THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH ẢO ỨNG DỤNG TRONG DẠY NGHỀ ĐIỆN ÔTÔ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KTCN VIỆT NAM- HÀN QUỐC- NGHỆ AN


MỞ ĐẦU

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1. Quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng về phát triển dạy nghề trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề ra chủ trương phát triển Giáo dục, đào tạo và dạy nghề giai đoạn 2006-2010 là:

“Phát triển mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế động lực và cho xuất khẩu lao động. Mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề, phát triển trung tâm dạy nghề quận huyện. Tạo chuyển biên căn bản về chất lượng dạy nghề tiếp cận với trình độ tiên tiên của khu vực và thê’ giới. Đẩy mạnh xã hội hoá, khuyên khích phát triển các hình thức dạy nghề đa dạng, tinh hoạt: dạy nghề ngoài công lập, tại doanh nghiệp, tại làng nghề….”

Thể chế hoá chủ trương của Đảng về phát triển dạy nghề, Quốc hội đã ban hành Luật Giáo dục- năm 2005, quy định dạy nghề có ba trình độ đào tạo (Sơ cấp nghề, Trung cấp nghề và Cao đẳng nghề); Luật Dạy nghề- năm 2006, quy định chi tiết về tổ chức, hoạt động của CSDN; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động dạy nghề. Trong Luật Dạy nghề đã xác định chính sách đầu tư của Nhà nước về phát triển dạy nghề: “Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để đổi mở nội dung, chương trình và phương pháp dạy nghề, phát triển đội ngũ giáo viên, hiện đại hoá thiết bị, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề, tập trung xây dựng một số cơ sở dạy nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới; chú trọng phát triển dạy nghề ở các vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn; đầu tư đào tạo các nghề thị trường lao động có nhu cầu, nhưng khó thực hiện xã hội hoá. 

Hiện tại, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề ở nước ta còn thấp (khoảng 25% năm 2009) chất lượng GD- ĐT nói chung và chất lượng đào tạo nghề nói riêng còn nhiều bất cập, nhất là cơ cấu đào tạo. Trình độ nhân lực chưa đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của thị trường lao động trong nước và quốc tế. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB) chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,89 điểm (thang điểm l0)- xếp thứ 11 trong 12 nước ở Châu Á được tham gia xếp hạng.

2. Thực trạng công tác dạy nghề ở nước ta hiện nay

Thực hiện các Nghị quyết của Đảng về định hướng phát triển dạy nghề và Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, từ năm 2001 đến nay ngành Dạy nghề đã được phục hồi sau một thời gian dài bị suy giảm, từng bước được đổi mới và phát triển đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cấu nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ phục vụ phát triển kinh tế- xã hội.

Mạng lưới các cơ sở dạy nghề (CSDN) giai đoạn 2001- 2009 được phát triển theo quy hoạch trên toàn quốc, đa dạng về hình thức sở hữu và loại hình đào tạo Bên cạnh những kết quả đã đạt được, ngành Dạy nghề vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém, bất cập, do vậy chất lượng dạy nghề còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động.

Một trong những nguyên nhân cơ bản phải kể đến đó là do các điều kiện bảo đảm chất lượng dạy nghề tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn bất thường

– Đội ngũ giáo viên còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, nhất là trình độ kỹ năng thực hành nghề, ngoại ngữ, tin học ứng dụng, phương pháp giảng dạy;

– Nhiều chương trình, giáo trình dạy nghề chậm được cập nhật, sửa đổi, bổ sung để phù hợp với yêu cầu của sản xuất, kinh doanh, dịch vụ;

– Nhiều CSDN có diện tích nhỏ so với quy mô đào tạo, thiếu xưởng thực hành, ký túc xá, khu thể dục thể thao; trang thiết bị dạy nghề thiếu về chủng loại, số lượng và lạc hậu về công nghệ.

3. Thực trạng dạy học t­ương tác trong các truờng Cao đẳng nghề.

* T­ương tác trong dạy học tr­ước đây.

Sự t­ương tác giữa ngư­ời dạy và ng­ười học vẫn được sử dụng từ tr­ước đến nay trong quá trình dạy học, nh­ưng mới chỉ dừng lại ở mức độ nhất định còn nhiều hạn chế cần khắc phục, ch­ưa phát huy được tính chủ động sáng tạo của ng­ười học, nh­ư:

– Sự t­ương tác về cơ bản vẫn là thầy giảng, trò ghi

– T­ương tác chỉ diễn ra trong thời gian nhất định, trong giờ ôn bài, h­ướng dẫn bài tập và thực hành.

– Để có một bài giảng mang tính trực quan, sinh động bằng mô hình mô phỏng, giáo viên phải mất thời gian chuẩn bị. Ví dụ để tạo ra một bài mô phỏng đối tượng động bằng powerpoint giáo viên có thể mất hàng giờ, có khi đến hàng ngày để chuẩn bị, mặt khác đòi hỏi giáo viên phải có nhiều thủ thuật hay “mẹo” để tạo ra đư­ợc những đối t­ượng mong muốn.

– Ở trên lớp, t­ương tác giữa thầy và trò về cơ bản chỉ giải quyết đ­ược các vấn đề về lý thuyết; còn thực hành phải đến phòng thí nghiệm. Ví dụ, một hoạt hình powerpoint chỉ có thể t­ương tác ở mức chạy, dừng không thay đổi đ­ược tham số

– Nh­ư vậy t­ương tác trong dạy học trư­ớc đây vẫn ch­ưa làm cho ng­ười học thực sự trở thành ng­ười chủ động, sáng tạo trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Đây là vấn đề cần đ­ược quan tâm nghiên cứu, tìm h­ướng giải quyết trong giai đoạn ngày nay.

ương tác trong dạy học bằng máy tính:

Trong thời đại ngày nay – thời đại công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), việc ứng dụng công nghệ mới vào giáo dục và đào tạo, đã tạo ra sự thay đổi mang tính đột phá về mối quan hệ t­ương tác giữa ngư­ời dạy và ng­ười học trong quá trình dạy học, tạo ra những khả năng t­ương tác mới, nh­ư:

– Môi tr­ường trong lớp học là môi trư­ờng ảo, thực nghiệm ảo, t­ương tác ảo nhờ ứng dụng các phần mềm dạy học, công nghệ thông tin và truyền thông. Nh­ư vậy, trong quá trình dạy học, ng­ười học vừa đư­ợc học “lý thuyết”vừa đ­ược “thực hành”.

– Thời gian t­ương tác diễn ra ngay trên lớp, ng­ười học không những hiểu mà còn làm đ­ược, tuỳ theo yêu cầu của bài học

Cơ cấu cứng nhắc theo truyền thống về mối quan hệ “không gian  thời gian – trật tự thang bậc” sẽ bị phá vỡ. Sự t­ương tác giữa thầy và trò không nhất thiết phải “giáp mặt” mà có thể “gián tiếp” thông qua các hình thức đạo tạo từ xa nhờ ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông. Mối quan hệ giữa thầy và trò là mối quan hệ cộng tác: trò chủ động, sáng tạo; thầy h­ướng dẫn, định h­ướng.

Ở đây, tác giả đề cập đến sự t­ương tác giữa thầy và trò sử dụng ph­ương tiện dạy học là máy tính, công nghệ thông tin và truyền thông như­ng không coi th­ường những tương tác truyền thống sử dụng các ph­ương tiện như­ phấn bảng, tranh ảnh, phim, . .mà muốn đề cập đến một lĩnh vực mới để thấy đ­ược yêu cầu, nhiệm vụ và thách thức đối với ng­ười giáo viên trong thời đại mới – thời đại thông tin. Xét cho cùng đây là quá trình phát triển tất yếu, quá trình phát triển theo “đ­ường xoáy ốc”.

* Ứng dụng quan điểm sư­ phạm t­ương tác vào dạy học môn Điện ô tô

 Đặc điểm môn học Điện ô tô

Là một môn học kỹ thuật, đối t­ượng nghiên cứu là các hiện t­ượng, định luật quy luật cơ bản về điện và ứng dụng trong lĩnh vực công nghệ ô tô Do đặc thù môn học nh­ư vậy nên nó là môn học vừa có tính cụ thể vừa có tính trừu tượng, đặc biệt mang nhiều tính thực tiễn, là một môn học đã đ­ược khẳng định “ch­ưa bao giờ có”

Tính cụ thể

Nội dung môn học bao gồm các kiến thức thực tế cho ngành điện ô tô, ngoài ra Điện ô tô  cũng là cơ sở phát triển các ngành điện tử, thông tin liên lạc, kỹ thuật đo,… Với các nội dung học này, tốt nhất ng­ười học đ­ược thao tác vận hành trực tiếp trên máy thật, mạch điện thật, mô hình sát thật, nh­ưng sẽ rất tốn kém. Trong trư­ờng hợp này, ng­ười học có thể thao tác thực hành trực tiếp với máy tính thông qua các mô hình ảo, mạch điện ảo nếu có, đặc biệt trong hệ thống điện ô tô tương tác thay đổi tham số rất ít nó chỉ thay đổi tham số tốc độ của động cơ ô tô nên để có thể tương tác bằng mô phỏng các mạch điện ảo bằng các phần mền khác nhau.

Tính trừu t­ượng:

Trong Điện ô tô có nhiều đối t­ượng không thể nhìn thấy hoặc sờ thấy đ­ược đòi hỏi phải biết t­ưởng tượng, hình dung, phán đoán,… Ví dụ nh­ư, ta không thể nhìn thấy đường đi của dòng điện, đ­ường sức từ của từ trư­ờng, hay quá trình vận hành nội tại của một động cơ điện, một máy phát điện, Như­ vậy yêu cầu đặt ra là: với người dạy phải mô phỏng hoá, trực quan hoá các đối t­ượng trừu t­ượng đó, còn với ng­ười học phải có khả năng phân tích, tính toán, khả năng sử dụng mô hình ngay trên máy tính thông qua việc sử dựng các phần mềm chuyên dụng.

ví dụ, dùng phần mềm Flash ta tạo ra mô hình mô phỏng định luật Faraday: khi có từ thông biến thiên qua cuộn dây thì sinh ra dòng điện cảm ứng trong cuộn dây

Khi dùng chuột di chuyển nam châm tạo ra từ trư­ờng biến thiên qua cuộn dây, trên mô hình bóng đèn sẽ sáng thể hiện có dòng điện chạy trong cuộn dây.

Ví dụ khác tương tác về sự thay đổi điện áp hay dòng điện khi ta thay đổi điện trở của mạch điện (http://phet.colorado.edu/index.php)

Tính thực hành:

Hệ thống Điện ô tô là môn học đòi hỏi lý thuyết luôn luôn phải đi đôi với thực hành. Chỉ có thực hành mới đ­a ng­ười học tiếp cận được với thực tiễn, giúp ngư­ời học có được kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp.

Từ những phân tích trên, ta nhận thấy rằng trong quá trình dạy học môn Hệ thống Điện ô tô rất cần những phần mềm có khả năng mô phỏng tốt. khả năng tư­ơng tác cao để tạo ra đ­ược một môi tr­ường thực hành ảo, ngư­ời học có thể tương tác trên các đối t­ượng ảo này qua đó hiểu đ­ược đối t­ượng nghiên cứu, cao hơn nữa, ngư­ời học không chỉ dừng lại ở mức độ hiểu mà còn sử dụng đ­ược các phần mềm, để phục vụ cho quá trình học tập, nghiên cứu của mình.

4. Sự xuất hiện hình thức đào tạo mới

Rất nhiều các quốc gia phát triển như Đức, Anh, Mỹ đã tiến hành nghiên cứu và áp dụng đào tạo từ xa nói chung. Về kỹ thuật, đào tạo từ xa đã được nghiên cứu tương đối toàn diện. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin (CNTT) thì cách thức tiến hành, qui mô, chất lượng đào tạo những khóa học từ xa đã có tiến bộ vượt bậc.

Đối với Việt Nam, đào tạo từ xa chưa phát triển do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan trong đó có trình độ đội ngũ giáo viên, trình độ đội ngũ phát triển đa phương tiện, cơ sở hạ tầng về thông tin và kinh phí. Tuy mới được phát triển ở nước ta song những kết quả đã đạt được cho thấy phương thức đào tạo này là một trong những giải pháp có tính chiến lược đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của xã hội.

Kết luận như vậy, không có nghĩa là đào tạo từ xa không có những khó khăn, không còn những hạn chế. Ở đây chỉ đề cập tới một hạn chế cụ thể rất khó khắc phục của đào tạo từ xa đó là vấn đề thí nghiệm thực hành (TNTH) của các môn khoa học tự nhiên và kỹ thuật. Cụ thể hơn là làm thế nào để có thể tổ chức TNTH trong giáo dục từ xa. Có nhiều phương án được đề xuất, trong đó việc xây dựng các bài TNTH ảo trong máy tính mà đề tài đề cập tới là một giải pháp góp phần giải quyết cho vấn đề nêu trên. Mặc dù TNTH ảo đề cập trong luận văn này được định hướng và xây dựng chủ yếu cho hình thức dạy học giáp mặt, tuy nhiên, có thể hỗ trợ rất tết cho các hình thức đào tạo kể trên.

II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đề tài nghiên cứu cách thức xây dựng và sử dụng TNTH ảo trong đào tạo nghề điện ôtô. Trên cơ sở đó, tiến hành xây dựng một số bài TNTH ảo  cho 2 chương điển hình trong chương trình dạy nghề Điện ôtô nhằm hỗ trợ TNTH thực đồng thời bổ sung những bài TNTH mà trong thực tế khó hoặc không thể thực hiện được.

III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

– Đối tượng nghiên cứu của đề tài là TNTH ảo.

– Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài nghiên cứu về TNTH ảo cho dạy học  nghề , trên cơ sở đó xây dựng và sử dụng một số bài TNTH ảo cho chương trình dạy nghề Điện ôtô tại trường cao đẳng nghề công nghiệp Việt Nam- Hàn Quốc tại Nghệ An

IV. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Xây dựng và sử dụng TNTH ảo trong đào tạo nghề sẽ góp phần nâng cao hứng thú nhận thức, phát huy tính tích cực học tập của người học, do đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật.

 

V .NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

– Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng TNTH ảo trong đào tạo nghề.

– Ứng dụng một số phần mềm tương tác tham số , tương tác ảo cho một số bài TNTH ảo điển hình hỗ trợ cho dạy nghề điện ôtô.

VI.  PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU

– Phân tích, tổng hợp tài liệu và các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo nghề ở Việt Nam và nước ngoài.

– Quan sát hoạt động dạy học và đánh giá trong dạy học thực hành nghề (DHTHN) ở một số trường dạy nghề.

– Phương pháp mô phỏng trong NCKH và DH

– Phương pháp chuyên gia nhằm đánh giá tính cấp thiết  khả thi của quy trình và công cụ đánh giá đã xây dựng.

VII. NHƯNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

– Phân tích và làm rõ được một số khái niệm cơ bản liên quan tới TNTH ảo như: thí nghiệm, thực hành; thuật ngữ ảo; mô phỏng; TNTH ảo; mối liên hệ giữa mô phỏng và TNTH ảo, góp phần hoàn thiện lý luận về TNTH ảo;

– Đề xuất qui trình xây dựng và sử dụng TNTH ảo;

– Khai thác chương trình ứng dụng có sẵn trên Intemet, dựa trên các kết quả nghiên cứu của đề tài tác giả đã xây dựng được 2 bài TNTH nằm trong chương trình môn học Mạch điện hệ thống đánh lửa điện tử và mạch điện báo nhiên liệu bằng điện trên ôtô   nằm trong chương trình dạy nghề điện ôtô trình độ cao đẳng nghề tại trường cao đẳng nghề KTCN Việt nam-Hàn Quốc

 

 

 

 

VIII. CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được thể hiện trong 3 chương được trình bày dưới đây:

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH ẢO TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ

     Ngoài phần tổng quan về tình hình nghiên cứu và ứng dụng TNTH ảo trên thế giới và tại Việt Nam, chương này trình bày cơ sở lý luận về TNTH ảo, trong đó đi sâu vào phân tích các khái niệm: mô phỏng, TNTH ảo; mối liên hệ giữa mô phỏng và TNTH ảo; khả năng xây dựng và sử dụng TNTH ảo trong đào tạo nghề nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật; khảo sát thực trạng sử dụng mô phỏng trong DH.

CHƯƠNG 2: XÂY DỤNG VÀ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH ẢO TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ. ÚNG DỤNG XÂY DỤNG VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH ẢO TRONG CHƯƠNG TRÌNH DẠY NGHỀ ĐIỆN ÔTÔ.

Nội dung chương này là vận dụng kết quả nghiên cứu trong chương 1. đề xuất qui trình xây dựng và sử dụng TNTH ảo trong đào tạo nghề; nghiên cứu và đưa vào sử dụng 02 bài TNTH ảo cho một số nội dung cụ thể trong chương trình dạy nghề Điện ôtô trình độ Cao đẳng nghề.

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM, ĐÁNH GIÁ TÍNH KHẢ THI VÀ HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Nội dung của chương này trình bày nhiệm vụ và đối tượng thực nghiệm,nội dung tiến trình thực nghiệm, tính khả thi của đề tài . Áp dụng quy trình đã đề xuất vào việc lựa chọn quy trình xây dựng và sử dụng TNTH ảo cho 2 bài học cụ thể của học phần đang xét nhằm kiểm định hiệu quả và khả năng sử dụng của chúng.

 

 

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH ẢO TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH ẢO

1.1.1. Thế giới hiện nay

“Thực tại ảo, là một khái niệm mới xuất hiện khoảng đầu thập kỷ 90, nhưng Ở Mỹ và Châu âu, thực tại ảo đã và đang trở thành một công nghệ mũi nhọn nhờ khả năng ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực (nghiên cứu và công nghiệp, GD- ĐT cũng như thương mại và giải trí. . . ) Chính vì vậy, công nghệ thực tại ảo- một công nghệ mới được dùng để xây dựng một không gian, một thế giới ảo, nhằm tái tạo, bắt chước phần nào thế giới thực đã, đang được nghiên cứu và chắc chắn sẽ phát triển mạnh mẽ trong tương lai. Trong số rất nhiều tài liệu đề cập đến công nghệ này, phải kể đến đó là: Virtual Reality- Thực tại ảo, bước sang thế giới bên kia [4]

Ở mức độ đơn giản hơn, thực tại ảo (được trình bày trong luận văn này) đó là các phần mềm chạy trên máy tính đơn lẻ hay mạng máy tính, chúng giả lập phần nào thế giới thực. Từ đó, giúp người sử dụng thực hiện các thao tác với môi trường, các đối tượng, quá trình, hệ thống do các chương trình đó tạo ra nhằm khám phá, phát hiện các quy luật, kiểm nghiệm khoa học, hình thành kỹ năng. . . Khi đề cập tới những phần mềm, những thao tác trong môi trường do các phần mềm đó tạo ra, thuật ngữ ảo cũng được sử dụng.

TNTH ảo là một lĩnh vực được nghiên cứu và phát triển trong những năm gần đây và đã có nhiều sản phẩm được gọi là TNTH ảo được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống trong đó có lĩnh vực GD- ĐT. Một vài trong số đó là:

– Crocodile Physics là phần mềm được dùng để thiết kế các thí nghiệm ảo môn vật lý trong nhà trường, có rất nhiều phiên bản của phần mềm đã được đưa ra và phiên bản mới nhất hiện nay là phiên bản Crocodile Physics 605, ra đời vào năm 2006 với rất nhiều tính năng mới so với các phiên bản trước đó. Crocodile Physics có thể mô phỏng cơ học, điện, điện tử, quang học, và sóng cơ học. Trong mỗi phần cơ, sóng, điện, quang có đầy đủ những thuộc tính để ta có thể mô phỏng các thí nghiệm vật lý phổ thông.

– Trong lĩnh vực điện điện tử: Protel, Proteus, Matlab, Multisim, Orcad, Workbench… là các phần mềm hỗ trợ người sử dụng trong việc thiết kế mạch điện- điện tử. Với sự phát triển nhanh chóng trong lĩnh vực điện- điện tử việc thiết kế và mô phỏng mạch điện- điện tử trên máy tính bằng các phần mềm chuyên dụng đã được triển khai, áp dụng rộng rãi và rất có hiệu quả tại các trường dạy nghề. Các phần mềm kể trên với tên gọi chung là EDA(Electronic Design Automation- Tự động thiết kế mạch điện tử). Tuỳ thuộc vào đặc điểm nội dung, mục tiêu của từng môn học mà các giáo viên dạy nghề lựa chọn một trong số các phần mềm EDA làm phương tiện giảng dạy vì mỗi phần mềm đều có một đặc điểm riêng. Chẳng hạn như, với một thư viện linh kiện rất lớn và các công cụ tiện ích, Multisim cung cấp một số công cụ ảo. Chúng ta sử dụng các công cụ này để đo lường các thông số của mạch. Các công cụ này gần tương ứng với các công cụ trong phòng thí nghiệm. Chúng thật sự là một phương tiện tết và dễ dàng nhất để ta có thể quan sát đo lường kết quả mô phỏng. Chính vì vậy, Multisim đã được rất nhiều các giáo viên dạy nghề sử dụng làm phương tiện giảng dạy và là công cụ hỗ trợ người học trong việc thực hành mạch điện tử vì thiết kế đơn giản, dễ sử dụng, tính trung thực và sinh động trong mô phỏng của nó.

Orcad cũng trở thành một trong những phần mềm hàng đầu, hỗ trợ người sử dụng vẽ, mô phỏng và thiết kế mạch in qua thư viện linh kiện rất lớn cùng với các công cụ tiện ích.

Bên cạnh Multisim và Orcad phải kể đến Electronic Workbench (EWB). Thuật ngữ “work- bench” trong tiếng Anh có nghĩa là bàn làm việc của thợ. Có nghĩa là: khi thao tác trên EWB, ta có cảm giác giống như đang làm việc trên bàn thợ vậy. Sau khi lựa chọn, sắp xếp các linh kiện, hàn nối dây giữa chúng lại với nhau theo sơ đổ nguyên lý, rồi lắp các cơ cấu đo để đo các thông số cần khảo sát (nếu cần) và cấp điện cho mạch để xem kết quả, có thể điều chỉnh thông số hoặc vị trí của các linh kiện trong mạch mà không sợ bị tiêu hao do cháy nổ, hư hỏng linh kiện, cơ cấu đo… Một ưu điểm nữa phải kể đến trong việc sử dụng EWB để thiết kế mạch điện- điện tử đó là tính “chuẩn xác,, của tín hiệu bởi trong mạch thực tế, ngoài tín hiệu thực nó còn chồng chập vào đó vô số những tín hiệu nhiễu trong khi với EWB thì tín hiệu nhận được là tín hiệu thật 100%. Với những đặc tính vừa phân tích ở trên, ta nhận thấy EWB rất thích hợp cho các lớp thực tập, trung cấp hoặc công nhân lành nghề vì ở đây yêu cầu chính là định tính còn định lượng là không cao. Đặc biệt rất thích hợp đối với các kỹ thuật viên sửa chữa điện tử, EWB có thể xem như một bàn thợ “cao cấm’.

– Trên Internet, một số trang web [17], [18], [19] và [20] đã giới thiệu các bài TNTH ảo, theo đó, bất cứ ai truy cập vào các web sức đó đều thao tác được với các bài TNTH đã được chuẩn bị sẵn. Đó là các chương trình mô phỏng được viết bằng ngôn ngữ lập trình Java và tồn tại trên trang web dưới dạng những Java Applet.

Những thành tựu đã đạt được trong việc ứng đụng công nghệ thực tại ảo nhằm nâng cao hiệu quả GD- ĐT, đặc biệt hiệu quả đào tạo nghề cho thấy tiềm năng to lớn của thực tại ảo, khẳng định vai trò quan trọng của TNTH ảo trong dạy học nói chung trong dạy và học qua mạng nói riêng. Tuy nhiên, qua nghiên cứu và tìm hiểu cho thấy, cơ sở lý luận cho việc xây dựng và sử dụng thực tại ảo (cụ thể là TNTH ảo) trong đào tạo nghề vẫn chưa được đề cập tới.

1.1.2. Việt Nam hiện nay

Tại Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan tới TNTH ảo, như:

– Công trình “Thí nghiệm ảo và thí nghiệm hoá học” do PGS.TS Nguyễn Đặc Chuy, khoa Hoá học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và các cộng sự xây dựng [8, Tr.55].

– Có rất nhiều tài liệu đề cập tới công nghệ thực tại ảo ứng dụng trong dạy học phải kể đến đó là “ứng dụng Công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động nhận thức vật lý tích cực, tự chủ và sáng tạo” [12]. Trong cuốn sách này, tác giả Phạm Xuân Quế đã trình bày và phân tích một trong những PTDH số mới hỗ trợ các thí nghiệm vật lý cụ thể là thí nghiệm về các chuyển động cơ học đó là phần mềm phân tích băng hình [12, Tr.33].

– Nghiên cứu, ứng dụng hệ thống hiện thực ảo trên nền tảng của kỹ thuật ảo đã và đang được phát triển ứng dụng rộng rãi trên khắp thế giới và trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Ở Việt Nam các nhà khoa học và kỹ thuật đã bước đầu ứng dụng thử nghiệm kỹ thuật hiện thực ảo trong một số lĩnh vực như: nghiên cứu- thử nghiệm rô bốt công nghiệp; nghiên cứu- thử nghiệm máy và cơ cấu; huấn luyện và tập lái máy bay, tàu thủy, Ô tô, . . . Nhiều trường dạy lái xe ở Việt Nam cũng đã trang bị ca bin điện tử cho học viên thực tập. Một số ứng dụng cụ thể phải kể đến như:

 

– Trong chế tạo khuôn dập vỏ Ô tô: Với mong muốn đóng góp vào việc thực hiện chủ trương nâng cao tỷ lệ nội địa hóa của ngành chế tạo Ô tô trong nước, lần đầu tiên các nhà khoa học bộ môn Gia công áp lực trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã nghiên cứu và thiết kế chế tạo khuôn dập vỏ Ô tô bằng công nghệ ảo. Mặc dù ngành lắp ráp Ô tô, xe máy ở Việt Nam trong những năm qua đã khá phát triển theo kịp với quá trình hội nhập kinh tế và đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng nhưng riêng trong lĩnh vực thiết kế, chế tạo các chi tiết vỏ mỏng cỡ lớn, có hình dạng phức tạp mà đặc biệt là các vỏ Ô tô là vấn đề còn mới mẻ ở nước ta và là một khó khăn đối với ngành công nghiệp sản xuất, chế tạo Ô tô. Sỡ dĩ như vậy là vì việc thiết kế các quy trình công nghệ dập, thiết kế và chế tạo khuôn mẫu vỏ Ô tô có nhiều nét đặc thù và có những yêu cầu kỹ thuật cao so với các chi tiết thông thường. Bằng công nghệ mô phỏng số (ảo) khuôn dập và quá trình dập vỏ được mô phỏng trên vi tính có thể xác định chính xác các chi tiết đạt tiêu chuẩn đề ra cho một bộ khuôn hoàn chỉnh. Toàn bộ quá trình thiết kế, gia công chế tạo được sử dụng phần mềm chuyên nghiệp Pro Egineer, Edge Cam… để mô phỏng các quá trình biến dạng, tìm phương án tối ưu thiết kế công nghệ thích hợp và khuôn dập tương ứng. Sau khi lập trình trên máy tính, với máy ép thủy lực 1.000 tấn, khuôn dập sẽ cho ra lò những chi tiết vỏ xe từ đơn giản đến phức tạp nhất một cách tối ưu nhất, tránh công đoạn sản xuất thử nhiều lần, tiết kiệm chi phí và sức lao động. Thành công này đã mở ra một hướng phát triển mới trong lĩnh vực thiết kế, chế tạo khuôn dập vỏ vốn còn non yếu ở nước ta

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Dịch vụ viết luận văn và được gắn thẻ , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s