Điạ vị pháp lý của doanh nghiệp liên doanh theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000


LỜI NÓI ĐẦU

Chiến tranh, cấm vận và những sai lầm trong chỉ đạo kinh tế đã làm cho nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế khá trầm trọng. Chỉ sau khi đường lối đổi mới được Đảng thông qua tại Đại Hội VI năm 1986 , nền kinh tế nói chung và hoạt động hợp tác đầu tư với nước ngoài nói riêng mới bắt đầu có hướng đi. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua vào tháng 12/ 1987 . Kể từ đó , Việt Nam bước vào một thời kỳ mới – thời kỳ hoạt động sôi  nổi của hợp tác đầu tư vơí nước ngoài

Sau hơn 10 năm tiến hành hoạt động hợp tác với nước ngoài , chúng ta có quyền khẳng định những thành quả thu được là to lớn, góp phần tích cực vào sự phát triển nền kinh tế – xã hội của đất nước,  khẳng định chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Đảng ta là vô cùng đúng đắn.

Thực tế . Ở nước ta cho thấy đến giữa năm 1998 Bộ kế hoạch và Đầu tư đã cấp giấy phép cho 2.379  dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký là 32,295 tỷ USD, thì số vốn đầu tư dưới hình thức liên doanh chiếm 66% . Đầu năm 2000 là 58,4% . Chính vì vậy doanh nghiệp liên doanh đóng vai trò quan trọng tạo ra một sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng hợp lý hơn, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Mặt khác dưới hình thức doanh nghiệp liên doanh còn kích thích đối với việc thu hút vốn đầu tư trong nước

Doanh nghiệp liên doanh được thành lập ở hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như : Hà nội , thành phố Hồ Chí Minh, Hải phòng, Đồng Nai …Doanh nghiệp liên doanh được thành lập ở nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau…

Trong  thời gian tới, nhu cầu về vốn đầu tư ngày càng tăng , việc khai thác  nguồn vốn đầu tư nước ngoài trở nên bức thiết, trong đó thu hút vốn đầu tư nước ngoài qua thành lập doanh nghiệp liên doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo. Hơn nữa, thu hút vốn đầu tư nước ngoài thông qua doanh nghiệp liên doanh còn là điều quan trọng để đạt được các mục tiêu về công nghệ, kinh nghiệm quả lý … Với ý nghĩa đó , Nhà nước ta rất chú trọng xây dựng một môi trường đầu tư thuận lợi và sẽ giành sự ưu đãi thích hợp cho loại hình doanh nghiệp này

Cho đến nay doanh nghiệp liên doanh vẫn là loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phổ biến nhất. Tuy nhiên đã xuất hiện một số vấn đề đối với doanh nghiệp liên doanh: Sự quan tâm của nhà đầu tư về doanh nghiệp liên doanh giảm đi ( tỷ trọng số doanh nghiệp liên doanh giảm trong số các dự án đầu tư nước ngoài ), hiệu quả của hoạt động doanh nghiệp liên doanh thấp

Xuất phát từ thực tế nêu trên, sau khi nghiên cứu và cân nhắc em quyết định chọn đề tài: ” Điạ vị pháp lý của doanh nghiệp liên doanh theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 ” làm đề tài Khoá luận tốt nghiệp . Mục đích của bài Khoá luận này nhằm làm rõ vai trò địa vị pháp lý của doanh nghiệp liên doanh .

Bài khoá luận được kết cấu gồm:

LỜI NÓI ĐẦU .

CHƯƠNG I : Những vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư nước nước ngoài tại Việt Nam .

CHƯƠNG II : Địa vị pháp lý của doanh nghiệp liên doanh theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000

CHƯƠNG III :  Thực trạng Doanh nghiệp liên doanh theo luật đầu tư nước ngoài và phương hướng hoà thiện các quyết định về Doanh nghiệp liên doanh

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Để hoàn thành bài Khoá luận này, em đã gặp một số khó khăn vì đây là lần đầu tiên nghiên cứu về đề tài mang tính chất chuyên ngành cụ thể. Hơn nữa năng lực của một sinh viên còn hạn chế, nên bài viết không thể tránh khỏi những khiếm khuyết về nội dung và hình thức, em rất mong được sự góp ý của thầy, cô giáo và các bạn để bài Khoá luận của em  được hoàn thiện tốt hơn.

CHƯƠNG I

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

Trong chiến lược kinh tế mở  ở nước ta, từ khi thực hiện Luật đầu tư nước ngoài (năm 1987) việc thu hút đầu tư nước ngoài đã góp phần tích cực đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của đất nước , dần thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội , thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và hội nhập với các nước trên khu vực và thế giới.

Như vậy mở rộng hợp tác đầu tư nước ngoài là một đòi hỏi khách quan trong chính sách tổng thể phát triển đất nước của chúng ta, đòi hỏi Việt Nam phải có biện pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Ngày 18/4/1977 nước ta thông qua “Điều lệ đầu tư nước ngoài”, ngày 29/12/87 Luật đầu tư nước ngoài được Quốc Hội thông qua và đến nay được bổ sung nhiều lần vào ngày 30/6/1990, ngày 23/12/1992 , ngày 12/11/1996 và ngày gần đây nhất là ngày  9/6/2000.

Qua các lần sửa đổi và bổ sung Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày càng hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài và phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế Việt Nam nên được các nhà đầu tư nước ngoài hết sức quan tâm.

1.1 KHÁI NIỆM ĐẦU TƯ NGOÀI VÀ CÁC LOẠI HÌNH ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

1.1.1 Khái niệm đầu tư nước ngoài :

Đầu tư nước ngoài là những phương thức đầu tư vốn tài sản ở nước ngoài để tiến hành sản xuất, kinh doanh dịch vụ với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định .

Về bản chất, đầu tư quốc tế là những hình thức sản xuất tư bản, một  hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá. Đây là hai hình thức xuất khẩu luôn bổ xung và hỗ trợ nhau  trong chiến lược thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường của các công ty, tập đoàn  nước ngoài hiện nay. Nhiều trường hợp việc buôn bán hàng hoá  ở nước sở tại  là bước đi tìm hiểu thị trường, luật lệ để đi đến quyết định đầu tư . Đến lượt mình việc thành lập các doanh nghiệp đầu tư ở nước sở tại là điều kiện để xuất khẩu các máy móc vật tư nguyên vật liệu và khai thác tài nguyên của nước chủ nhà . Cùng với hoạt động thương mại quốc tế, hoạt động đầu tư quốc tế phát triển mạnh mẽ hợp thành những hoạt động chính trong trào lưu có tính quy luật của qúa trình phát triển kinh tế toàn cầu hiện nay.

Khái niệm đầu tư nước ngoài trong Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam được hiểu là đầu tư trực tiếp, là ” Việc tổ chức cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ”.

1.1.2 Các loại hình đầu tư nước ngoài.

Trên thế  giới tồn tại hai hình thức đầu tư nước ngoài phổ biến là :

– Đầu tư trực tiếp nước ngoài

– Đầu tư gián tiếp nước ngoài .

1.1.2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn góp bằng tiền mặt hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam .

Đặc điểm nổi bật nhất của FDI  so với đầu tư gián tiếp là ở vai trò và mức độ tham gia quản lý điều hành vốn của chủ đầu tư. Quyền quản lý doanh nghiệp của bên nước ngoài phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn, nếu góp 100% vốn thì cơ sở được đầu tư do bên nước ngoài điều hành, lợi nhuận thu được sau khi đã trừ thuế sẽ phân chia cho các bên tham gia tuỳ theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên. Với hoạt động đầu tư góp vốn này các nhà sản xuất kinh doanh trực tiếp quản lý, điều hành cơ sở kinh tế mà họ đã bổ vốn đầu tư, đồng thời họ dễ chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ sản phẩm và nguồn cung cấp nguyên liệu của nước chủ nhà, đồng thời tránh được các hàng rào bảo hộ mậu dịch với bên tiếp nhận đầu tư. Đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là biện pháp khai thác vốn tốt nhất kèm theo tiếp thu công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến…

1.1.2.2 Đầu tư gián tiếp nước ngoài.

Là việc đầu tư nước ngoài góp vốn kinh doanh vào doanh nghiệp của nước sở tại và không tham gia quản lý điều hành hoạt động của cơ sở được đầu tư đó

Hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài có nhiều hình thức như tín dụng quốc tế, mua trái phiếu, ODA(vốn tài trợ phát triển chính thức )… Trong đó, đáng chú ý nhất là ODA –  đây là một loại hình đầu tư nước ngoài có nhiều đặc thù, phần lớn do các nước công nghiệp phát triển và tổ chức tài chính quốc tế cung cấp. Các lĩnh vực được quan tâm ưu tiên đầu tư là các dự án về cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục… Ngoài ra còn có sự ưu đãi nhất định như thời gian vay nợ dài, lãi suất thấp,  một phần được viện trợ không hoàn lại và trong tôn chỉ của mình vốn ODA được trợ giúp trên tinh thần nhân đạo. Vì tất cả những lý do đó nên ODA dù là song phương hay đa phương đều gắn bó với những điều kiện nhất định về chính trị . Do vậy khai thông chính trị là điều kiện tiên quyết thu hút vốn ODA.

Nhìn chung, đầu tư gián tiếp nước ngoài tuy có ưu điểm là tránh được rủi ro, chủ thể đầu tư lại không tham gia quản lý điều hành hoạt động đầu tư. Tuy nhiên lợi nhuận thu được cũng không phải là nguồn thu hấp dẫn đối với nước sở tại, nguồn lợi thu được từ đầu tư gián tiếp nước ngoài rất cần thiết nhưng lại quá ít ỏi so với nhu cầu của nước tiếp nhận đầu tư .

Như vậy có thể nói rằng, hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài không hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời Việt Nam cũng không thể phát triển và tăng trưởng nền kinh tế nếu chỉ chông đợi vào nguồn vốn do hoạt động đầu tư gián tiếp mang lại .

Nhận thức được tác dụng của việc thu hút FDI nên ngày 12/11/ 1996 Quốc Hội đã thông qua Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Sau 4 năm thi hành luật việc đầu tư trực tiếp nước ngoài  vào Việt nam  đã đạt nhiều kết quả. Để tiếp tục tạo dựng một môi trường pháp lý đồng bộ, thông thoáng ổn định cho hoạt động đầu tư, tăng cường tính hấp dẫn và cạnh tranh của môi trường đầu tư Việt Nam, tranh thủ nhiều hơn nguồn vốn và kỹ thuật tiên tiến… Ngày 9/6/2000 Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung và ngày 31/7/2000 Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2000/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Chính vì vậy, Điều 1 Nghị định 24/2000 NĐ-CP đã nêu rõ ” Những hoạt động tín dụng quốc tế , hoạt động thương mại và các hình thức đầu tư gián tiếp khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của nghị định này ”.

1.2 TÁC ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ  VIỆT NAM.

Qua phân tích nội dung của các nhà kinh tế học về ý nghĩa của FDI, ta thấy FDI có những thế mạnh của nó. Dù vẫn chịu chi phối của Chính phủ, nhưng FDI ít lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa hai bên, mặt khác bên nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý sản xuất kinh doanh nên mức độ khả thi của dự án khá cao, đặc biệt là trong việc tiếp cận thị trường quốc tế để mở rộng xuất khẩu. Do quyền lợi gắn chặt với dự án, họ rất quan tâm đến hiệu quả kinh doanh nên có thể lựa chọn công nghệ thích hợp, nâng cao trình độ quản lý và tay nghề công nhân, vì thế FDI ngày càng có ý nghĩa to lớn đối với việc thúc đẩy quá trình phát triển các nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư, do vậy để đạt được sự tăng trưởng cao và ổn định nhằm đưa đất nước ra khỏi cảnh đói nghèo thì các nước đang phát triển nói chung, Việt Nam nói riêng phải tìm kiếm các nguồn lực thiếu hụt đó ở các nước công nghiệp phát triển, thông qua hoạt động hợp tác đầu tư. Ở Việt Nam hiện nay nguồn vốn được bổ sung ở bên ngoài gồm FDI và ODA, trong đó FDI là chủ yếu.

Ngoài ý nghĩa tăng cường vốn đầu tư nội địa, FDI còn bổ sung đáng kể nguồn thu ngân sách thông qua nguồn thu từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là nguồn ngoại tệ quan trọng để đầu tư vào các dự án công cộng trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việt Nam.

FDI giúp đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền khinh tế đất nước. Để đạt được những chỉ tiêu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong những năm tới, thì tốc độ phát triển bình quân hàng năm phải đạt ít nhất 7% và nhu cầu về vốn đầu tư có từ 4,2 tỷ USD trở nên cho mỗi năm, đây là con số không nhỏ đối với nền kinh tế nước ta, cho nên FDI là nguồn bổ sung quan trọng để phát triển nền kinh tế Việt Nam.

FDI đem lại khả năng mở rộng quy mô sản xuất dịch vụ mới làm cho tổng sản phẩm xã hội của Việt Nam tăng nên và cho phép giải quyết được tình trạng thất nghiệp của người lao động.

Thông qua đầu tư nước ngoài chúng ta tiếp nhận thành tựu phát triển khoa học – kỹ thuật tiên tiến của thế giới, nhờ đó rút ngắn khoảng cách của ta vơí thế giới, sử dụng những lợi thế của đất nước mà nhiều năm qua không thể thực hiện được do thiếu vốn như lĩnh vực khai thác dầu mỏ, khoáng sản…

Ngoài ra, trong quá trình tiếp nhận đầu tư nước ngoài, chúng ta học được kinh nghiệm quản lý kinh doanh và cách làm kinh tế thương mại trong điều kiện kinh tế thị trường ở các nước tiên tiến.

Tóm lại: Đầu tư nước ngoài có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để đưa nước ta nhanh chóng hội nhập với sự phát triển của thế giới và khu vực.

1.3 LUẬT DẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM – QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN.

Việt Nam là một trong số các nước duy trì hai hệ thống Luật khác nhau

áp dụng cho hai lĩnh vực thu hút vốn trong nước và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, đó là Luật khuyến khích đầu tư trong nước và Luật đầu tư nước ngoài . Điều này đã gây ra nhiều tranh cãi cho các nhà đầu tư, nhưng sự song song của hai hệ thống này hoàn toàn phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam về bản chất, FDI là các hoạt động đầu tư ra nước ngoài trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh trong lao động quốc tế, nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao ở phạm vi toàn cầu nên có ảnh hưởng như con dao hai lưỡi đối với nước tiếp nhận đầu tư .

Trong nhiều trường hợp mặc dù tỷ lệ FDI cao trong tổng số vốn đầu tư nhưng điều đó không có nghĩa là nó có tác dụng tích cực đối với nước tiếp nhận đầu tư, mà vấn đề cơ bản ở đây là sử dụng vốn đầu tư đó như thế nào cho mang lại hiệu quả cao nhất. Thông thường cứ 1USD vốn đầu tư nước ngoài cần 3 đến 4USD vốn đối ứng trong nước nếu đạt tỷ lệ này nước tiếp nhận đầu tư hoàn toàn khắc phục được các mặt tiêu cực FDI mang lại như: sự độc quyền của các tập đoàn nước ngoài, sự lệ thuộc của các doanh nghiệp trong nước vào phía đối tác, sự gia tăng phân cách giàu nghèo, sự can thiệp của các công ty đa quốc gia có tiềm lực kinh tế mạnh vào đường lối phát triển kinh tế của nước sở tại. Hiện nay Việt Nam đang cố gắng để vốn trong nước bằng và có thể lớn hơn vốn đầu tư nước ngoài và kế hoạch này nằm trong mục tiêu phát triển qua năm 2000.

Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 là cơ sở pháp lý hoàn chỉnh đầu tiên cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, chỉ trong một thời gian ngắn Luật đã được sửa đổi, bổ sung qua các năm 1990, 1992, 1996, theo hướng thông thoáng ngày càng hấp dẫn hơn Luật dầu tư nước ngoài năm 1996. Sau khi sửa đổi, bổ sung ngày 9/6/2000 và các văn bản hướng dẫn chi tiết được các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao so với Luật đầu tư nước ngoài của các nước trong khu vực. Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam không hạn chế lĩnh vực đầu tư nhưng theo quy định chung của pháp luận Việt Nam, chủ đầu tư nước ngoài không được phép đầu tư vào lĩnh vực nào mà nhà nước Việt Nam giữ độc quyền hoặc những nghành nghề mà pháp luật Việt Nam cấm kinh doanh.

Trong kỳ họp Quốc hội khoá X vừa qua, Quốc hội nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam thông qua văn bản “sửa dổi, bổ sung Luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam”, đây là sự phát triển hơn nữa của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trên con đường hoàn thiện và hoàn chỉnh môi trường pháp lý dành cho đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

1.3.1 Các hình thức đầu tư nước ngoài theo luật đầu tư năm 2000.

Hiện nay hầu hết các chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước trên thế giới đều phải dựa vào hai yếu tố, đó là tình hình kinh tế trong nước và luật pháp đầu tư phải phù hợp với pháp luật quốc tế và thông lệ quốc tế.

Nghị quyết Trung ương 7(khoá 7) đã nhấn mạnh : Trong công cuộc hiện đại hoá đất nước vốn trong nước là cơ bản, vốn nước ngoài là quan trọng. Để nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại chúng ta phải vận dụng nhiều hình thức hợp tác và đa dạng hoá các quan hệ kinh tế với nước ngoài.

Nhà nước ta khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam dưới các hình thức sau :

– Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh

– Doanh nghiệp liên doanh

– Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

1.3.1.1 Hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên (gọi là các bên hợp doanh) quy định trách nhiệm và phân chia kết quả  kinh doanh cho mỗi bên, để tiến hành kinh doanh ở Việt Nam mà không thành lập pháp nhân.

Đặc điểm của hình thức này là:

– Hợp đồng sản xuất , kinh doanh , thực hiện phân chia lợi nhuận hoặc kết quả kinh doanh

– Không thành lập pháp nhân

– Hình thành các quyền và nghĩa vụ các bên đối với nhau trên cơ sở hợp đồng . Bên nước ngoài thực hiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Bên Việt Nam thực hiện các nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật áp dụng đối với doanh nghiệp trong nước.

Trên thực tế đây không phải là một hình thức phổ biến ở Việt Nam dù hình thức này có đặc điểm là đơn giản hoá quá trình đầu tư. Mỗi bên có quyền và nghĩa vụ đối với nhau và mỗi bên có nghĩa vụ độc lập với nhà nước và pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên hình thức hợp tác kinh doanh có hạn chế là tạo ra những khó khăn trong việc các bên kiểm soát hoạt động của nhau như về chi phí sản xuất, lợi nhuận thu được …

Về cơ bản chính phủ Việt Nam quy định hình thức này là để tạo điều kiện cho cả hai Bên Việt Nam và Bên nước ngoài có thể thự hiện việc đầu tư trong trường hợp không có điều kiện để thành lập doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong quá trình tham gia đầu tư ở Việt Nam.

1.3.1.2 Doanh nghiệp liên doanh.

Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa một bên hoặc các bên Việt Nam với một bên hoặc các bên nước ngoài để đầu tư , kinh doanh tại Việt Nam.

Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm với bên kia, với doanh nghiệp liên doanh trong phạm vi vốn góp của mình và vốn pháp định.

Luật sửa đổi, Luật đầu tư nước ngoài 1992 mở rộng một số hình thức doanh nghiệp, đó là doanh nghiệp liên doanh mới. ” Doanh nghiệp liên doanh mới, là doanh nghiệp được thành lập giữa doanh nghiệp liên doanh đã được phép hoạt động tại Việt Nam với nhà đầu tư nước ngoài hoặc với doanh nghiệp Việt Nam hoặc với doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100 % vốn nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam ”

Trong trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp liên doanh được thành lập trên cơ sở ký hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước ngoài (ví dụ : Việt Xô Petro)

Doanh nghiệp liên doanh được hoạt động kể từ ngày được cấp giấy phép đầu tư với những ưu đãi như sau:

– Vấn đề góp vốn: Tỷ lệ vốn góp của bên nước ngoài hoặc của các nước ở bên nước ngoài không được thấp hơn 30% vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh (vốn pháp định của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là mức vốn phải có để thành lập doanh nghiệp ghi trong điều lệ doanh nghiệ ).

Quy định này thể hiện sự nới lỏng hơn so với điều lệ đầu tư 1977 quy định Bên nước ngoài chỉ được góp vốn không quá 49%  vốn pháp định. Việc không giới hạn tối đa về phần vốn góp của Bên nước ngoài tạo điều kiện cho Việt Nam thu hút nhiều vốn đầu tư và cũng là hình thức khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn kinh doanh ở Việt Nam.

Thời hạn đầu tư có thể kéo dài 50 năm, trường hợp đặc biệt có thể lên tới 70 năm. Quy định này tạo một phần đáng kể cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các doanh nghiệp, các lĩnh vực kinh tế mà thời gian thu hồi vốn lâu như xây dựng cơ sở hạ tầng, công nghiệp nặng, lâm nghiệp…

– Việc chuyển nhượng vốn trong doanh nghiệp liên doanh:

Chuyển nhượng là một giải pháp thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài tiến hành kinh doanh tại Việt Nam. Khi bên nước ngoài gặp khó khăn về tài chính hoặc vì một lý do nào đó không thể tiếp tục tham gia góp vốn như trong hợp đồng liên doanh đã quy định, đồng thời việc kinh doanh kém hiệu quả thì có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình, nếu chuyển nhượng cho doanh nghiệp ngoài liên doanh thì điều kiện chuyển nhượng không được thuận lợi hơn so với điều kiện đã đặt ra cho các bên trong doanh nghiệp liên doanh, việc chuyển nhượng vốn phải được các bên trong doanh nghiệp liên doanh thoả thuận.

Quyền chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Khác với doanh nghiệp Nhà nước phải chịu sự quản lý của cơ quan chủ quản, doanh nghiệp liên doanh hoạt động độc lập tự quyết định mọi hoạt động của mình,  như vậy Chính phủ Việt Nam đã thực hiện chính sách không can thiệp vào hoạt động kinh tế của doanh nghiệp liên doanh. Nhà nước chỉ điều tiết ở tầng vĩ mô nhằm duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh trong một hành lang pháp lý nhất định ổn định và bền vững.

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Đề tài Đại học và được gắn thẻ , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s