Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài hạn tại SGD NHNo & PTNT Việt Nam


                                                                                     LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài.

        Nước ta là một quốc gia giầu tài nguyên thiên nhiên, lao động dồi dào nhưng nền kinh tế còn chưa phát triển, nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ trọng lớn, công nghiệp còn kém phát triển so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Do đó, không có khả năng khai thác được hết những tiềm năng sẵn có của mình. Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế, Đất nước ta đã thu được những kết quả bước đầu rất khả quan, tạo được niềm tin trong nhân dân cũng như các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra mục tiêu đến năm 2010: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá Đất nước, tập trung xây dựng và phát triển có chọn lọc một số ngành công nghiệp nặng quan trọng, có tính mũi nhọn, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp, hoà nhập vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới để phát triển toàn diện”.

        Cùng với sự chuyển dịch đó, ngành Ngân hàng trong những năm gần đây đã liên tục đổi mới về cơ cấu, hoạt động, khai thác nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển. Ngành Ngân hàng đã hiểu rõ một điều là nền kinh tế muốn phát triển được, muốn thực hiện được công nghiệp hoá – hiện đại hoá Đất nước thì phải cung cấp vốn cho các thành phần, các tổ chức kinh tế, đặc biệt là nguồn vốn trung – dài hạn. Với nguồn vốn trung – dài hạn được cung ứng hợp lý sẽ tạo điều kiện xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật, đặt nền móng cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.

        Việc đổi mới và phát triển các hoạt động của Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt được thì Ngân hàng còn có những hạn chế: nợ quá hạn, nợ khê đọng khó đòi…là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả kinh doanh của NHTM. Hiệu quả kinh doanh của NHTM tập trung chủ yếu là hiệu quả của hoạt động tín dụng. Do vậy, vấn đề mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng, đặc biệt là tín dụng trung – dài hạn có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại, tăng trưởng và phát triển của NHTM nói riêng và của nền kinh tế nói chung.

       Qua thời gian thực tập tại SGD NHNo & PTNT Việt Nam, từ việc nắm bắt tình hình thực tế của nền kinh tế và tình hình hoạt động của SGD NHNo & PTNT Việt Nam, em đã chọn đề tài nghiên cứu: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài hạn tại SGD NHNo & PTNT Việt Nam“, với mong muốn góp phần vào sự đổi mới hoạt động kinh doanh của SGD NHNo & PTNT Việt Nam. Nội dung đề tài là một vấn đề rộng và phức tạp vì vậy bài khoá luận sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết. Em rất mong nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô, của ban lãnh đạo SGD NHNo & PTNT Việt Nam và các bạn sinh viên để bài viết được hoàn thiện và có tính thực tiễn hơn.

2. Mục đích nghiên cứu.

      Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng của NHTM trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt quan tâm đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài hạn. Xem xét thực trạng hoạt động tín dụng trung – dài hạn của SGD NHNo & PTNT Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài hạn của SGD NHNo & PTNT Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

– Nghiên cứu cơ sở lý luận về tín dụng trung – dài hạn.

– Nghiên cứu thực trạng hoạt động tín dụng trung – dài hạn tại SGD NHNo & PTNT Việt Nam.

4. Phương pháp nghiên cứu.

       Luận văn sử dụng chủ yếu là phương pháp  duy vật biện chứng, bên cạnh đó còn kết hợp với phương pháp khác: phân tích diễn giải, tổng hợp, thống kê…

5. Kết cấu của luận văn.

       Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày thành ba chương:

Chương 1:  NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

 Chương 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI SGD NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI SGD NHNN&PTNT VN

CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. tín dụng trung, dài hạn của Ngân hàng Thương mại và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế_xã hội

1.1.1. Khái niệm về tín dụng trung, dài hạn của Ngân hàng Thương mại

Tín dụng trung, dài hạn (TDTDH) là: “hoạt động tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn trung, dài hạn nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống”. Tùy theo từng quốc gia, từng thời kỳ mà có những quy định cụ thể của hoạt động TDTDH. ở Việt Nam, về thời hạn cho vay được xác định phù hợp với thời gian thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất nguồn vốn cho vay của tổ chức tín dụng (TCTD). Hình thức tín dụng này có một số đặc trưng sau:

• Thời hạn đáo hạn trên 1 năm. Thời hạn cho vay trung hạn: từ 12 đến 60 tháng. Thời hạn cho vay dài hạn: từ 60 tháng trở lên nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm đối với các dự án phục vụ đời sống.

• Khoản tín dụng này được trả dần bằng những khoản trả vay theo thời gian (có thể theo quý, nửa năm hoặc thanh toán hàng năm) trong kỳ hạn của khoản vay.

• Chúng thường được đảm bảo bằng tài sản lưu động đem ra thế chấp hoặc có văn tự cầm cố tài sản cố định.

Mục đích của hoạt động TDTDH là để đầu tư dự án, xây dựng mới, mua sắm tài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới cải tiến thiết bị công nghệ, ứng dụng khoa học kỹ thuật nhằm mục tiêu lợi nhuận phù hợp với chính sách phát triển kinh tế xã hội và pháp luật quy định.

1.1.2. Các hình thức tín dụng trung, dài hạn

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các hình thức TDTDH ngày càng phong phú và hấp dẫn. Có thể nêu ra đây một số hình thức TDTDH:

• Cho vay theo dự án đầu tư: Đây là hình thức TDTDH chủ yếu của các NHTM Việt Nam hiện nay. Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất dựa trên cơ sở căn cứ khoa học và thực tiễn về việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng, cải tạo đổi mới kỹ thuật và công nghệ những đối tượng là tài sản cố định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định. Dựa vào lĩnh vực tài trợ mà người ta chia hai hình thức phổ biến:

Hình thức TDTDH nhằm cải tạo, khôi phục, mở rộng, thay thế tài sản cố định.

Hình thức TDTDH nhằm đầu tư cho các dự án xây dựng mới, đổi mới kỹ thuật, ứng dụng khoa học và công nghệ để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.

• Cho thuê tài chính: Đây là hoạt động TDTDH trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là TCTD với khách hàng thuê. Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê lại tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng. Hoạt động này đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế nói chung và các bên liên quan nói riêng.

• Cho vay hợp vốn: là hình thức cho vay trong đó có từ hai TCTD trở lên tham gia vào một dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh của một khách hàng vay vốn. Nhìn chung các hình thức tín dụng đều có thể thực hiện hợp vốn. Song do đặc thù của hình thức tài trợ này, ở Việt Nam tách ra thành một loại cho vay.

• Cho vay tiêu dùng: là hình thức tín dụng nhằm giúp người tiêu dùng có nguồn tài chính để trang trải nhu cầu về nhà ở, đồ dùng gia đình và phương tiện đi lại…

1.1.3. Vai trò của tín dụng trung, dài hạn đối với phát triển kinh tế – xã hội

1.1.3.1. Vai trò của tín dụng trung, dài hạn đối với nền kinh tế

Ở tất cả các quốc gia, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho đầu tư xây dựng các công trình sản xuất kinh doanh mới, hiện đại hóa công nghệ sản xuất, mở rộng các ngành sản xuất vật chất đều rất lớn. Nhu cầu này được thỏa mãn một phần bằng nguồn ngân sách Nhà nước, vay nước ngoài, một phần huy động dân cư nhưng phần lớn vẫn bằng TDTDH của NHTM.

• TDTDH giúp tăng tích lũy vốn để mở rộng sản xuất cho nền kinh tế.

• TDTDH tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật

• TDTDH thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

• TDTDH thúc đẩy mở rộng kim ngạch xuất nhập khẩu.

• TDTDH tạo thị trường sử dụng vốn ngắn hạn.

• TDTDH tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.

• TDTDH tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại.

Như vậy, đầu tư cho vay trung, dài hạn (TDH) trực tiếp hay gián tiếp đều góp phần phát triển khoa học công nghệ, ổn định lạm phát, nâng cao đời sống của dân cư, phát triển lực lượng lao động, đẩy mạnh tăng trưởng ổn định. Chính vì vậy, nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng là việc vô cùng cấp bách đối với sự phát triển kinh tế cả ở hiện tại và tương lai.

1.1.3.2. Vai trò của tín dụng trung, dài hạn đối với khách hàng

Kinh doanh trong nền kinh tế thị trường có nghĩa là doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh khốc liệt, muốn tồn tại và phát triển thì phải thắng trong cạnh tranh. Để có thể giành được thắng lợi trong cạnh tranh, doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp với tiềm lực của doanh nghiệp, đồng thời thực hiện tốt chiến lược kinh doanh đó. Về dài hạn, các doanh nghiệp luôn chú trọng đến việc mở rộng sản xuất, xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc, đổi mới công nghệ để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và giảm chi phí đến mức tối thiểu. Để đáp ứng những nhu cầu trên doanh nghiệp cần một lượng vốn không nhỏ. Doanh nghiệp có thể huy động vốn dưới nhiều hình thức: tích lũy trong quá trình sản xuất kinh doanh, phát hành cổ phiếu, trái phiếu hoặc vay Ngân hàng. Tuy nhiên, với những doanh nghiệp vừa và nhỏ, khả năng tự tích lũy là không đáng kể, phát hành cổ phiếu, trái phiếu liên quan đến sự phân chia quyền lực kiểm soát công ty… Đối với doanh nghiệp, việc vay vốn TDH nhiều khi mang lại thuận lợi hơn so với huy động vốn trên thị trường chứng khoán. TDTDH tránh được các chi phí phát hành, lệ phí bảo hiểm, lệ phí đăng ký chứng khoán. Về mặt kỳ hạn, doanh nghiệp có thể vay vốn Ngân hàng theo kỳ hạn phù hợp với yêu cầu kinh doanh, đồng thời họ có thể điều chỉnh kỳ hạn nợ, có thể trả sớm hơn khi doanh nghiệp không cần sử dụng vốn đó nữa. Việc trả nợ TDH cũng được xây dựng theo sự phân chia hợp lý và ổn định, do đó doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm các nguồn trả nợ một cách dễ dàng hơn. TDTDH còn giúp doanh nghiệp trong việc chớp cơ hội kinh doanh. Khi có cơ hội, doanh nghiệp có thể nhanh chóng vay vốn Ngân hàng để mở rộng sản xuất, gia tăng sản lượng để chiếm lĩnh thị trường. TDTDH ngày càng được các doanh nghiệp ưa thích vì nó phù hợp với thực tế của các công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) và các doanh nghiệp nhỏ. Còn đối với dân cư thì TDTDH chủ yếu là đáp ứng nhu cầu về tiêu dùng (về nhà ở, đồ dùng gia đình, phương tiện đi lại…) khi mà họ không có đủ khả năng tài chính để có thể thỏa mãn ngay nhu cầu này.

Bên cạnh những thuận lợi mà TDTDH đem lại thì mức lãi suất của nó vẫn là chi phí khá cao đối với doanh nghiệp. Nó buộc các doanh nghiệp phải chú trọng đến hiệu quả đầu tư, doanh thu không chỉ đủ để trả lãi và vốn cho Ngân hàng mà phải đem lợi tức cho chính mình. Do vậy, lãi suất TDTDH của Ngân hàng là đòn bẩy thúc đẩy doanh nghiệp khai thác triệt để hiệu quả của đồng vốn, kinh doanh có lãi và thắng lợi trong cạnh tranh.

1.1.3.3. Vai trò của tín dụng trung, dài hạn đối với Ngân hàng Thương mại

Ngân hàng là tổ chức kinh doanh tiền tệ, nhận tiền gửi và huy động các nguồn tài chính nhằm mục đích kinh doanh có lời. An toàn trong lợi nhuận luôn là mục tiêu tìm kiếm của Ngân hàng. Những khoản TDTDH có quy mô lớn, lãi suất cao, thời hạn dài đã mang lại lợi nhuận chủ yếu cho Ngân hàng. Đồng thời mở rộng quy mô TDTDH cả về số lượng và chất lượng còn nâng cao được khả năng cạnh tranh của Ngân hàng. Khi Ngân hàng cho khách hàng vay chính là đang tạo ra và duy trì khách hàng cho mình trong tương lai, tạo điều kiện để Ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động cho mình và ngày càng khẳng định vai trò, vị thế của mình trong nền kinh tế. Khi Ngân hàng không đa dạng hóa hoạt động cho vay, đa dạng hóa khách hàng, thời hạn vay thì Ngân hàng sẽ không thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt của các Ngân hàng khác.

Mặt khác TDTDH còn là cách thức khả thi để giải quyết nguồn vốn huy động còn dư thừa tại mỗi Ngân hàng, là cách Ngân hàng gọi vốn từ nền kinh tế đáp ứng nhu cầu cho các doanh nghiệp. Vì vậy mở rộng TDTDH sẽ giúp Ngân hàng giải được “bài toán” khó về huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả, thu được lợi nhuận, qua đó phát triển hoạt động Ngân hàng, tăng khả năng cạnh tranh với các Ngân hàng khác.

1.2. Chất lượng tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng Thương mại

1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng Thương mại

TDTDH là một phần của tín dụng vì vậy nói đến chất lượng tín dụng cũng chính là nói đến chất lượng TDTDH. Đối với các NHTM, cái được biểu hiện ra bên ngoài vừa cụ thể, vừa trừu tượng của hoạt động tín dụng chính là chất lượng tín dụng. Chỉ khi chất lượng tín dụng tốt thì Ngân hàng mới có nhiều khách hàng, uy tín Ngân hàng được nâng cao tạo điều kiện thúc đẩy cho Ngân hàng phát triển. Chất lượng tín dụng được hiểu là: “sự đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu hợp lý của khách hàng, tạo ra độ an toàn và lợi nhuận cho ngân hàng đồng thời góp phần vào quá trình phát triển của nền kinh tế”.

Qua khái niệm này chúng ta thấy: NHTM, khách hàng, nền kinh tế là ba nhân tố được tính đến khi xem xét chất lượng tín dụng.

Thứ nhất: Chất lượng tín dụng xét từ giác độ NHTM

Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng, thực lực theo hướng tích cực của bản thân Ngân hàng và phải đảm bảo được sự cạnh tranh trên thị trường, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.

Thứ hai: Chất lượng tín dụng xét từ giác độ khách hàng

Thông qua quan hệ lâu dài với khách hàng, sự am hiểu khách hàng sẽ tăng lên làm cho Ngân hàng hiểu rõ nhu cầu tín dụng của khách hàng, đảm bảo thỏa mãn nhu cầu hợp lý về vốn cho họ.

Thứ ba: Chất lượng tín dụng xét từ giác độ nền kinh tế

Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động, tăng thêm sản phẩm cho xã hội, góp phần tăng trưởng kinh tế và khai thác khả năng tiềm ẩn trong nền kinh tế, thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nước, tranh thủ vay vốn nước ngoài có lợi cho sự phát triển kinh tế.

Từ những điều trên có thể rút ra một số đặc trưng của chất lượng tín dụng:

• Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh mức độ thích nghi của NHTM và sự thay đổi của môi trường bên ngoài.

• Chất lượng tín dụng được xác định qua nhiều yếu tố: Thu hút được khách hàng tốt, thủ tục đơn giản, thuận tiện, mức độ an toàn của vốn tín dụng, chi phí tổng thể về lãi suất, chi phí nghiệp vụ…

• Chất lượng tín dụng không tự nhiên mà có. Nó là kết quả của một quy trình kết hợp giữa hoạt động con người trong một tổ chức, giữa các tổ chức với nhau vì một mục đích chung. Do đó để đạt được chất lượng cần phải có sự quản lý.

Hiểu đúng bản chất về chất lượng tín dụng, phân tích đánh giá được chất lượng tín dụng hiện tại cũng như xác định chính xác các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng sẽ giúp Ngân hàng tìm được biện pháp thích hợp để có thể đứng vững trong nền kinh tế hoạt động sôi động và có sự cạnh tranh gay gắt.

1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung, dài hạn

Nền kinh tế thị trường đang đặt ra vấn đề cho các nhà sản xuất, kinh doanh là phải đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm, có như vậy mới tồn tại và phát triển được. Vì vậy đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm là một yêu cầu khách quan, là điều kiện cần thiết cho các doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh tiền tệ cũng như mọi hoạt động khác trong xã hội cũng có những sản phẩm riêng của mình, đó là dịch vụ Ngân hàng. Để đánh giá được chất lượng TDTDH người ta sử dụng một số chỉ tiêu sau:

• Doanh số cho vay trung, dài hạn

Nó phản ánh lượng vốn mà Ngân hàng đã giúp doanh nghiệp trong việc đầu tư cải tiến, xây dựng công nghệ mới, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Nếu doanh số cho vay lớn thì chứng tỏ rằng hoạt động TDTDH của Ngân hàng phát triển và ngược lại bởi con số và tốc độ doanh số cho vay qua các năm phản ánh quy mô và xu hướng của việc đầu tư TDH là mở rộng hay thu hẹp. Tuy nhiên, không phải bất cứ thời điểm nào việc tăng doanh số cho vay cũng là tốt vì trong mỗi thời kỳ khác nhau, với tốc độ phát triển kinh tế, định hướng phát triển các ngành nghề khác nhau do đó Ngân hàng cần phải nhạy bén để thay đổi hướng đầu tư cho phù hợp và hiệu quả.

• Doanh số thu nợ trung, dài hạn

Nó phản ánh lượng vốn đã được hoàn trả Ngân hàng trong một thời kỳ. Doanh số thu nợ có thể phản ánh hai tình trạng trái ngược nhau: khách hàng hoàn trả đúng hạn, tự nguyện do việc đầu tư có hiệu quả hoặc có thể Ngân hàng nhận thấy những dấu hiệu không lành mạnh có nguy cơ mất vốn nên đẩy mạnh các biện pháp thu hồi vốn. Trong cả hai trường hợp doanh số thu nợ tăng lên đều tốt cho Ngân hàng.

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Dịch vụ viết luận văn và được gắn thẻ , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s