cách có hiệu quả cao nhất, các doanh nghiệp phải nắm bắt được kịp thời, chính xác các thông tin kinh tế và các hoạt động, bao gồm “Chi phí đầu vào” và “Kết quả đầu ra. Trên cơ sở đó cung cấp những thông tin chính xác cần thiết cho việc ra quyết định, các phương án kinh tế tối ưu của doanh nghiệp.

Nhiệm vụ của kế toán Doanh thu – Chi phí – XĐKQ

          + Ghi chép phản ánh đầy đủ kịp thời các khoản doanh thu và chi phí phát sinh được thực hiện, số lượng các hợp đồng của tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành nhằm cung cấp thông tin kịp thời cho quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

+ Giám sát, kiểm tra tình hình thức hiện kế hoạch về doanh thu lợi nhuận và nộp ngân sách.

+ Tổ chức khoa học, hợp lý kế toán chi tiết, kết hợp chặt chẽ kế toán đại lý, văn phòng đại diện, chi nhánh công ty.

III. HẠCH TOÁN DOANH THU – CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ

III/A: KẾ TOÁN DOANH THU KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ.

1. Đặc điểm bán hàng và nội dung doanh thu hoạt động KDBH

1.1.Đặc điểm bán hàng trong hoạt động kinh doanh BHNT

Khác hẳn với các hoạt động bán hàng hoá, dịch vụ, việc bán hàng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm có những đặc điểm sau:

– Việc bán sản phảm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm là việc DNBH ký kết hợp đồng bảo hiểm với những khách hàng của mình( NĐBH ). Sản phẩm bảo hiểm ở đây là một cam kết pháp lý, cam kết bồi thường, trả tiền BH cho NĐBH khi xảy ra rủi ro, tổn thất được bảo hiểm.

Như vậy việc tiêu thụ sản phẩm bảo hiểm không đòi hỏi thời gian đưa sản phẩm đi tiêu thụ như việc tiêu thụ hàng hoá bình thường. Thời điểm khách hàng chấp nhận ký kết hợp đồng bảo hiểm cũng chính là thời điểm tiêu thụ sản phẩm. Đó là thời điểm doanh thu bán hàng được xác định để hạch toán.

– Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ngoài việc ký kết hợp đồng với những người tham gia bảo hiểm, DNBH còn có quan hệ mua và bán dịch vụ bảo hiểm với các doanh nghiệp bảo hiểm khác. Đó là hoạt động tái bảo hiểm bao gồm nhận tái và nhượng tái.

1.2. Nội dung doanh thu hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Doanh thu hoạt động kinh doanh bảo hiểm gồm:

          + Doanh thu phí bảo hiểm gốc: Tiền thu về phí bảo hiểm từ các hoạt động được ký kết với người dược bảo hiểm

+ Doanh thu nhận tái bảo hiểm: Tiền thu về phí nhận tái bảo hiểm và các khoản thu khác từ công ty nhượng tái bảo hiểm.

          + Doanh thu nhượng tái bảo hiểm: Tiền thu về hoa hồng nhượng tái bảo hiểm và các khoản thu khác từ công ty nhận tái bảo hiểm.

+ Doanh thu hoạt động khác ngoài hoạt động kinh doanh bảo hiểm như doanh thu về dịch vụ giám định, đại lý, đòi bồi thường.v.v.

Khi hạch toán doanh thu cần phân biệt các loại doanh thu sau:

+ Doanh thu bán hàng (Doanh thu thực thu): Là tiền thu về phí bảo hiểm gốc và phí nhận tái bảo hiểm, hoa hồng nhượng tái bảo hiểm, thu về đại lý giám định, đại lý séc bồi thường, đại lý đòi người thứ ba, thu xử lý hàng bồi thường 100% và các khoản thu khác về hoạt động bảo hiểm.

+ Doanh thu bán hàng thuần là doanh thu bán hàng sau khi giảm trừ các khoản phí nhượng tái bảo hiểm, hoàn phí bảo hiểm, hoa hồng nhượng tái bảo hiểm, giảm phí bảo hiểm và các khoản giảm trừ khác.

+ Doanh thu phát sinh là khoản doanh thu từ những hợp đồng được trả phí và hoa hồng trong nhiều kỳ.

1.3. Vai trò, nhiệm vụ của kế toán doanh thu bảo hiểm:

+ Ghi chép phản ánh đầy đủ kịp thời các khoản doanh thu và chi phí phát sinh được thực hiện, số lượng các hợp đồng của tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành nhằm cung cấp thông tin kịp thời cho quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

+ Giám sát, kiểm tra tình hình thức hiện kế hoạch về doanh thu lợi nhuận và nộp ngân sách.

+ Tổ chức khoa học, hợp lý kế toán chi tiết, kết hợp chặt chẽ kế toán đại lý, văn phòng đại diện, chi nhánh công ty.

2. Kế toán doanh thu kinh doanh bảo hiểm.

2.1. Đối tượng phương pháp kế toán kinh doanh bảo hiểm.

Đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đối tượng tập hợp chi phí theo từng hoạt động: Kinh doanh bảo hiểm gốc, nhượng và nhận tái bảo hiểm chi tiết cho từng sản phẩm đến từng hợp đồng. Đó là căn cứ để mở tài khoản, các sổ chi tiết, tổ chức ghi chép và hạch toán ban đầu, tập hợp số liệu doanh thu phát sinh chi tiết cho từng đối tượng theo địa điểm phát sinh giúp cho công tác quản lý đạt hiệu quả cao.

2.2. Chứng từ, hệ thống sổ kế toán được sử trong kế toán doanh thu kinh doanh bảo hiểm:

v    Chứng từ.

Ngoài các chứng từ kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp nói chung, hiện nay ở các doanh nghiệp bảo hiểm còn có một số mẫu chứng từ đặc thù là:

+ Biên lai thu phí bảo hiểm tạm thời

+ Phiếu tạm thu.

+ Phiếu thu

+ Bảng kê thanh toán bù trừ các khoản thu, chi kinh doanh bảo hiểm gốc, nhượng và nhận tái bảo hiểm

v    Sổ sách.

+ Sổ tổng hợp:

Sổ cái TK 51111, TK 5112, TK 5113, TK 13111.

+ Sổ chi tiết:

Sổ chi tiết TK 51111, TK13111(Chi tiết theo hoạt động).

v    Báo cáo kế toán.

Báo cáo thu phí bảo hiểm gốc.

Báo cáo thanh toán thu kinh doanh bảo hiểm

Báo cáo tổng hợp thu chi hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc, nhận và nhượng tái bảo hiểm.

2.3. Tài khoản kế toán sử dụng

v    Tài khoản 511 – Doanh thu bán hàng (doanh thu thực thu)

* Kết cấu, nội dung phản ánh của tài khoản:

          Bên Nợ:

+ Số thuế VAT phải nộp.

+ Chuyển phí nhượng tái bảo hiểm

+Trị giá hàng bán bị trả lại (bao gồm hoàn phí bảo hiểm gốc, hoàn phí nhận tái bảo hiểm, hoa hồng nhượng tái bảo hiểm,…)

+ Khoản giảm giá hàng bán

+ Kết chuyển doanh thu thuần vào tài khoản xác định kết quả kinh doanh.

          Bên Có:

+ Doanh thu thực tế đã được thanh toán của hoạt động kinh doanh bảo hiểm và các hoạt động kinh doanh khác thực hiện trong kỳ hạch toán.

Tài khoản 511 không có số dư cuối kỳ.

* Tài khoản 511-Doanh thu thực thu, có 4 tài khoản cấp 2:

Tài khoản 5111 – Doanh thu bảo hiểm gốc

          Tài khoản 5112 – Doanh thu nhận tái bảo hiểm

          Tài khoản 5113 – Doanh thu nhượng tái bảo hiểm

Tài khoản 5118 – Doanh thu các hoạt động khác

v    Tài khoản 512 – Doanh thu bán hàng nội bộ

Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu của hàng hoá, dịch vụ, lao vụ tiêu thụ trong nội bộ.

v    Tài khoản 513 – Doanh thu phát sinh

* Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 513 “doanh thu phát sinh”:

Bên Nợ: Kết chuyển doanh thu từng kỳ sang TK 511 “Doanh thu bán hàng”, phần phí bảo hiểm, phải thu của kỳ kế toán( không có thuế GTGT).

Bên Có: Doanh thu của hoạt động kinh doanh bảo hiểm và các hoạt động khác chưa được thanh toán.( theo giá chưa có thuế VAT)

Số dư bên Có: Số doanh thu bảo hiểm phát sinh chưa đến kỳ thanh toán( giá chưa có thuế VAT)

Tài khoản 513 – Doanh thu phát sinh có 3 tài khoản cấp 2

          * Tài khoản 5131 – Doanh thu bảo hiểm gốc

* Tài khoản 5132 – Doanh thu nhận tái bảo hiểm

* Tài khoản 5133 – Doanh thu nhượng tái bảo hiểm

          * Tài khoản 5138 – Doanh thu các hoạt động khác

v     Ngoài ra để hạch toán doanh thu, kế toán còn sử dụng một số TK khác

a) TK531: Hàng bán bị trả lại

Bên Nợ:

+ Phí bảo hiểm gốc, phí nhận tái bảo hiểm và hoa hồng nhận tái bảo hiểm phải hoàn trả cho khách hàng do thay đổi hợp đồng kinh tế.

+ Trị giá của hàng hoá, dịch vụ đã bán bị trả lại phải trả cho khách hàng.

Bên Có: Kết chuyển trị giá của hàng bán bị trả lại vào bên Nợ TK 511 “Doanh thu thực thu” hoặc TK 512 – “ Doanh thu bán hàng nội bộ “, để xác định doanh thu thuần trong kỳ hạch toán.

Số dư bên Nợ: Số phí bảo hiểm gốc, phí nhượng tái bảo hiểm và hoa hồng nhượng tái bảo hiểm chưa hoàn trả cho khách hàng

b) Tài khoản 532: Giảm giá hàng bán

Kết cấu và  nội dung phản ánh của tài khoản 532

Bên Nợ:

+ Các khoản hoàn một tỷ lệ phí bảo hiểm gốc và nhận tái bảo hiểm phải trả cho khách hàng do không xảy ra tai nạn tổn thất theo hợp đồng đã cam kết.

+ Các khoản giảm giá hàng bán được chấp thuận

Bên Có:

+ Kết chuyển toàn bộ số giảm giá hàng bán sang tài khoản doanh thu thực thu.

+ Kết chuyển toàn bộ số hoàn trả cho khách hàng do không xảy ra tai nạn tổn thất vào TK 511.

Tài khoản 532 không có số dư cuối kỳ

c) Tài khoản 533: Chuyển phí nhượng tái bảo hiểm

Kết cấu, nội dung phản ánh của tài khoản 533:

Bên Nợ: Phí nhượng tái bảo hiểm phải chuyển cho nhà nhận tái bảo hiểm theo hợp đồng cam kết.

Bên Có: Kết chuyển toàn bộ số đã thực chuyển phí nhượng tái bảo hiểm cho nhà nhận tái bảo hiểm.

Số dư bên Nợ: Số phí nhượng tái bảo hiểm chưa chuyển cho nhà nhận tái bảo hiểm.

d) Các tài khoản khác:

+ TK133   : Thuế GTGT được khấu trừ

+ TK 3331: Thuế GTGT phải nộp.

+ TK 111: Tiền VNĐ

+ TK 112 – Tiền gửi ngân hàng

+ TK 131- Phải thu của khách hàng.

Bên Nợ: Số tiền phải thu của khách hàng liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm như phí bảo hiểm, hoa hồng nhượng tái bảo hiểm.

Bên Có:  Số tiền đã thu của khách hàng

Số dư bên Nợ: Số tiền còn phải thu của khách hàng.

          TK1311 – Phải thu về hoạt động bảo hiểm gốc.

TK 1313-Phải thu về hoạt động nhận tái bảo hiểm

          TK 1313: Phải thu về hoạt động nhượng tái bảo hiểm.

TK 331( TK 3311): Phải trả người tham gia bảo hiểm.

2.3. Phương pháp kế toán doanh thu hoạt động kinh doanh bảo hiểm:

2.3.1. Kế toán tổng hợp doanh thu kinh doanh bảo hiểm gốc:

Trình tự hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình thực hiện doanh thu bảo hiểm gốc được thể hiện qua sơ đồ 01:

Lưu ý: Định kỳ, căn cứ vào số phí bảo hiểm gốc phải thu trong kỳ theo hợp đồng kế toán ghi bút toán kết chuyển:

Nợ TK 5131(51311): Doanh thu bảo hiểm gốc( Không có VAT).

Có TK5111( 51111): Doanh thu bán hàng( Không có VAT).

          Đồng thời ghi:

Nợ TK 131(13111): Phải thu của khách hàng.(Chi tiết theo nghiệp vụ)

Có TK 3331(33311): Thuế GTGT phải nộp.(Chi tiết theo nghiệp vụ)

2.3.2. Kế toán tổng hợp doanh thu kinh doanh nhận tái bảo hiểm:

Trình tự hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình thực hiện doanh thu nhận tái bảo hiểm được thể hiện qua sơ đồ 02

2.3.3. Kế toán tổng hợp doanh thu kinh doanh nhượng tái bảo hiểm

Trình tự hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình thực hiện doanh thu nhượng tái bảo hiểm được thể hiện qua sơ đồ 03.

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Đề tài Đại học và được gắn thẻ , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s