Giải pháp phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang trên thị trường Hà Nội của công ty TMDV thời trang Hà Nội


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ BÁN LẺ CÁC SẢN PHẨM MAY MẶC THỜI TRANG TRÊN THỊ TRƯỜNG HÀ NỘI CỦA CÔNG TY TMDV THỜI TRANG HÀ NỘI

 

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

          Dịch vụ bán lẻ đang là ngành dịch vụ có tiềm năng phát triển. Với dân số 86 triệu người, nhu cầu tiêu dùng không ngừng tăng, nền kinh tế có mức tăng trưởng khá, nền chính trị ổn định đã trải qua hơn 20 năm đổi mới, thị trường bán lẻ nước ta đang được đánh giá là hấp dẫn nhất thế giới. Một thị trường hấp dẫn cũng đồng nghĩa với việc tạo nên một môi trường cạnh tranh gay gắt, nhất là tại các thành phố lớn như Hà Nội. Đặc biệt sau khi nước ta gia nhập WTO, chúng ta phải mở cửa thị trường cho các nhà bán lẻ nước ngoài vào cuộc theo cam kết. Các doanh nghiệp bán lẻ nước ta không chỉ phải cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước mà còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp ngoại với tiềm lực tài chính mạnh và phong cách bán lẻ chuyên nghiệp.

          Công ty TMDV thời trang Hà Nội (Hafasco) là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang, mục tiêu trở thành nhà bán lẻ chuyên nghiệp. Trong môi trường cạnh tranh như hiện nay, công ty cần phải có những giải pháp hữu hiệu để tồn tại và phát triển, đặc biệt là các giải pháp phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc để mở rộng chiếm lĩnh thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh. Trong quá trình thực tập tại công ty, em nhận thấy vấn đề cấp thiết đặt ra cần giải quyết đối với công ty là phải mở rộng quy mô thị trường mà trước hết và trọng tâm là tại thị trường Hà Nội – một thị trường rộng lớn, dân số đông và thu nhập trung bình cao, nhu cầu về hàng may mặc thời trang lớn. Vấn đề tiếp theo được đặt ra là việc nâng cao chất lượng dịch vụ bán lẻ, đổi mới cải tiến phương thức kinh doanh bán lẻ sao cho hiện đại hơn, nắm bắt xu hướng tiêu dùng của người dân, ngày càng đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng. Do đó, các giải pháp nhằm phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang là vấn đề cần được quan tâm và chú trọng.

1.2. Xác lập và tuyên bố đề tài

          Để giải quyết những vấn đề cấp thiết ở trên thì nhiệm vụ đặt ra trong quá trình nghiên cứu là:

–         Đưa ra một số khái niệm về thương mại dịch vụ, thương mại dịch vụ

bán lẻ, phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ, khái quát về sản phẩm may mặc thời trang

–         Khảo sát, điều tra phỏng vấn các vấn đề liên quan đến phát triển

thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang như khảo sát về chất lượng dịch vụ bán lẻ, về giải pháp cho việc phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang

–         Tìm hiểu thực trạng phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm

may mặc thời trang của công ty.

          –    Tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang của công ty.

–         Nghiên cứu triển vọng phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản

phẩm may mặc thời trang

Để hoàn thành những nhiệm vụ đã đặt ra, em sẽ lần lượt đi trả lời các câu

hỏi: Thương mại dịch vụ, dịch vụ bán lẻ, phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang? Thực trạng phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang? Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang? Triển vọng phát thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm này trong giai đoạn hiện nay như thế nào? Giải pháp đưa ra là gì?

          Em hi vọng với việc nghiên cứu đề tài : “Giải pháp phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang trên thị trường Hà Nội của công ty TMDV thời trang Hà Nội” sẽ giúp em giải quyết được những câu hỏi đặt ra ở trên.

                                          

1.3. Mục tiêu nghiên cứu

          –   Vận dụng được các lý thuyết về phát triển thương mại vào thực tiễn nhằm nâng cao kỹ năng, chuyên môn của mình

          –    Hệ thống hóa các lý luận cơ bản về phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ để khảo sát tình hình phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang trên thị trường Hà Nội của công ty

          –    Qua khảo sát thực trạng phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang của công ty TMDV thời trang Hà Nội

1.4. Phạm vi nghiên cứu

          –     Đối tượng nghiên cứu

          Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ, thực trạng phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang của công ty TMDV thời trang Hà Nội.

–         Thời gian nghiên cứu

Đánh giá thực trạng phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm

may mặc thời trang của công ty từ năm 2005-2009. Đưa ra các giải pháp đến năm 2015.

–         Không gian nghiên cứu

Nghiên cứu tại công ty TMDV thời trang Hà Nội.

1.5. Kết cấu luận văn

Ngoài lời cảm ơn, phụ lục, danh mục bảng biểu, danh mục từ viết tắt, danh

mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu giải pháp phát triển thương mại dịch vụ

bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang trên thị trường Hà Nội của công ty TMDV thời trang Hà Nội

Chương 2: Một số lý luận cơ bản về phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ

các sản phẩm may mặc thời trang

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng

phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang trên thị trường Hà Nội của công ty TMDV thời trang Hà Nội

Chương 4: Các kết luận và đề xuất giải pháp phát triển thương mại dịch vụ

bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang trên thị trường Hà Nội của công ty TMDV thời trang Hà Nội

 

CHƯƠNG 2
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ BÁN LẺ CÁC SẢN PHẨM MAY MẶC THỜI TRANG

 

2.1. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản

2.1.1. Dịch vụ bán lẻ

  • Ø  Thương mại dịch vụ

Thương mại dịch vụ là một khái niệm phân biệt với khái niệm thương mại hàng hóa. Nếu thương mại hàng hóa về cơ bản là mua bán các sản phẩm hữu hình, thì thương mại dịch vụ về cơ bản là trao đổi về các sản phẩm vô hình. “Bất kỳ thứ gì mua bán trong thương mại mà không thể rơi vào chân bạn đó là dịch vụ”.

Không phải bất kỳ sự cung ứng dịch vụ nào trong xã hội cũng có tính thương mại. Thương mại dịch vụ chỉ bao gồm những hoạt động mua bán và trao đổi nhằm mục đích lợi nhuận.

Vậy “Thương mại dịch vụ là toàn bộ những hoạt động cung ứng dịch vụ trên thị trường thông qua mua bán nhằm mục đích lợi nhuận”.[1]

  • Ø Thương mại dịch vụ bán lẻ
    • Dịch vụ phân phối

Ngày nay, dịch vụ là một lĩnh vực bao gồm những hoạt động hết sức rộng lớn. Ban thư ký WTO đã chia các hoạt động dịch vụ khác nhau thành 12 ngành (trong đó gồm 155 tiểu ngành):

  1. Các dịch vụ kinh doanh
  2. Các dịch vụ bưu chính viễn thông
  3. Dịch vụ xây dựng và các dịch vụ kỹ thuật liên quan
  4. Dịch vụ phân phối
  5. Dịch vụ giáo dục
  6. Dịch vụ môi trường
  7. Dịch vụ tài chính
  8. Các dịch vụ xã hội và liên quan đến y tế
  9. Các dịch vụ du lịch và dịch vụ liên quan đến lữ hành
  10.  Các dịch vụ giải trí, văn hóa, thể thao (ngoài dịch vụ nghe nhìn)
  11.  Dịch vụ vận tải
  12.  Các dịch vụ khác chưa được thống kê ở trên

Như vậy dịch vụ phân phối là ngành dịch vụ nằm trong phân ngành dịch vụ của WTO.

Dịch vụ phân phối là một tập hợp các doanh nghiệp và các cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình đưa hàng hóa từ người sản xuất tới người tiêu dùng. Nói cách khác, đây là một nhóm các tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động làm cho sản phẩm hoặc dịch vụ sẵn sàng để người tiêu dùng hoặc người sử dụng công nghiệp có thể mua và sử dụng.

  • Dịch vụ bán lẻ

Theo phân ngành dịch vụ của WTO, dịch vụ phân phối được chia thành

5 tiểu ngành, bao gồm:

  1. Dịch vụ đại lý hoa hồng
  2. Dịch vụ bán buôn
  3. Dịch vụ bán lẻ
  4. Cấp phép
  5. Các dịch vụ khác

Tuy nhiên, cũng theo tài liệu mã số MTN.GNS/W/120 được hầu hết các

thành viên WTO sử dụng làm cơ sở cho việc xây dựng lộ trình cam kết, thì bán lẻ là một trong bốn nhóm dịch vụ chính của dịch vụ phân phối. 4 nhóm dịch vụ đó là:

  1. Dịch vụ đại lý uỷ quyền
  2. Dịch vụ bán buôn
  3. Dịch vụ bán lẻ
  4. Nhượng quyền

Vậy, theo cách phân loại nào thì dịch vụ bán lẻ cũng là một trong những

nhóm dịch vụ chính của dịch vụ phân phối.

Theo danh mục phân loại ngành dịch vụ của tài liệu số TN.GNS/W/120 (W/120) của vòng đám phán Uruguay của tổ chức thương mại thế giới (WTO) và danh mục sản phẩm trung tâm tạm thời của Liên hợp quốc (CPC) định nghĩa:

“Dịch vụ bán lẻ là hoạt động bán các hàng hóa cho người tiêu dùng hoặc các hộ tiêu dùng từ một địa điểm cố định (cửa hàng, kiốt) hay một địa điểm khác (bán trực tiếp) và các dịch vụ phụ liên quan.”

2.1.2. Khái niệm về phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ

Bản chất phát triển thương mại bao gồm 4 nội dung: Phát triển thương mại về quy mô; nâng cao chất lượng phát triển thương mại; nâng cao hiệu quả thương mại; đảm bảo phát triển thương mại một cách cân đối, hài hòa với các mục tiêu phát triển về kinh tế – xã hội – môi trường.

Phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ là sự nỗ lực cải thiện về quy mô, số lượng các đơn vị bán lẻ và kim ngạch hàng hóa bán ra, hướng tới phát triển các phương thức bán lẻ hiện đại, cải thiện chất lượng dịch vụ bán lẻ, gia tăng giá trị cho sản phẩm, đảm bảo và nâng cao tốc độ tăng trưởng, hiệu quả thương mại và văn minh thương mại.

  • Phát triển thương mại về quy mô: Một trong những biểu hiện của phát

triển thương mại là sự mở rộng về quy mô. Hoạt động thương mại có phát triển hay không thể hiện ở chỗ quy mô thị trường có ngày càng tăng theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu hay không. Dựa vào quy mô có thể đánh giá được tình hình phát triển trong điều kiện về không gian, thời gian nhất định. Tùy thuộc vào tình hình phát triển của dịch vụ bán lẻ mà quy mô thương mại dịch vụ bán lẻ có thể thay đổi.

  • Nâng cao chất lượng phát triển thương mại: Ngày nay chất lượng hàng

hóa, dịch vụ không chỉ là tốt nhất mà phải là tối ưu, đòi hỏi phải phù hợp với nhu cầu, thị hiếu và khả năng thanh toán của khách hàng. Chất lượng phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ thể hiện ở tốc độ tăng trưởng dịch vụ bán lẻ là đều đặn hay gián đoạn, cao hay thấp, ổn định hay biến động. Phương thức bán lẻ có ngày càng hiện đại, văn minh hay không, khách hàng có ngày càng đánh giá cao chất lượng dịch vụ bán lẻ hay không.

  • Nâng cao hiệu quả thương mại: Hiệu quả thương mại là phạm trù phản

ánh quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra hay nguồn lực sử dụng để đạt kết quả đó. Hiệu quả thương mại được đánh giá dựa trên 2 góc độ kinh tế và xã hội.

Dựa trên góc độ kinh tế: Hiệu quả thương mại thể hiện qua lợi nhuận của doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Quy mô và chất lượng của các nguồn lực sẽ quyết định quy mô và hiệu quả của hoạt động thương mại. Các nguồn lực thương mại có ý nghĩa hết sức quan trọng đến sự phát triển thương mại, do đó phải biết cách kết hợp, sử dụng chúng sao cho hợp lý để đem lại hiệu quả tối ưu cho các doanh nghiệp.

Dựa trên góc độ xã hội: Hiệu quả thương mại thể hiện qua hoạt động kinh doanh tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp, một phần GTGT này được dùng để trả lương cho người lao động, hình thành nên nguồn thu nhập cho xã hội, đóng góp vào thu nhập quốc dân, và một phần dùng để nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, đóng góp vào ngân sách Nhà nước.

  •  Đảm bảo sự phát triển thương mại một cách cân đối, hài hòa với các

mục tiêu phát triển về kinh tế – xã hội – môi trường: Sự kết hợp hài hòa giữa ba mục tiêu kinh tế – xã hôi – môi trường nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia cũng như của toàn nhân loại. Phát triển bền vững phải được đảm bảo đồng thời ở cả ba khía cạnh: Phát triển kinh tế bền vững, phát triển xã hội bền vững và bảo vệ môi trường. Ba nội dung đó có mối quan hệ biện chứng vừa tác động qua lại vừa chế ước lẫn nhau.

2.1.3. Khái quát sản phẩm may mặc thời trang

  • Ø Sản phẩm may mặc là những sản phẩm như quần áo, trang phục phục vụ cho nhu cầu mặc của con người. Nhu cầu mặc là nhu cầu thiết yếu của con người nên sản phẩm may mặc đã được con người sáng tạo ra từ rất lâu. Sản phẩm may mặc được con người sử dụng không chỉ để che, bảo vệ cơ thể khỏi những tác động của môi trường, thời tiết mà còn được dùng như một sản phẩm làm đẹp cho con người.

          Sản phẩm may mặc đa dạng và phong phú về chất liệu, màu sắc, mẫu mã, kích cỡ, phù hợp với nhu cầu, thị hiếu, phong tục tập quán, mục đích sử dụng của từng đối tượng.

  • Ø Sản phẩm may mặc thời trang

Sản phẩm may mặc thời trang là loại sản phẩm thuộc sản phẩm may mặc. Khác với sản phẩm may mặc truyền thống có tính chất cố định, sản phẩm may mặc thời trang liên tục thay đổi theo mùa vụ, theo thời gian. Những sự thay đổi đó có thể là thay đổi về màu sắc, kiểu dáng, mẫu mã, chất liệu. Sản phẩm may mặc thời trang thể hiện phong cách, xu hướng ăn mặc trong xã hội tại một thời điểm nhất định, thường chỉ có chu kỳ sống từ 1 đến 3 năm, sau đó nó lại được thay thế bởi một sản phẩm khác.

  • Ø Phân loại sản phẩm may mặc

Theo biểu thuế của cục hải quan Việt Nam, hàng may mặc được phân chia làm 10 loại:

  1. Áo khoác ngoài, áo choàng mặc khi đi xe( car-coats), áo khoác không tay, áo choàng không tay, áo khoác có mũ trùm( kể cả áo jacket trượt tuyết), áo gió, áo jacket chống gió và các loại tương tự, dùng cho nam giới hoặc trẻ em trai.
  2. Áo khoác ngoài, áo choàng mặc khi đi xe, áo khoác không tay, áo choàng không tay, áo khoác có mũ(kể cả áo jacket trượt tuyết), áo gió, áo jacket chống gió và các loại tương tự, dùng cho phụ nữ hoặc trẻ em gái.
  3. Bộ com-lê, bộ quần áo đồng bộ, áo jacket, áo khoác thể thao, quần dài, quần yếm có dây đeo, quần ống chẽn và quần sooc dùng cho nam giới hoặc trẻ em trai.
  4. Bộ com-lê, bộ quần áo đồng bộ, áo jacket, áo khoác thể thao, váy dài, váy, chân váy, quần dài, quần yếm có dây đeo, quần ống chẽn, quần sooc, dùng cho phụ nữ hoặc trẻ em gái.
  5. Áo sơ mi nam giới hoặc trẻ em trai
  6. Áo choàng ngắn, áo sơ mi và áo choàng sơ mi phỏng kiểu nam cho phụ nữ hoặc trẻ em gái.
  7. Áo may ô và các loại áo lót khác, quần lót, quần đùi, quần sịp, áo ngủ, bộ pyjama, áo choàng tắm, áo khoác ngoài mặc trong nhà và các loại tương tự, dùng cho nam giới hoặc trẻ em trai.
  8. Áo may ô và các loại áo lót khác, váy lót, váy lót trong, quần xilip, quần đùi bó, váy ngủ, bộ pyjama, áo mỏng mặc trong nhà,áo choàng tắm và các loại tương tự, dùng cho phụ nữ hoặc trẻ em gái.
  9. Quần áo may sẵn và đồ phụ kiện hàng may mặc cho trẻ em.
  10.  Bộ quần áo thể thao, bộ quần áo trượt tuyết và quần áo bơi, quần áo khác

2.2. Một số lý thuyết về phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ

2.2.1. Những chỉ tiêu đánh giá phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ

  • Ø Dựa vào quy mô
    • Doanh thu: Là thu nhập mà doanh nghiệp nhận được từ việc bán hàng

hóa và dịch vụ được tính bằng giá của thị trường (P) của hàng hóa nhân với lượng hàng hóa bán ra (Q).

  • Tổng doanh thu là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp nhận được khi bán

một lượng sản phẩm nhất định.

Công thức: TR = P*Q

Trong đó: TR: Tổng doanh thu

                           P: Giá bán một đơn vị sản phẩm

                  Q: Số lượng sản phẩm bán ra

  • Ø Dựa vào chất lượng

Chất lượng phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ được thể hiện ở tốc độ tăng trưởng, sự chuyển dịch phương thức kinh doanh, sự đánh giá của khách hàng về chất lượng dịch vụ.

  • Tổng độ tăng trưởng: Là tỷ lệ gia tăng doanh thu từ dịch vụ bán lẻ năm

sau so với năm trước

          Công thức tình: 

          Trong đó: TR1: Doanh thu năm trước

                          TR2: Doanh thu năm sau

          Tốc độ tăng trưởng của doanh thu ổn định, bền vững thể hiện chất lượng phát triển thương mại tốt. Ngược lại, nếu tốc độ tăng trưởng biến động thì việc phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ chưa đạt được về mặt chất lượng.

  • Sự chuyển dịch phương thức kinh doanh

Kinh tế xã hội phát triển, vì thế phương thức kinh doanh bán lẻ cũng phải có sự thay đổi, dịch chuyển từ phương thức truyền thống sang phương thức hiện đại. Phương thức bán lẻ truyền thống tại các chợ, các cửa hàng nhỏ lẻ của các hộ kinh doanh cá thể sẽ được thay thế dần bằng phương thức bán lẻ hiện đại tại các siêu thị, trung tâm thương mại, các cửa hàng tiện lợi hay bán lẻ qua mạng, qua điện thoại, ti vi,… làm cho thương mại văn minh hơn, hiện đại hơn.

  • Chất lượng dịch vụ bán lẻ

Khác với việc đánh giá chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ bán lẻ rất

khó để đánh giá và tiêu chuẩn hóa. Có thể đánh giá chất lượng dịch vụ bán lẻ thông qua sự đánh giá, cảm nhận của khách hàng qua 5 thước đo: Độ tin cậy, Độ đáp ứng, Năng lực phục vụ, Sự đồng cảm, Độ hữu hình.

  • Ø Dựa vào hiệu quả

   Tiêu chí hiệu quả được thể hiện ở:

  • Mức độ đóng góp vào tổng sản phẩm quốc dân GDP của thương mại

dịch vụ bán lẻ. Nếu thương mại đóng góp vào GDP càng lớn chứng tỏ nó có vị trí và vai trò rất lớn trong nền kinh tế, góp phần tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập quốc dân, gia tăng việc làm trong nền kinh tế.

  • Lợi nhuận: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả của mọi hoạt động

kinh doanh trong một thời kỳ nhất định, nó là chỉ tiêu cơ bản nhất để phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh. Lợi nhuận của hoạt động kinh doanh chính là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí của hoạt động kinh doanh trong kỳ. Công thức tính của nó như sau:

Lợi nhuận = Tổng doanh thu – Tổng chi phí.

Lợi nhuận là đại lượng tuyệt đối đánh giá hoạt động kinh doanh song bản thân nó mới chỉ biểu hiện một cách đơn giản mối quan hệ so sánh giữa thu và chi, muốn đưa được đánh giá sâu rộng hơn ta phải sử dụng các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận hay còn gọi là chỉ tiêu doanh lợi.

 

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Dịch vụ viết luận văn và được gắn thẻ , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s