Xây dựng chương trình đóng gói nội dung tuân theo chuẩn SCORM.


 Chương 0

ĐẶT VẤN ĐỀ

1.Tầm quan trọng  trong việc xây dựng nên công cụ tạo gói nội dung tuân theo chuẩn SCORM  trong e-learning

   Khi công nghệ Web được phát minh ra,các nhà cung cấp dịch vụ  đào  tạo bắt đầu nghiên cứu cách thức cải tiển phương pháp giáo dục bằng công nghệ này  và đã đáp ứng phần nào nhu cầu của đại đa số của người học.Tuy nhiên,khi công nghệ ngày càng phát triển với nhiều công nghệ mới ra đời như công nghệ JAVA,.NET và đương truyền mạng ngày cao thì nhu cầu về việc tạo nên các nguồn tài nguyên học độc lập với công nghệ là vô cùng quan trọng . Ngoài ra nhu cầu tái sử  dụng các tài nguyên học phục vụ cho việc trao đổi , chia sẻ giữa các hệ thống khác nhau không phụ thuộc vào công cụ , nền tảng tạo nên gói nội dung đó.

   Sự phát triển mạnh mẽ của Internet mạng có khả năng triển khai trên toàn cầu và mạng Intranet- hệ thống thông tin nội bộ dựa trên công nghệ Internet- hỗ trợ rất mạnh các ứng dụng mạng trên môi trường mạng LAN/WAN trong phạm vi các cơ quan, tổ chức thì việc đưa ra một chuẩn trong e-learning không còn dừng lại ở tính khả thi mà đã,  đang và sẽ được triển khai

   Với yêu cầu bức thiết đó rất nhiều tổ chức đi tiên phong đã đưa ra các đặc tả khác nhau nhằm đáp ứng các đòi hỏi ở trên như các tổ chức AICC,IMS,IEEE….Nhằm thông nhất các đặc tả do các tổ chức đưa ra nhằm tạo nên một chuẩn thống nhất chung cho cộng đồng e-learning ,tổ chức ADL đã kết hợp các đặc tả nổi tiếng và xây dựng  nên chuẩn SCORM – một chuẩn được thừa nhận rộng rãi trong cộng đồng phát triển e-learning.

    Sự ra đời của chuẩn SCORM đã tạo một bước tiến quan trọng trong e-learning đồng thời cũng đòi hỏi có các công cụ cho phép người biên soạn tạo nên các gói nội dung học tuân thủ chuẩn SCORM là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với những người phát triển phần mềm trong e-learning.

2.Tình hình thực tế.

     Việt Nam chính thức kết nối Internet từ năm 1997, sau 8 năm việc sử dụng Internet và Intranet đã được triển khai ở nhiều nơi.Ở Việt Nam cũng có nhiều công ty,tổ chức,các trường đại học như đại học Bách Khoa Hà Nội,đại học quốc gia Hà Nội…có nhu cầu xây dựng các hệ thống e-learning phục vụ cho việc đào tạo từ xa.Các sản phẩm e-Learning có khá nhiều ở Việt Nam phát triển bởi các công ty, các trường đại học, các viện nghiên cứu. Nhưng đa số các sản phẩm chưa tuân theo chuẩn, đặc biệt là SCORM. Đáng chú ý là công ty NCS tiên phong trong việc phát triển các sản phẩm e-Learning tuân theo SCORM ở Việt Nam. Các sản phẩm hiện thời của công ty tuân theo SCORM 1.2. Tuy nhiên, do mang tính thương mại nên công ty không công bố các tài liệu kĩ thuật và mã nguồn thực thi SCORM 1.2.

3.Nhiệm vụ của đề tài.

  • Tên đề tài : Xây dựng chương trình đóng gói nội dung tuân theo chuẩn SCORM.
  • Nhiệm vụ của đề tài :

       Đồ án tập trung vào tìm hiểu chuẩn SCORM và xây dựng chương trình đóng gói nội dung học tuân theo chuẩn SCORM.Đồ án tập trung vào các chức năng chính sau đây :

  • Biên soạn siêu dữ liệu tuân theo chuẩn LOM.
  • Biên soạn cấu trúc nội dung giảng dạy tuân theo chuẩn SCORM 2004.
  • Biên soạn các qui tắc học (Sequencing Navigation) trong cấu trúc gói nội dung.
  • Chuyển đổi các gói nội dung SCORM 1.2 sang SCORM 2004.
  • Đóng gói nội dung theo định dạng nén ZIP.
  • Các tiện ích trợ giúp trong quá trình đóng gói nội dung.

     Đồ án được chia làm 6 chương bao gồm :

 

STT

Tên chương

Mô tả

0

Đặt vấn đề.

Chương này nêu tổng quan tình hình thực tế, tính cấp thiết và nhiệm vụ của đề tài.

I

Sự ra đời của chuẩn SCORM

Chương này nêu nhu cầu bức thiết cho ra đời chuẩn SCORM cũng như các định nghĩa,khái niệm cơ bản.

II

Chuẩn  SCORM

Chương này nêu lên các lý thuyết tổng quan về SCORM : Các khái niệm,các thành phần cơ bản,các qui tắc..

III

Tạo gói nội dung e-

Course tuân thủ SCORM

Chương này nêu cách thức cho việc tạo gói nội dung tuân thủ chuẩn SCORM.

 

Phân tích thiết kế và cài đặt công cụ đóng gói nội dung học tuân theo chuẩn  SCORM.

 

Chương này trình bày về kiến trúc,chức năng chính của chương trình.

V

Kết luận

Những kết quả và hướng nghiên cứu ,triển khai trong tương lai.

Chương I

SỰ RA ĐỜI CỦA CHUẨN SCORM

1.1.Mở đầu.

    Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ đặc biệt là khoa học về nhận thức và công nghệ thông tin dẫn đến sự biến chuyển của giáo dục và đào tạo theo sự phát triển đó.Kết quả là thuật ngữ e-Learning ra đời đánh dấu một bước ngoặt lớn trong việc áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục và đào tạo.

    Tuy nhiên ở giai đoạn đầu của e-Learning đã có sự chia rẽ trong cộng đồng giữa hai nhóm: nhóm các nhà khoa học ứng dụng (kĩ sư) và nhóm những nhà nghiên cứu học thuật. Sau đó, sự ra đời của WWW (World Wide Web) và yêu cầu ở phía người dùng đã hàn gắn sự chia rẽ. Kết quả là sự ra đời của các đặc tả được đề xuất bởi các tổ chức lớn về các vấn đề xung quanh e-Learning như đặc tả về đóng gói nội dung, đặc tả về trao đổi thông tin giữa nội dung và hệ thống đào tạo.

    Các đặc tả nói trên được phát triển bởi các tổ chức khác nhau và nhằm giải quyết các vấn đề khác nhau trong e-Learning. Mặc dù được chấp nhận như các chuẩn không chính thức trong cộng đồng e-Learning, các đặc tả tồn tại riêng lẻ, không thống nhất, và không có quan hệ chặt chẽ với nhau. Để phát triển e-Learning hiệu quả, chi phí thấp, cần có một mô hình thống nhất các đặc tả trên lại.

   ADL (Advanced Distributed Learning) được thành lập năm 1997 dưới sự bảo trợ của bộ quốc phòng (DoD) và văn phòng khoa học và công nghệ nhà trắng(White House Department of Science and Technology) của Mĩ. Với thế mạnh truyền thống của DoD trong việc thiết lập các chuẩn trong công nghệ thông tin và truyền thông như mạng Internet, chuẩn công nghệ phần mềm CMM, ADL đã đưa ra một mô hình tham khảo , kết hợp các đặc tả nổi tiếng , đang được chấp nhận rộng rãi gọi là SCORM ( Sharable Content Object Reference Model ) giúp cho e-Learning tiến thêm một bước mới . SCORM là một trong các vấn đề được quan tâm chính và sẽ được làm rõ về nguồn gốc ra đời, định nghĩa, và các chi tiết kĩ thuật cụ thể trong suốt luận án.

 1.2.Phương pháp đào tạo truyền thống.

   Theo phương pháp này, học viên sẽ tham gia các cua học theo một kế hoạch định trước của nhà trường và học viên học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Phương pháp học tập này vẫn còn rất phổ biến, đặc biệt tại các nước đang phát triển như Việt Nam . Nhược điểm của nó là học viên bị gò bó về mặt thời gian, không hiệu quả về kinh tế, không được học những gì mình thích và không tham gia được các cua học phù hợp với khả năng, trình độ của mình. Sự phát triển như vũ bão của khoa học và kĩ thuật, đặc biệt là khoa học về nhận thức và công nghệ thông tin và truyền thông đã đặt ra cho các nhà cải cách giáo dục các câu hỏi làm sao áp dụng sự tiến bộ khoa học và công nghệ vào trong giáo dục và đào tạo để nâng cao chất lượng, tạo sự thoải mái, hứng thú cho cả học viên và giáo viên. Không những thế, đối với mỗi quốc gia sự cải cách giáo dục, nâng cao dân trí có vai trò sống còn đối với sự tồn tại , phát triển trong thời đại thông tin (Information Age).Tuy nhiên ở đây ta không phủ nhận vai trò của cách học truyền thống mà là sự kết hợp của cả hai cách học tập : e-Learning và truyền thống để đem lại hiệu quả cao nhất cho học viên.

1.3. Ưu điểm của phương pháp giảng dạy có ứng dụng khoa học và công nghệ.

      Đối với các doanh nghiệp việc áp dụng khoa học và công nghệ cho phép cung cấp các chương trình đào tạo kịp thời,hiệu quả với giá thành hợp lý để có được một đội ngũ nhân viên năng động,tận tụy,giỏi nghiệp vụ và hiểu biết.Đối với các trung tâm giáo dục như các trường đại học,các trường phổ thông , các cơ sở đào tạo việc áp dụng e-learning sẽ đem lại các lợi ích như việc giáo dục từ xa,sinh viên tiếp xúc với tri thức một cách toàn diện hơn,chủ động hơn,giáo viên có nhiều lựa chọn trong việc chuyển tải kiến thức và quản lý việc học của sinh viên.Dưới đây cho ta thấy nhưng ưu điểm của việc áp dụng khoa học và công nghệ trong giáo dục và đào tạo :

  • Bất cứ ai,ở bất cứ đâu và học bất cứ lúc nào.
  • Tiết kiệm chi phí bằng cách giảm đáng kể các chi phí đi lại .
  • Khả năng truy nhập thông tin đúng lúc và đúng thời điểm.
  • Khả năng tiếp thu cao hơn nhờ cá nhân hóa việc học tập.
  • Nâng cao tính cộng tác và tương tác giữa người học.
  • Cập nhật được tài liệu dễ dàng.
  • Theo dõi được tiến độ của học viên.
  • Đào tạo trực tuyến sẽ ít đáng sợ hơn đào tạo trên lớp truyền thống.

1.4.E-Learning là gì ?

    Nhiều nhà chuyên môn cho rằng E-learning – phương pháp giáo dục đào tạo mới được đánh giá là cuộc cách mạng trong giáo dục thế kỷ 21. Theo ông Keith Holtham, Giám đốc phụ trách các giải pháp cho doanh nghiệp khu vực châu Á Thái Bình Dương (Intel), E-Learning căn bản dựa trên công nghệ mạng ngang hàng (P2P-Peer to Peer). Đây là giải pháp sử dụng công nghệ cao để hỗ trợ quá trình học tập, cung cấp các dịch vụ đào tạo, khóa học qua mạng Internet hoặc Intranet cho người dùng máy tính. Ưu điểm nổi trội của E-Learning so với các phương pháp giáo dục truyền thống là việc tạo ra một môi trường học tập mở và tính chất tái sử dụng các đơn vị tri thức (learning object). Với công nghệ này, quá trình dạy và học sẽ hiệu quả và nhanh chóng hơn, giúp giảm khoảng 60% chi phí, đồng thời giảm thời gian đào tạo 20-40% so với phương pháp giảng dạy truyền thống. E-learning chuyển tải nội dung phong phú, ấn tượng và dễ hiểu thông qua trang web, bảo đảm chất lượng đào tạo qua những phần mềm quản lý. Mô hình này cho phép học viên cũng như nhân viên tại các công ty chọn học những thứ cần thiết chứ không bó buộc như trước. Bên cạnh đó, học viên có thể học bất cứ lúc nào bằng cách nối mạng mà không cần phải đến trường.Vậy e-Learning là gì ?Có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về e-Learning, dưới đây sẽ trích ra một số định nghĩa e-Learning đặc trưng nhất:

 

  • E-learning  là một thuật dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông”( Compare Infobase Inc).
  • E-learning là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, phân phối hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục”( MASIE Center).
  • ”Việc học tập được phân phối hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử. Việc  phân phối qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, TV, video tape, các hệ thống giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính (CBT)”(Sun Microsystems, Inc).

Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng nói chung e-Learning đều có những điểm chung sau :

  • Dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông cụ thể hơn là công nghệ mạng, kĩ thuật đồ họa, kĩ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán song song,tính toán phân cụm…
  • Hiệu quả của e-Learning cao hơn  so với cách học truyền thống do e-Learning có tính tương tác cao dựa trên  multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người.
  • E-learning sẽ trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức. Hiện nay, e-learning đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nước trên thế giới với rất nhiều tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực e-Learning ra đời.Gần đây nhất là cuộc gặp thượng đỉnh e-Learning toàn cầu với 37 nước tham gia, tổ chức tại Thụy Sĩ vào 16-19 tháng 2 năm 2004.

Hình dưới đây sẽ mô tả một cách tổng quan về e-Learning.Trong mô hình này hệ thống đào tạo gồm bốn thành phần,toàn bộ hay một phần của những thành phần này sẽ truyền tải tới người học thông qua các phương tiện điện tử.   

      Nội dung   :  Các nội dung đào tạo, bài giảng được thể hiện dưới dạng các phương tiện truyền thông điện tử, đa phương tiện. Ví dụ các bài giảng cbt viết bằng toolbookII,…

      Phân phối : Việc phân phối các nội dung đào tạo được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử. Ví dụ tài liệu được gửi cho học viên bằng e-mail, học viên học trên website, học qua đĩa CD-Rom multimedia,…

      Quản lý     : Quá trình quản lý đào tạo được thực hiện hoàn toàn nhờ phương tiện truyền thông điện tử. Ví dụ như việc đăng ký học qua mạng, bằng bản tin nhắn SMS, việc theo dõi tiến độ học tập (điểm danh) được thực hiện qua mạng Internet,…

      Hợp tác     : Sự hợp tác, trao đổi của người học trong quá trình học tập cũng được thông qua phương tiện truyền thông điện tử. Ví dụ như việc trao đổi thảo luận thông qua Chat, Forum trên mạng,…

      E-learning và các phương pháp đào tạo khác : Nhìn chung các nhà chuyên môn đều cho rằng, trong thế kỷ 21 mô hình đào tạo sẽ bao gồm 3 phương thức: Đào tạo truyền thống, Đào tạo tương tác (Vệ tinh/ISDN/IP), và Đào tạo không tương tác bằng E-learning. Tuỳ theo từng nội dung đào tạo và khả năng tài chính mà các cơ sở đào tạo sẽ sử dụng kết hợp các phương thức đào tạo trong mô hình này ở một mức độ phù hợp.

                              Hình 3.Các phương thức đào tạo

 

Phương thức

Nội dung đào tạo (Mức độ chuyên môn)

Số lượng người học

Đào tạo truyền thống

Cao, phức tạp. Các nội dung đào tạo có tính hàn lâm (dài hạn), chuyên môn cao, đòi hỏi thực tế, thực hành-thực tập, trao đổi thông tin trực tiếp,…

Ít, phải tập trung về cơ sở đào tạo để học tập

Đào tạo từ xa tương tác có giảng viên thông qua truyền hình hội nghị Vệ tinh/ISDN/IP

Trung bình. Các nội dung, chủ đề mang tính phổ cập, giới thiệu, không đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, ít thực hành thực tập,… như ở đào tạo không tương tác nhưng đòi hỏi tính chuyên môn cao hơn, cần có sự trao đổi, giải đáp, hướng dẫn của đội ngũ giảng viên và các nhà quản lý.

Nhiều (tới vài trăm học viên/khoá học), học tập trung tại điểm xa cơ sở đào tạo

Đào tạo từ xa không tương tác bằng E-learning.

Trung bình và thấp. Các nội dung, chủ đề mang tính phổ cập, giới thiệu, không đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, ít thực hành thực tập,… Các nội dung đào tạo phù hợp tốt với khả năng, tự học- tự nghiên cứu thông qua các phương tiện điện tử.

Nhiều (tới hàng ngàn học viên), học ở mọi lúc, mọi nơi.

 

1.5 Sự ra đời của các đặc tả trong e-Learning.

   Trong giai đoạn đầu phát triển của e-Learning đã có sự chia rẽ trong cộng đồng phát triển giữa hai nhóm : nhóm giữa các nhà khoa học ứng dụng(kĩ sư) và nhóm các nhà nghiên cứu học thuật. Nhóm thứ nhất, các nhà khoa học ứng dụng, tập trung các công cụ e-Learning có giao diện dễ dùng, không đòi hỏi nhiều kiến thức chuyên sâu cũng tạo ra được các nội dung học tập. Chi phí phát triển đã giảm nhiều và hiệu quả tăng, thiết lập nên một nền công nghiệp dịch vụ và sản phẩm khá vững chắc trong lĩnh vực e-Learning .   Nhóm này tiếp tục phát triển các công cụ để xây dựng các phương pháp giảng dạy phức tạp thông qua các mẫu(templates) có trước. Với sự bổ sung thêm các tính năng multimedia và các quyết định trợ giúp thông minh vào, các công cụ đã thật sự nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập. Tuy nhiên, các nội dung học tập tạo ra có tính khả chuyển không cao. Tức là, nội dung tạo ra bởi công cụ nào đó, chỉ dùng được trong ngữ cảnh riêng của công cụ đó. Nội dung đó đem sang hệ thống đào tạo phát triển bởi một nhóm khác thì sẽ không hoạt động được.

    Nhóm thứ hai, các nhà nghiên cứu học thuật, tập trung nghiên cứu các mô hình giảng dạy thông minh. Khái niệm về nội dung giảng dạy và thiết kế khác một cách cơ bản so với nhóm thứ nhất. Họ mong muốn đưa ra các nội dung giảng dạy, cách trình bày phù hợp với yêu cầu của từng cá nhân sử dụng các mô hình phức tạp về học viên, các kĩ thuật giảng dạy khác nhau. Các cách tiếp cận như vậy có xu hướng tách việc trình bày, hiển thị, các điều khiển logic ra khỏi nội dung giảng dạy và cho phép tập hợp các đối tượng học tập khác nhau để đáp ứng các mục tiêu cụ thể. Ta nhận thấy đã có những khái niệm đầu tiên về tính sử dụng lại của nội dung học tập.

 Tiếp theo đó là sự ra đời của World Wide Web (WWW) đã hàn gắn mối chia rẽ trong cộng đồng e-Learning .Như đã biết ,WWW cung cấp một cơ sở hạ tầng chung được xây dựng trên các chuẩn phổ dụng giúp cho mọi người có khả năng truy cập bất cứ nơi đâu và bất cứ khi nào tới thông tin và tri thức toàn cầu.Nhưng một điều dễ nhận thấy là WWW không tương thích với các thiết kế hệ thống tạo nội dung của nhóm thứ nhất .Nội dung web không phụ thuộc vào nền,được lưu trữ bởi một server ở xa,trong khi đó đa số nội dung của nhóm thứ nhất lại được lưu trữ và chạy cục bộ sử dụng môi trường thực thi khác nhau.Sau đó nhóm thứ nhất đã nhận thấy các hạn chế của mình và nhanh chóng thích ứng với môi trường web.

   Các nội dung trước đây chủ yếu phân phối qua đĩa CD, bây giờ chuyển sang phân phối trên mạng. Tuy nhiên, ở giai đoạn ban đầu, các nội dung dựa trên Web vẫn dựa trên môi trường phát triển và ngữ cảnh riêng. Muốn xem được nội dung người dùng phải download plug-in chuyên dụng đưa vào trình duyệt.

   Thế hệ hệ thống soạn bài giảng thứ hai bắt đầu triển khai ý tưởng tách nội dung ra khỏi việc điều khiển về mặt logic trình bày và hiển thị nội dung khi mà các hệ thống quản trị đào tạo mạnh ra đời. Lần đầu tiên đa số các nhà phát triển công cụ thuộc nhóm thứ nhất đã có cùng quan điểm với nhóm thứ hai. Các đối tượng học tập có thể chia sẻ, sử dụng lại được và các chiến lược học tập thích ứng (tức là nội dung học tập thích ứng với trình độ và khả năng của từng đối tượng) đã trở thành nền tảng chung cho cả hai nhóm.

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Dịch vụ viết luận văn và được gắn thẻ , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s