CHIẾN LƯỢC TỔ CHỨC QUỐC TẾ VÀ QUẢN TRỊ NHÂN SỰ QUỐC TẾ CỦA UNILEVER


LỜI MỞ ĐẦU

 Với xu thế mở rộng của quá trình toàn cầu hóa, các quốc gia trên thế giới đang trở nên gần nhau hơn và các doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn lớn đang bành trướng vị thế của mình trong quá trình chiếm lĩnh thị trường ngày một rộng lớn. Trong đó không thể không kể đến sự tăng trưởng vượt bật, sự bức phá ngoạn mục trong nhiều năm gần đây của tập đoàn Unilever. Chưa nói đến các quốc gia khác, chỉ riêng Việt Nam thì sản phẩm của Unilever đã xuất hiện ở khắp mọi nơi. Đây là một thương hiệu có sức mạnh vô cùng to lớn, tạo và giữ được lòng tin của đông đảo khách hàng. Để làm được một thành quả vĩ đại như vậy không phải đơn giản là một sớm một chiều, mà tin chắc rằng Unilever cũng trải qua không ít những thay đổi từ nhiều mặt, một trong những yếu tố đáng chú ý cần nhắc đến đó chính là cơ cấu tổ chức và quản trị nguồn nhân lực. Với một tập đoàn khổng lồ, chắc hẳn ai cũng sẽ có một suy nghĩ về cơ cấu tổ chức vô cùng phức tạp, hệ thống nhân viên dày đặc, kiểm soát và quản lý sẽ vô cùng khó khăn. Để tìm hiểu về vấn đề này và kiểm tra xem những điều suy nghĩ đó có đúng là sự thật không ? Cụ thể như thế nào? Nhóm P2VN đã mạnh dạn quyết định lựa chọn đề tài: “CHIẾN LƯỢC TỔ CHỨC QUỐC TẾ VÀ QUẢN TRỊ NHÂN SỰ QUỐC TẾ CỦA UNILEVER” để đi sâu vào tìm hiểu những vấn đề còn thắc mắc cùng với mục đích muốn biết thêm nhiều kiến thức có liên quan đến chuyên ngành đang học, đặc biệt hơn nữa khi tìm hiểu về chiến lược tổ chức và quản trị nguồn nhân lực của tập đoàn này, nhóm hy vọng sẽ nắm bắt nhiều hơn những thông tin cần thiết để có thể chọn là đây là một trong những mục tiêu phấn đấu được làm việc sau khi tốt nghiệp. Nhóm xin chân thành cảm ơn giảng viên bộ môn đã tạo đã tạo điều kiện và giúp đỡ để có cơ hội thực hiện bài luận này. Mặc dù đã cố gắng làm việc trong khả năng tốt nhất có thể nhưng chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót không thể tránh khỏi, rất mong nhận được ý kiến đóng góp và nhận xét từ phía cô và các bạn.

                                                                 

I. TÌM HIỂU CHUNG VỀ UNILEVER

  1. 1.     QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

1.1.         Lịch sử phát triển

Tập đoàn Unilever thành lập năm 1930, là kết quả cuộc sát nhập của công ty LeverBrothers (Anh) và Margarine Unie (Margarine Union Limited) (Đan Mạch). Kể từ thời điểm đó, hãng đã có 2 trụ sở chính đặt tại Rotterdam, London và 2 tổng giám đốc. Năm 2005, hãng sắp xếp lại cơ cấu này và từ đây chỉ có một tổng giám đốc duy nhất. Unilever là tập đoàn sản xuất hàng tiêu dùng đang sở hữu những thương hiệu lớn như Lipton, Hellman’s, Ragu, Rama, Magnum, Bertolli, Knorr, Bird’Eyes, Slim-Fast, Dove, Pond, Signal, Close-up, Surf và Omo…với hơn 206.000 nhân viên làm việc trong hơn 500 công ty tại 100 quốc gia trên thế giới cùng mức lợi nhuận hàng năm trên toàn cầu vào khoảng 40 tỷ euro.

Cuộc sáp nhập thế kỷ

Cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất đã củng cố thêm vị trí của Unilever trên thị trường nội địa cũng như quốc tế. Lever mở rộng mặt hàng kinh doanh của mình sang lĩnh vực sản xuất bơ thực vật (margarin). Mặc dù margarin được phát minh tại Pháp song những nhà máy sản xuất loại bơ thực vật đầu tiên trên thế giới lại được người Hà Lan xây dựng vào thập niên 70 – 80 của thế kỷ trước. Hai trong số những nhà máy lớn nhất ở Hà Lan chính là Jurgens và Van den Berg. Đối tượng chính sử dụng loại bơ rẻ tiền này chính là tầng lớp công nhân lao động. Ban đầu, các công ty Hà Lan sử dụng mỡ động vật để sản xuất ra margarin. Nhưng vào đầu thế kỷ 20, giá nguyên liệu này tăng cao khiến cho các nhà sản xuất phải tính đến biện pháp tìm nguyên liệu khác rẻ hơn thay thế mỡ thực vật. Margarin bắt đầu được chế tạo từ dầu dừa, dầu cọ, dầu đậu phộng… Các nhà sản xuất margarin tại Hà Lan đã thống nhất với nhau để không xảy ra cạnh tranh giữa các hãng. Tuy nhiên, thỏa thuận mà họ đưa ra không mấy tỏ ra hiệu quả, dẫn đến việc hình thành một liên minh bơ – Margarine Union vào năm 1927 giữa Jurgens và Van den Berg để kiểm soát toàn bộ thị trường bơ tại châu Âu. Sau đó, Margarine Union bắt đàm phán với Lever Brothers về khả năng sáp nhập giữa các bên nhằm tạo ảnh hưởng với thị trường châu Âu.Tuy nhiên, ngay lúc này, đề nghị đó đã không được thực hiện.Cho đến tháng 1/1930, sự hợp nhất giữa Margarine Union và Lever Brothers mới được thực hiện.Một liên minh mới Anh-Hà Lan có tên là Unilever đã ra đời. Để tránh hệ thống đánh thuế kép, liên minh này quyết định tách thành hai công ty: Unilever PLC có trụ sở tại Anh và Unilever NV đóng trụ sở tại Hà Lan. Và dù hai công ty này có cơ cấu hoạt động gần như độc lập, song Unilever vẫn như một thực thể thống nhất. Cổ đông của Unilever, dù ở Anh hay Hà Lan cũng đều nhận được một mức cổ tức như nhau.

a)      Unilever qua các năm

Giai đoạn

 

 

Thế kỷ 19

Đặc điểm

Các công ty sáng lập của Unilever sản xuất các sản phẩm làm bằng các loại dầu và chất béo, xà phòng chủ yếu và bơ thực vật. Vào đầu thế kỷ 20 mở rộng của họ gần như vượt xa sự cung cấp nguyên liệu

Điểm nổi bật

 

1872

 

Tại Hà Lan, Jurgens và Van den Bergh mở nhà máy đầu tiên của họ để sản xuất bơ thực vật.

1884

Lever & Co bắt đầu sản xuất xà phòng Sunlight.

1886

 

Knorr – trở thành một phần của Unilever – ra mắt các viên súp với chiết xuất từ thịt.

1887

 

Lever & Co sản xuất 450 tấn xà phòng Sunlight một tuần và William Lever mua các trang web mà ông sẽ xây dựng Port Sunlight.

1888

 

Jurgens và Van den Bergh đều di chuyển vào một thị trường thịnh vượng, Đức, và xây dựng các nhà máy ở đó.

1890

 

Lever & Co trở thành một công ty trách nhiệm hữu hạn – Lever Brothers Ltd.

1891

 

Van den Bergh di chuyển trụ sở mới tại Rotterdam.

1894

 

Lever & Co tạo ra một sản phẩm mới với giá cả phải chăng – xà phòng Lifebuoy.

Lever Brothers trở thành một công ty đại chúng.

Giữa những năm 1890

 

Lever Brothers đang bán gần 40 000 tấn xà phòng Sunlight một năm và bắt đầu mở rộng sang châu Âu, Mỹ và thuộc địa của Anh với các nhà máy, các doanh nghiệp xuất khẩu và các đồn điền.

1898

 

Van den Bergh đã có một lực lượng bán hàng mạnh mẽ và ra mắt một bơ thực vật mới mang nhãn hiệu – Vitello.

1899

 

Lever Brothers giới thiệu một loại mới của sản phẩm, Flakes Sunlight – mà làm cho công việc gia đình dễ dàng hơn với các thanh xà phòng cứng truyền thống. Năm 1900 Flakes Sunlight sẽ trở thành Lux Flakes.

Thập niên 1900

 

Đặc điểm

Vào những năm đầu của thế kỷ 20, các doanh nghiệp sản xuất bơ thực vật và xà phòng bắt đầu để di chuyển sâu hơn vào thị trường của nhau.

Cạnh tranh và tăng mạnh đột ngột trong chi phí nguyên liệu dẫn nhiều đến việc thiết lập các hiệp hội, thúc đẩy lợi ích của mình và tự bảo vệ mình chống lại độc quyền nhà cung cấp. (Đan Mạch).

Điểm nổi bật

1904

LeverBrothers sản xuất sản phẩm Vim – một trong những cách thức cọ rửa đầu tiên.

Công ty được thành lập tại Nam Phi.

1906

Lever Brothers có một nền thương mại xuất khẩu phát triển mạnh và có các nhà máy ở ba nước châu Âu cũng như ở Canada, Australia và Mỹ. Nó cũng bắt đầu các doanh nghiệp ở Thái Bình Dương.

1908

Jurgens và Van den Bergh thỏa thuận để tạo thành một liên kết và chia sẻ lợi nhuận trong khi vẫn tiếp tục cạnh tranh với nhau.

1909

 

Lever Brothers phát triển một trang trại trồng cọ ở quần đảo Solomon. Jurgens và Van den Bergh thiết lập một liên doanh trồng cọ doanh tại Đức Châu Phi.

1910

 

Thị trường Vương quốc Anh cho xà phòng đạt đến điểm bão hòa, do đó, Lever Brothers tập trung vào mua lại

Một thập kỷ của sự thay đổi

 

Đặc điểm

Điều kiện kinh tế khó khăn cùng với chiến tranh Thế giới I làm cho kinh doanh khó khăn cho tất cả mọi người, rất nhiều doanh nghiệp hình thành các hiệp hội thương mại để bảo vệ lợi ích chung của họ.

Điểm nổi bật

 

1910

 

Lever Brothers mua công ty đầu tiên ở Tây Phi, WB MacIver Ltd, để bảo đảm nguồn cung cấp dầu cọ cho Port Sunlight.

1911

 

Nghiên cứu đầu tiên nhằm mục đích xây dựng phòng thí nghiệm được xây dựng tại Port Sunlight.

1912

 

Thỏa thuận chia sẻ lợi nhuận đầu tiên giữa Jurgens và Van den Bergh là chấm dứt nhưng hai công ty tiếp tục làm việc cùng nhau.

1913

 

Doanh nghiệp hàng đầu ở châu Âu tham gia lực lượng để tạo ra dầu cá voi.

1917

 

Lever Brothers mua lại một công ty được thành lập vào năm 1789, và Jurgens hình thành một liên minh với Kellogg để chuẩn bị cho mở rộng vào Bắc Mỹ.

Khoảng thời gian này Jurgens và Van den Bergh cả hai thiết lập các nhà máy ở Anh, với một trong Purfleet, Essex vẫn còn sản xuất bơ thực vật ngày nay.

Lever Brothers cũng mở rộng vào thị trường bơ thực vật với sự ra mắt của trồng trọt, tăng hoạt động ở Nam Phi và thấy doanh nghiệp Mỹ bắt đầu di chuyển vào lợi nhuận. 

Thập niên 1920

Đặc điểm

Với việc các doanh nghiệp mở rộng nhanh chóng, các công ty thiết   lập các cuộc đàm phán có ý định để ngăn chặn người khác sản xuất cùng loại sản phẩm. Nhưng thay vào đó họ đồng ý hợp nhất – và do đó, Unilever được tạo ra.

Điểm nổi bật

 

1920

 

Lever Brothers tăng kiểm soát của Công ty Niger, mà sau này trở thành một phần của Công ty Liên Hiệp Châu Phi.

1922

 

Lever Brothers mua Wall, một công ty xúc xích phổ biến bắt đầu sản xuất kem để bán trong mùa hè khi nhu cầu đối với xúc xích rơi.

1927

 

Jurgens và Van den Bergh hợp tác tạo thành Margarine Unie – Liên minh Margarine. Công đoàn nhanh chóng có thêm thành viên mới, tạo ra một nhóm lớn các doanh nghiệp châu Âu tham gia vào việc sản xuất của hầu hết tất cả các hàng hoá được từ các loại dầu và chất béo.

Một công ty LeverBrothers, ra mắt các bơ thực vật giàu vitamin đầu tiên – Viking.

1928

 

Margarine Unie mua lại các nhóm Pháp-Hà Lan với các nhà máy ở Hà Lan, Pháp, Bỉ và Tiệp Khắc. Năm sau Liên minh cũng mua lại các Hartog công ty.

1929

 

Lever Brothers và Margarine Unie ký một thỏa thuận để tạo ra Unilever.

Thập niên 1930

 

Đặc điểm

Thập kỷ đầu tiên của Unilever không vận hành dễ dàng: nó bắt đầu với cuộc Đại suy thoái và kết thúc bằng cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Nhưng khi nó hoạt động đã tạo ra sự đa dạng hóa cho sản phẩm.

Điểm nổi bật

 

1930

 

Ngày 01 Tháng 1 Unilever chính thức thành lập.

Procter & Gamble vào thị trường Vương quốc Anh với việc mua lại của Thomas Hedley Ltd của Newcastle và trở thành một trong những đối thủ lớn nhất của Unilever.

Thập niên 1940

 

Đặc điểm

Hoạt động của Unilever trên toàn thế giới bắt đầu phân mảnh, nhưng doanh nghiệp vẫn tiếp tục mở rộng hơn nữa vào thị trường thực phẩm và tăng cường đầu tư vào nghiên cứu và phát triển.

Điểm nổi bật

 

1943

 

Unilever trở thành cổ đông chiếm đa số trong Frosted Foods công ty sở hữu Birds Eye và các quyền đối với  phương pháp bảo quản thực phẩm mới cho thị trường đại chúng.

Khoảng thời gian đó, Unilever mua lại của Batchelor, chuyên rau đông khô và các hàng hóa đóng hộp.

1945

 

Khi kết thúc chiến tranh, Unilever có thể giành lại quyền kiểm soát mạng lưới quốc tế của nó mặc dù vẫn còn đóng cửa ra ngoài từ Đông Âu và Trung Quốc. Việc phân cấp của doanh nghiệp là quyết định không thể tránh khỏi trong thời kì chiến tranh.

1946

 

Birds Eye ra mắt đậu Hà Lan đông lạnh đầu tiên ở Anh. Vào thời gian này thịt, cá kem, và tài khoản hàng hóa đóng hộp chỉ có 9% tổng doanh thu của Unilever.

Thập niên 1950

 

Đặc điểm

Bùng nổ kinh doanh về công nghệ mới và dẫn đầu Cộng đồng Kinh tế châu Âu đã tăng tiêu chuẩn sống ở phương Tây. Trong khi đó, các thị trường mới mởlại mới nổi trên nền kinh tế toàn cầu.

Điểm nổi bật

 

1954

 

Dầu gội đầu Sunsilk được đưa ra ở Anh và sẽ trở thành thương hiệu dầu gội hàng đầu của Unilever.

1955

 

Unilever phát sóng quảng cáo đầu tiên trên Vương quốc Anh bằng phương tiện truyền hình cho kem đánh răng Gibbs SR.

Xà phòng Dove được đưa ra ở Mỹ.

1958

 

Trong Unilever Hà Lan mở rộng vào các thực phẩm đông lạnh và kem thông qua việc mua lại của Vita NV, mà sau này trở thành Tập đoàn Iglo Mora.

Thập niên 1960

 

Đặc điểm

Khi nền kinh tế thế giới mở rộng. Unilever đặt ra việc phát triển sản phẩm mới, đi vào các thị trường mới và chạy một chương trình mua lại đầy tham vọng cao.

Điểm nổi bật

 

1960

 

Tất cả các thương hiệu liên quan đến việc giặt rửa được đặt dưới sự kiểm soát của một công ty duy nhất, Lever Brothers and Associates. Becel, bơ thực vật tiên phong ‘sức khỏe’, được đưa ra sau khi các cộng đồng y tế yêu cầu Unilever để phát triển một sản phẩm thực phẩm làm giảm cholesterol.

1961

 

Good Humor ice cream được mua lại ở Mỹ.

1963

 

Cornetto, đóng gói và thương hiệu kem hình nón, bắt đầu tại châu Âu. Becel là thay đổi vị trí như một chế độ ăn bơ thực vật và phân phối được mở rộng để bao gồm các ngành hàng tạp hóa.

1965

CIF lần đầu tiên được đưa ra Pháp.

1968

 

Unilever cố gắng sáp nhập với Allied Breweries, một trong những công ty sản xuất bia lớn nhất của Vương quốc Anh, nhưng không thành công.

Thập niên 1970

 

Đặc điểm

Điều kiện kinh tế khó khăn và lạm phát cao gây ảnh hưởng đối với tất cả mọi người, nhưng điều đặc biệt làkhu vực bán lẻ lại thể hiện sức mạnh trong ngành hàng tiêu dùng.

Điểm nổi bật

 

1970

 

Unilever mua lại việc kinh doanh thịt Zwanenberg tại Oss, mà cuối cùng sẽ trở thành thịt Unilever nhóm UVG.

1971

 

Lipton được mua lại và trở thành thương hiệu nổi tiếng trên thế giới. Chất khử mùi Impulse được đưa ra, bắt đầu tại Nam Phi. Mentadent được đưa ra ở Áo là một thương hiệu y tế cách mạng kẹo cao su.

1973

 

Kem Frigo được mua lại ở Tây Ban Nha.

1977

 

Đến nay, qua chín thành viên của Cộng đồng Kinh tế châu Âu, Unilever sử dụng gần 177.000 người tại 200 văn phòng và nhà máy, đầu tư vào tài sản cố định ở một tỷ lệ của 30 triệu bảng Anh về Anh một năm và chi tiêu về Vương quốc Anh 1 tỷ bảng Anh vào nguồn cung cấp.

1978

 

Hiểu ý định gia tăng sự hiện diện của nó ở Mỹ, Unilever mua lại National Starch, một nhà sản xuất hàng đầu của tinh bột, chất kết dính và hóa chất đặc biệt hữu cơ.

Thập niên 1980

 

Đặc điểm

Unilever là một trong những công ty lớn nhất thế giới, nhưng chỉ tập trung và hợp lý hóa vào danh mục đầu tư của mình, để tập trung vào sản phẩm và thương hiệu cốt lõi.

Điểm nổi bật

 

1983

 

Axe cơ thể phun cho nam giới (Lynx tại Anh) là lần đầu tiên được đưa ra, bắt đầu ở Pháp.

1984

 

Unilever công bố Chiến lược Core và Kinh doanh mua bán, thanh lý, nhượng bán lớn trong hơn một thập kỷ tiếp theo.

Brooke Bond được mua lại.

1986

 

Việc mua lại Naarden làm tăng gấp đôi kinh doanh của Unilever trong nước hoa và hương vị thực phẩm. Chesebrough-ao, công ty sở hữu Pond và Vaseline, được mua lại ở Mỹ.

1987

 

Dove là bắt đầu lại ở châu Âu, bắt đầu ở Ý.

1989

 

Calvin Klein và Elizabeth Arden, Fabergé được mua lại trong khi kem Magnum được đưa ra tại Đức.

Thập niên 1990

 

Đặc điểm

Kinh doanh mở rộng sang Trung và Đông Âu. Hơn nữa, việc tập trung vào các loại sản phẩm ít hơn dẫn đến việc bán hoặc thu hồi hai phần ba các thương hiệu của nó.

Điểm nổi bật

 

1992

 

Unilever vào Cộng hòa Séc và Hungary, thiết lập UniRus ở Nga.

1993

 

Breyers kem được mua lại ở Mỹ và dầu gội đầu Organics  lần đầu tiên ra mắt tại Thái Lan.

1995

 

Unilever công bố luật về các nguyên tắc kinh doanh.

Quyết định chưa từng có được thực hiện thực tế loại bỏ chất béo trans từ sản xuất lương thực trong một phản ứng nhanh chóng, nghiên cứu mới cho thấy rằng tác động của chúng trên cholesterol trong máu ít nhất là tác dụng phụ như các chất béo bão hòa.

1996

 

Unilever bắt đầu làm việc với WWF để thiết lập một chương trình chứng nhận cho thủy sản bền vững được gọi là Hội đồng Quản lý biển (MSC).

Hindustan Lever và Brooke Bond Lipton Ấn Độ hợp nhất để tạo ra các công ty khu vực tư nhân lớn nhất Ấn Độ, và nhãn hiệu chăm sóc tóc Helene Curtis kinh doanh ở Mỹ được mua lại.

Trung tâm dinh dưỡng Unilever được tạo ra.

Annapurna muối iốt được đưa ra ở Ấn Độ để khắc phục tình trạng thiếu i-ốt.

1997

Kem Kibon được mua lại tại Brazil.

Những năm 2000

 

Đặc điểm

Thập kỷ bắt đầu với sự ra mắt của Đường dẫn đến tăng trưởng, một kế hoạch chiến lược năm năm, và năm 2004 tiếp tục là sắc tập trung vào nhu cầu của người tiêu dùng của thế kỷ 21 với nhiệm vụ đầy sức sống của nó. Trong năm 2009, Unilever công bố tầm nhìn mới doanh nghiệp của mình – làm việc để tạo ra một tương lai tốt đẹp hơn mỗi ngày với các thương hiệu giúp mọi người nhìn tốt, cảm thấy tốt và nhận được nhiều hơn trong cuộc sống.

 

Điểm nổi bật

 

2000

 

Bestfoods được mua lại bằng tiền mặt lớn thứ hai trong lịch sử. Việc mua lại khác bao gồm thực phẩm Slim.Fast, Ben & Jerry và kinh doanh Amora-Maille ẩm thực ở Pháp. 

Viện Y tế Unilever – một trung tâm xuất sắc trong sức khỏe, dinh dưỡng và Sức sống được đưa ra.

2001

 

Unilever đã cắt giảm thương hiệu của mình từ 1.600 đến 900. DiverseyLever, Elizabeth Arden và Unipath được bán.

2002

 

Danh mục đầu tư được định hình lại và tăng cường thông qua mua lại và bán hàng của 87 doanh nghiệp mà không có tăng trưởng chấp nhận được hoặc tiềm năng lợi nhuận, tạo ra 6,3 tỷ euro tiền bán.

2003

 

Viện Y tế Unilever sẽ mở ra các trung tâm khu vực tại Bangkok và Accra, Ghana.

Unilever tham khảo ý kiến ​​của Tổ chức Y tế Thế giới về sự phát triển của một chiến lược toàn cầu về chế độ ăn, hoạt động thể chất và Y tế (xuất bản tháng 5 năm 2004).

Chính sách dinh dưỡng và Học viện Y tế đưa ra.

2004

 

Nhiệm vụ Vitality được đưa ra và thương hiệu Unilever mới tung ra, bao gồm cả logo mới đại diện cho sự đa dạng của Unilever, các sản phẩm của Unilever và những người của Unilever.

2005

 

Antony Burgmans trở thành chủ tịch không điều hành của Unilever NV và PLC Unilever trong khi Patrick Cescau có vai trò mới của nhóm giám đốc điều hành, chịu trách nhiệm về mọi hoạt động.

Unilever bán nước hoa uy tín kinh doanh toàn cầu, Mỹ phẩm quốc tế Unilever (UCI), Coty Inc của Mỹ. Chương trình Tăng cường dinh dưỡng đã hoàn thành, thông qua đó có 16.000 sản phẩm được đánh giá mức độ chất béo trans, chất béo bão hòa, natri và đường, và nơi cần thiết, hành động thực hiện.

2006

 

Antony Burgmans rời khỏi ghế Chủ tịch của Unilever sau hơn 35 năm. Kế vị ông, Michael Treschow là Chủ tịch độc lập đầu tiên của Hội đồng của Unilever.

Công nghệ mới giúp tạo ra Small& Mighty, siêu bột giặt tập trung chất lỏng đầu tiên sử dụng một phần ba bao bì, một phần ba nước và một phần ba chất lỏng loãng.

2007

 

Unilever công bố thỏa thuận để có đượcthương hiệu đồ uống Buavita ở Indonesia và Inmarko, kinh doanh kem băng hàng đầu ở Nga.

Unilever cam kết tất cả các nguồn trà của nó từ nguồn tốt cho sức khỏe, yêu cầu Rainforest Alliance bắt đầu kiểm tra các nhà cung cấp trà có hiệu lực ngay lập tức. Công ty nhằm mục đích giành chiến thắng chứng nhận cho tất cả các Lipton Nhãn Vàng và túi trà PG Tips bán ở Tây Âu vào năm 2010 và tất cả các túi trà Lipton bán trên toàn cầu vào năm 2015.

2008

 

Unilever công bố bán một số sản phẩm mà nó kinh doanh giặt ủi ở Bắc Mỹ, dầu ăn kinh doanh tại Côte d’Ivoire cùng với lợi ích của mình trong các đồn điền cọ dầu địa phương, Palmci và PHCI và dầu ô liu Bertolli và kinh doanh giấm với Grupo SOS .

Đối với các hoạt động năm thứ mười, Unilever đặt tên các loại thực phẩm khu vực dẫn đầu trong các chỉ số bền vững Dow Jones – công ty duy nhất để đạt được một giải thưởng.

2009

 

Paul Polman đảm nhận vai trò Giám đốc điều hành vào ngày 01 tháng 01, lần đầu tiên Hội đồng đã lựa chọn một ứng cử viên bên ngoài vị trí này và Patrick Cescau đã nghỉ hưu sau 35 năm dịch vụ cho công ty.

Unilever chú trọng danh mục đầu tư của mình với công bố mua lại của thương hiệu chăm sóc cá nhân của Sara Lee, chuyên nghiệp các nhãn hiệu chăm sóc tóc TIGI và kinh doanh nước sốt cà chua Baltimor ở Nga.

Công ty đã mua 185.000 tấn dầu cọ bền vững thông qua giấy chứng nhận GreenPalm, chiếm khoảng 15% tổng số nhu cầu của nó.

Khoảng 80% của Lipton Nhãn vàng và túi trà PG Tips bán ở Tây Âu có nguồn gốc từ các trang trại được chứng nhận. Rainforest Alliance cũng trở thành sàn phẩm ở Mỹ, Nhật Bản và Australia.

Gần 17 triệu bữa ăn tại trường đã được chuyển giao đến 80.000 trẻ em thông qua quan hệ đối tác của công ty với các chương trình lương thực thế giới.

Hướng tới cuối năm nay, công ty đưa ra một tầm nhìn mới: tăng gấp đôi kích thước của kinh doanh của mình đồng thời giảm tác động tổng thể của nó môi trường.

b)     Những bí ẩn đằng sau logo Unilever

Unilever là một trong những tập đoàn đa quốc gia cung ứng hàng tiêu dùng (FMCG) hàng đầu thế giới, hãng sản xuất ra rất nhiều sản phẩm chăm sóc cá nhân và gia đình (bột giặt OMO, sữa tắm Lux, Lifebuoy, dầu gội Sunsilk …) hay các sản phẩm thực phẩm, trà và các đồ uống từ trà, các sản phẩm chăm sóc vệ sinh răng miệng (trà Lipton nhãn vàng, Lipton Icetea, nước mắm và bột nêm Knorr…). Năm 2004, Unilever đã thay đổi hình ảnh logo quen thuộc của mình.Logo cũ đơn thuần chỉ là 1 chữ U màu xanh là viết tắt của Unilever. Logo mới tạo ra một bước tiến mới, nâng tầm giá trị của Unilver với những ý nghĩa thú vị đằng sau nhiều biểu tượng độc đáo tạo nên chữ U mới.

Unilever giúp mọi người cảm thấy tốt, nhìn tốt và nhận được nhiều hơn của cuộc sống với thương hiệu và dịch vụ tốt cho họ và tốt cho những người khác. Bản sắc của Unilever thể hiện giá trị cốt lõi của mình, với mỗi biểu tượng đại diện cho một khía cạnh của doanh nghiệp.

Rõ ràng, màu xanh lớn ‘U’ logo  là viết tắt của Unilever. Nhưng nhìn gần hơn một chút và bạn sẽ thấy có nhiều hơn nữa cho nó.

Logo của được thiết kế để bao gồm 24 biểu tượng, đại diện cho những sản phẩm quan trọng của Unilever.

Từ một lọn tóc tượng trưng cho thương hiệu dầu gội đầu của Unilever để một cái thìa, kem đá, một cái bình, một chiếc lá trà, bàn tay và nhiều hơn nữa, các biểu tượng nhỏ tất cả đều có một ý nghĩa.
1. SUN

Mặt trời: Nguồn sống cho tất cả chúng ta, mặt trời gợi chúng ta nhớ đến nguồn gốc của Unilever tại Port Sunlight và có thể đại diện cho một số lượng nhãn hàng của Unilever. Flora, Slim·Fast và Omo, tất cả đều sử dụng ánh sáng rực rỡ để truyền đạt lợi ích.

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Dịch vụ viết luận văn và được gắn thẻ , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s