NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI CÁC TRUNG TÂM TƯ VẤN VIỆC LÀM


LỜI MỞ ĐẦU

Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Trong cuộc sống năng động hiện nay, nhu cầu tìm việc làm ngày càng gia tăng. Tuy nhiên tốc độ tăng số lượng việc làm lại không nhanh bằng tốc độ tăng nhu cầu và các công việc đòi hỏi trình độ cao ngày càng chiếm vị thế. Chính vì thế, là một sinh viên mới ra trường, làm thế nào để có thể tìm được một công việc phù hợp với chuyên ngành mình đã chọn thật sự là một vấn đề hết sức khó khăn.Chính vì điều đó mà phần lớn sinh viên ra trường làm không đúng công việc của mình.

Các nguyên nhân chính là do sinh viên không có đầy đủ thông tin về nhiều công việc khác nhau; hay các sinh viên có nhu cầu đi làm ngay để trang trải cho cuộc sống nên không thể nào mất nhiều thời gian để tìm việc; hay những nơi có công việc phù hợp thì lại đòi hỏi cao hơn khả năng của sinh viên;… và còn nhiền nguyên nhân khác nữa. Vậy làm thế nào để có thể giúp sinh viên tìm kiếm việc làm nhanh chóng hơn, và khả năng làm đúng việc lại cao hơn?Với vai trò là chiếc cầu nối giữa những người tìm việc và các công ty đang cần nhân viên, thì dịch vụ tư vấn việc làm chính là điểm mấu chốt. Nếu dịch vụ tư vấn việc làm này thực hiện  tốt nhiệm vụ của mình thì sẽ giải quyết được vấn đề khó khăn trong việc tìm công việc thích hợp cho những người tìm việc nói chung và cho sinh viên nói riêng. Như vậy điều quan trọng là phải có một hệ thống dịch vụ tư vấn việc làm phát triển.

Thế nhưng thực trạng ở thành phố Hồ Chí Minh thì vai trò của các dịch vụ tư vấn việc làm này rất mờ nhạt.Mặc dù, mục đích hoạt động của dịch vụ tư vấn việc làm là giúp cho các doanh nghiệp tìm kiếm những ứng viên nhanh chóng cũng như những người tìm việc có thể dễ dàng tìm đúng công việc của mình mà không mất nhiều thời gian.Thế nhưng rất ít các công ty hay những người tìm việc sử dụng các dịch vụ này.Sinh viên lại càng ít hơn. Phải chăng dịch vụ tư vấn của các dịch vụ này quà kém hay vì những nguyên nhân khác mà đã làm cho những người sử dụng các dịch vụ này không cảm thấy hài lòng?

Nhận thức được tầm quan trọng của dịch vụ tư vấn việc làm đối với vấn đề giải quyết việc làm cho sinh viên.Qua bài nghiên cứu này, chúng tôi hi vọng đóng góp vào sự phát triển của dịch vụ tư vấn việc làm ở Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Một khi các trung tâm tư vấn việc làm phát triển sẽ tạo ra một chuỗi liên kết giữa nguồn lao động của xã hội với các doanh nghiệp, tổ chức cần người. Có như vậy nguồn lao động của Việt Nam mới được sử dụng có hiệu quả. Đấy cũng chính là tiền đề để phát triển nguồn lao động của nước ta.

                                               

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Một hệ thống các dịch vụ tư vấn việc làm tốt rất quan trọng và cần thiết, vì nó sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và các ứng viên dễ dàng tiếp cận nhau.Vậy tại sao các dịch vụ tư vấn việc làm ở Việt Nam lại ít được sử dụng?Phải chăng nó chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng?

Phải biết được các nhân tố nào ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của những người tìm việc khi sử dụng dịch vụ này là bước đầu tiên cho việc cải tiến và phát triển dịch vụ.Cần biết những người tìm việc, ở đây cụ thể là sinh viên, đòi hỏi gì từ các công ty tư vấn dịch vụ để từ đó thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp.

Chính vì những điều trên mà bài nghiên cứu của chúng tôi hướng đến khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của các sinh viên đang tìm việc đối với các công ty tư vấn việc làm. Thông qua bài nghiên cứu này, chúng ta sẽ biết các nhân tố tác động đến việc sử dụng dịch vụ tư vấn việc làm của sinh viên đồng thời đề xuất các phương án cải thiện các yếu tố đó để dịch vụ tư vấn việc làm ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng và khách hàng sẽ hài lòng hơn khi sử dụng dịch vụ này. Điều đó sẽ giúp làm tăng số lượng người sử dụng dịch vụ cũng như kích thích sự phát triển của hệ thông dịch vụ tư vấn việc làm ở nước ta.

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Như phần trình bày ở trên, bài nghiên cứu của chúng tôi sẽ xoay quanh đối tượng là sinh viên, bao gồm các sinh viên đại học, sau đại học và các sinh viên tại chức.Tuy nhiên, do thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ khảo sát sinh viên của trường đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh.số lượng khảo sát của chúng tôi sẽ chỉ giới hạn trong phạm vi 100 sinh viên. 

Lý do chúng tôi chọn đối tượng là sinh viên là vì:

  • Thứ nhất, phần lớn các sinh viên, nhất là sinh viên mới ra trường, không có nhiều mối quan hệ quen biết vì vậy mà cơ hội tự tìm được một việc làm phù hợp với mình là rất hiếm hoi và phải mất rất nhiều thời gian. Chính vì vậy mà họ rất cần sự tư vấn hiệu quả của các công ty tư vấn việc làm.
  • Thứ hai, đối với sinh viên thì công việc khởi nghiệp là hết sức quan trọng, nó sẽ tác động đến cả tương lai sau này của họ vì lẽ đó mà vai trò của dịch vụ tư vấn việc làm sẽ thể hiện rõ nét hơn.
  • Thứ ba, đối tượng này sẽ là lực lượng lao động nồng cốt của đất nước trong tương lai, vì thế nếu họ có thể tìm được việc làm phù hợp với mình, phát huy thế mạnh của bản thân mình ngay từ đầu thì họ sẽ phát triển rất tốt và góp phần vào việc phát triển đất nước.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu định lượng. Khảo sát, thống kê, xử lý số liệu bằng SPSS sau đó đưa ra kết quả thu thập được. Sử dụng phân tích nhân tố EFA và kiểm định Crobach Anpha.Kết luận các nhân tố nào tác động đến mức độ hài lòng của sinh viên khi sử dụng dịch vụ tư vấn việc làm và mức độ tác động của những nhân tố đó.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

  1.        I.            CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
  2. Lý Thuyết Và Một Số Mô Hình Về Sự Thỏa Mãn

1.1.          Định Nghĩa

Trên thế giới hiện nay có rất nhiều quan điểm về sự hài lòng  hay thỏa mãn, theo dòng thời gian thì các định nghĩa này cũng tăng lên và ngày càng hoàn thiện hơn. Theo Parasuraman (1994) sự thỏa mãn là kết quả tổng hợp của chất lượng dịch vụ, chất lượng sản phẩm và giá, theo Bachelet (1995) định nghĩa sự thỏa mãn của khách hàng là một phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng sau khi sử dụng một sản phẩm hay dịch vụ. Còn theo Oliver (1997)  hài lòng là sự đáp ứng, sự đánh giá của khách hàng về trạng thái mãn nguyện .Theo Kurtz & Clow (1998) sự thỏa mãn của khách hàng là trạng thái của họ khi cảm nhận về chất lượng dịch vụ so với kỳ vọng. Tùy theo khoảng cách giữa giá trị khách hàng nhận được và giá trị kỳ vọng mà khách hàng sẽ có những trạng thái khác nhau từ thích thú ( rất thỏa mãn) khi cái nhận được ở mức lý tưởng và tức giận (rất không thỏa mãn) khi giá trị nhận được dưới mức phù hợp. Tuy mỗi định nghĩa sử dụng những câu từ khác nhau nhưng đều hướng về một cái chung đó là so sánh kết quả thu được từ sản phẩm hay dịch vụ với những kỳ vọng của người đó.

1.2.          Một Số Mô Hình Về Sự Thỏa Mãn Của Khách Hàng

Mô Hình Kano

Hành vi của các ứng viên/ khách hàng của dịch vụ tư vấn việc làm thay đổi tùy thuộc vào: Mức độ thỏa mãn của họ, lòng tin đối với các trung tâm tư vấn, mong muốn về việc làm hiện tại và các nhân tố khác, trong đó mức độ thỏa mãn của các ứng viên là quan trọng nhất. Mô hình Kano về sự thỏa mãn nhu cầu khách hàng đã phân loại thuộc tính sản phẩm và dịch vụ dựa trên sự nhận biết của khách hàng và tác động của sự nhận biết này đến mức độ thỏa mãn khách hàng . Các phân loại này rất hữu ích trong việc hướng dẫn các quyết định thiết kế sản phẩm hay dịch vụ theo cách làm thế nào để một sản phẩm hay dịch vụ vừa đủ tốt và làm thế nào để làm tốt hơn nữa.

Trong mô hình này tiến sĩ Kano phân biệt 3 loại thuộc tính sản phẩm/ dịch vụ có ảnh hưởng đến sự thỏa mãn của khách hàng

Những thuộc tính cơ bản: là những thuộc tính mà bắt buộc sản phẩm hay dịch vụ phải có và thuộc tính này không cung cấp một cơ sở nào để làm khác biệt sản phẩm, dịch vụ đó. Cho dù có tăng thuộc tính này thì sự thỏa mãn cũng hầu như không tăng. Tuy nhiêu nếu không có những đặc tính này khách hàng sẽ cảm thấy thất vọng. Chúng ta có thể mô phỏng mức độ thỏa dụng của khách hàng  ở thuộc tính căn bản này bằng một hàm số 

Trong đó U1 là mức độ thỏa mãn của khách hàng trên một đơn vị hàng hóa và dịch vụ với tính chất căn bản, X1 là thuộc tính căn bản của hàng hóa và dịch vụ đi từ cực không có tính chất căn bản đến cực có tính chất căn bản (X1 biến thiên từ 0 đến vô cùng) và A0 và A1 là các tham số. Như vậy, trong mô hình này khi X1 càng tăng lên thì U1 càng hội tụ về A0

Những thuộc tính thể hiện : đặc tính này thường được khách hàng đề cập đến như một chức năng mà họ mong muốn. Mức độ chất lượng của thuộc tính này càng tốt thì mức độ hài lòng càng cao. Điền hình là những nhân tố này trực tiếp liên hệ với các nhu cầu và mong muốn của khách hàng và một công ty nên cố gắng cạnh tranh ở điểm này. Chúng ta cũng mô phỏng mức độ thỏa mãn của khách hàng ở thuộc tính thực hiện này bằng hàm số 

Trong đó U2 là mức độ thỏa mãn trên một đơn vị hàng hóa dịch vụ với tính chất một chiều, X2 là tính chất thực hiện của hàng hóa và dịch vụ và B0 và B1 là các tham số. Như vậy, trong mô hình này X2 càng tăng thì U2 cũng gia tăng một cách tuyến tính.

Thuộc tính gây thích thú : nếu không có đặc tính này thì khách hàng vẫn mặc nhiên chấp nhận dịch vụ được cung cấp. Nhưng nếu có thì sẽ làm khách hàng bất ngờ và thích thú hơn dẫn đến mức độ thỏa mãn cao hơn. Do đó, cần quan tâm phát hiện các đặc tính này để gia tăng lòng trung thành của khách hàng cũng như tạo sự khác biệt với các đối thủ cạnh tranh. Chúng ta cũng mô phỏng mức độ thỏa mãn khách hàng ở thuộc tính kích thích này bằng hàm số 

Trong đó U3 là mức độ thỏa dụng trên một đơn vị hàng hóa dịch vụ với tính chất kích thích, X2 là tính chất kích thích của hàng hóa và dịch vụ và C0 và C1 là các tham số. Như vậy, trong mô hình này X3 có bằng không thì U3 cũng đạt được mức thỏa dụng C0 ở mức trung lập (khi không có tính chất này khách hàng không hề hay biết) và chỉ cần X3 tăng một chút thôi, cũng làm cho U3 tăng nhanh một cách phi tuyến.     

Mô Hình Servqual

Thang đo SERVQUAL đang được sử dụng khá phổ biến hiện nay dùng để đo lường chất lượng dịch vụ dựa trên sự cảm nhận bởi chính các khách hàng sử dụng dịch vụ. Parasuraman & ctg (1994) đã liên tục kiểm định thang đo và xem xét các lý thuyết khác nhau, và cho rằng SERVQUAL là thang đo đạt độ tin cậy và giá trị. Ban đầu Parasuraman et al xây dựng thang đo đánh giá chất lượng trong lĩnh vực dịch vụ gồm 10 thành phần:

  • Tin cậy
  • Đáp ứng
  • Năng lực phục vụ
  • Tiếp cận
  • Lịch sự
  • Thông tin
  • Tín nhiệm
  • An toàn
  • Hết lòng vì khách hàng
  • Phương tiện hữu hình

Mô hình này có ưu điểm bao quát hầu hết mọi khía cạnh của dịch vụ, tuy nhiên rất khó khăn trong việc đánh giá và phân tích. Đến năm 1988 ông đã hiệu chỉnh lại và hình thành mô hình mới với năm thành phần.

  • Mức độ tin cậy: thể hiện khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay lần đẩu tiên.
  • Khăng năng đáp ứng : thể hiện sự mong muốn sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng.
  • Các phương tiện hữu hình: thể hiện qua trang phục, ngoại hình của nhân viên và trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ.
  • Năng lực phục vụ: tính chuyên nghiệp của nhân viên phục vụ
  • Sự cảm thông: thể hiện sự quan tâm, chia sẻ của  nhân viên đối với khách hàng.
  1. Xây Dựng Mô Hình Nghiên Cứu

Mô hình gốc

Mô hình hiệu chỉnh

Tin cậy

Tin cậy

Đáp ứng

Đáp ứng

Phương tiện hữu hình

Phương tiện hữu hình

Năng lực phục vụ:

Lịch sự

Tín nhiệm

An toàn

Năng lực phục vụ

Tiếp cận

Thông tin

Hiểu biết khách hàng

Cảm thông

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu là khảo sát những yếu tố nào ảnh hưởng tới sự thỏa mãn của khách hàng đối với dịch vụ, cụ thể ở đây là biết  được các nhân tố nào ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của những người tìm việc khi sử dụng dịch vụ tư vấn việc làm nên chúng tôi quyết định xây dựng mô hình nghiên cứu dựa vào mô hình của parasuraman.

 

–           Mô hình dựa vào năm yếu tố trong thang đo servqual để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn của khách hàng.

–           Độ tin cậy ở đây là sự đảm bảo về chất lượng công việc mà dịch vụ tư vấn giới thiệu và cam kết. Độ tin cậy còn là việc phân phối công việc đúng lịch hẹn, là trình độ chuyên nghiệp của chuyên viên tư vấn.

–           Mức độ đáp ứng là khả năng cung cấp các thông tin chỉ dẫn, các dịch vụ đào tạo các ứng viên hay là số lượng công việc phù hợp mà các dịch vụ đáp ứng cho các ứng viên.

–           Mức độ đảm bảo là phẩm chất, danh tiếng, uy tín của các dịch vụ tư vấn việc làm sẽ tạo lòng tin cho các ứng viên.

–           Sự cảm thông là sự quan tâm chú ý của các dịch vụ tư vấn việc làm đến khách hàng tạo cảm giác yên tâm cho khách hàng.

–           Sự hữu hình là cơ sở vật chất, thiết bị của các dịch vụ có ảnh hưởng thế nào đến khách hàng. Đồng phục của nhân viên, những vật dụng và tài liệu dùng cho thông tin liên lạc có chuyên nghiệp không ?

Các Giả Thuyết Về Mô Hình

 Sự gia tăng về “Độ tin cậy”, “Mức độ đáp ứng”, “Mức độ đảm bảo”, “Sự cảm thông”, “Sự hữu hình”, sẽ làm gia tăng mức độ thỏa mãn của khách hàng.

  1.     II.            CƠ SỞ KHOA HỌC
  2. Mô Hình Lý Thuyết

Cho điểm từ 1-7 theo mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên ( 1. Không có ảnh hưởng – 7.Ảnh hưởng rất lớn)

Các nhân tố

1

2

3

4

5

6

7

 

 

 

 

 

 

 

                                                                       

 

Các nhân tố ảnh hưởng đến Sự hài lòng (SHL) của sinh viên đối với dịch vụ tư vấn việc làm:

Độ Tin Cậy (TC): 5 Biến

Kinh nghiệm của nhân viên tư vấn

Sự chuyên nghiệp của nhân viên tư vấn

Đảm bảo giới thiệu được việc làm cho bạn.

Cam kết chỉ nhận phí khi bạn đã tìm được công việc phù hợp.

Khả năng tư vấn của nhân viên: thuyết phục, cung cấp nhiều thông tin

Mức Dộ Dáp Ứng (DU): 8 Biến

Số lượng công việc phù hợp mà nhân viên tư vấn giới thiệu cho bạn

Có lớp đào tạo phỏng vấn, xin việc ngắn hạn

Có hệ thống tư vấn qua mạng hay qua điện thoại

Sự nhanh chóng trong việc tư vấn (đưa ra nhiều công việc trong thời gian ngắn)

Chỉ dẫn thông tin chi tiết về nơi làm việc

Đưa ra lời khuyên hướng nghiệp hiệu quả

Sự Dảm Bảo (DB): 3 Biến

Danh tiếng, uy tính của công ty

Dịch vụ tư vấn việc làm có nhiều mối quan hệ với các doanh nghiệp có danh tiếng

Có tham gia vào các ngày hội giới thiệu việc làm

Sự Cảm Thông (CT): 5 Biến

Phần trăm tiền hoa hồng mà dịch vụ đòi hỏi

Chăm sóc gọi điện thường xuyên để giới thiệu nhiều việc làm mới

Sắp xếp giờ tư vấn hợp lý

Sẵn sàng giải đáp thăc mắc

Thái độ tư vấn thân thiên của nhân viên

Phương Tiện Hữu Hình (HH): 4 Biến

Văn phòng tư vấn sang trọng

Nhân viên của văn phòng tư vấn ăn mặc lịch sự

Có trang web luôn cập nhật những công việc mới nhất

Có hệ thống tiếp  nhận hồ sơ qua mạng

  1. Phương Pháp Định Lượng

Sự hài lòng (SHL) = f(TC, DU, DB, CT, HH)

Trong đó:

SHL: Biến phụ thuộc

TC, DU, DB, CT, HH: Các biến độc lập

Để định lượng được các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên ta tiến hành 3 bước sau (các bước dưới đây được tiến hành với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 15.0):

Bước 1: Kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach alpha để loại các biến rác trước. 

Kiểm tra  độ tin cậy (hệ số Cronbach alpha) về sự hài lòng của sinh viên đối với Trung tâm tư vấn việc làm bao gồm 23 biến thuộc 5 nhân tố. Các biến có hệ số tương quan biến (item total correlation) nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại và tiêu chuẩn chọn thang đo khi nó có độ tin cậy Cronbach alpha từ 0.6 trở lên (theo Nunnally & Burnstein 1994).

Bước 2: Sử dụng mô hình phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) để kiểm định các nhân tố ảnh hưởng và nhận diện các yếu tố được cho là phù hợp.

Sử dụng EFA để loại dần các biến có trọng số (factor loading) < 0.5. Thang đo được chấp nhận khi giá trị hệ số Kaiser-Meyer-Olkin  (KMO) lớn hơn hoặc bằng 0.5 và nhỏ hơn hoặc bằng 1 (theo Othman & Owen 2002). Eigenvalue lớn hơn 1 và tổng phương sai trích bằng hoặc lớn hơn 50% (theo Gerbing & Anderson 1988).

Bước 3: Phân tích hồi quy tuyến tính và phân tích sự tương quan để xác định các yếu tố ảnh hưởng và sự ảnh hưởng của từng yếu tố đến sự hài lòng của sinh viên đối với Trung tâm tư vấn việc làm.

Sử dụng hàm hồi quy tuyến tính bội với phương pháp đưa ra một lượt. Như vậy 6 các yếu tố TC, DU, DB, CT, HH là các biến độc lập và SHL là biến phụ thuộc sẽ được đưa chạy hồi quy cùng một lúc. Kết quả hàm hồi quy sẽ là

Sự hài lòng (SHL) = f(TC, DU, DB, CT, HH)

 

Sử dụng hệ số tương quan tuyến tính r (Pearson Correlation Coefficient) để kiểm định sự tương quan giữa 6 nhân tố tác động đến sự hài lòng của sinh viên đối với Trung tâm dịch vụ việc làm. 

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Dịch vụ viết luận văn và được gắn thẻ , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s