Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho Giáo dục – đào tạo tại tỉnh Sơn La


LỜI MỞ ĐẦU

Đất nước ta đang đứng trước thời cơ mới, với nhiều điều kiện phát triển rất thuận lợi, nhưng đồng thời cũng có những khó khăn và thách thức không nhỏ. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, thế hệ trẻ Việt Nam đã và đang từng bước thể hiện vai trò của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh chung ấy ngành giáo dục có vai trò hết sức quan trọng. Phát triển giáo dục – đào tạo được coi là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Vì vậy cùng với khoa học & công nghệ, giáo dục – đào tạo đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là “Quốc sách hàng đầu”.

Nhận thức được tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục – đào tạo, quán triệt đường lối của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua tỉnh Sơn La đã không ngừng tăng cường chi ngân sách đầu tư cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo. Nhờ có sự quan tâm đó mà sự nghiệp giáo dục của tỉnh đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Tuy vậy, ngân sách của tỉnh đang gặp nhiều khó khăn trong việc giải quyết mối quan hệ giữa khả năng hạn hẹp của ngân sách và nhu cầu phát triển ngày càng tăng của hệ thống giáo dục – đào tạo của tỉnh.

Xuất phát từ thực tế đó, trong thời gian thực tập tại Sở Tài chính Sơn La, em đã quyết định đi sâu nghiên cứu đến công tác chi thường xuyên và quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho giáo dục – đào tạo thông qua đề tài: “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho Giáo dục – đào tạo tại tỉnh Sơn La” để làm chuyên đề tốt nghiệp.

Nội dung chính của Chuyên đề gồm 3 chương:

–         Chương 1: Tổng quan về quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục – đào tạo

–         Chương 2: Thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục – đào tạo tại tỉnh Sơn La

–         Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục – đào tạo tại tỉnh Sơn La.

Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Thị Bất, cùng các cô, chú, anh, chị ở Sở Tài chính và Sở giáo dục – đào tạo Sơn La đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành bài viết này.

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO

1.1 Chi thường xuyên NSNN

1.1.1 NSNN

1.1.1.1 Khái niệm, bản chất, vai trò NSNN

a) Khái niệm

Ngân sách Nhà nước là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử. Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hoá tiền tệ trong các phương thức sản xuất của các cộng đồng. Nói cách khác sự ra đời của Nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hoá – tiền tệ là những tiền đề cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước.

Cho đến nay, thuật ngữ  “Ngân sách Nhà nước” được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Thế nhưng, người ta vẫn chưa có sự nhất trí về khái niệm thế nào là Ngân sách Nhà nước? Có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm Ngân sách Nhà nước mà phổ biến là:

Thứ nhất: NSNN là bản dự toán thu – chi tài chính của Nhà nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm) được Quốc hội thông qua để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.

Thứ hai: NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước.

Thứ ba: NSNN là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính  khác nhau.

Theo Luật Ngân sách Nhà nước của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi năm 2002, có hiệu lực từ năm 2004 thì “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”

b) Bản chất của NSNN

  Ngân sách nhà nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ liên quan đến sự tồn tại và phát triển của nhà nước mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Ngân sách nhà nước không chỉ đơn thuần tập hợp các khoản thu và các khoản chi mà còn ẩn chứa những mối quan hệ bên trong. Khi xét đến bản chất của Ngân sách nhà nước người ta thường nói đến bản chất kinh tế của Ngân sách nhà nước và xét trên phương diện pháp lý của Ngân sách nhà nước.

+ Về bản chất kinh tế của Ngân sách nhà nước: Ngân sách nhà nước không chỉ đơn thuần bề ngoài là các khoản thu và các khoản chi mà bên trong nó ẩn chứa một mối quan hệ phức tạp. Để hình thành nên Ngân sách nhà nước nguồn thu chủ yếu là thu của các đối tượng và nhà nước chi tiêu ngân sách để thực hiện chức năng của mình. Khi nhà nước thu của đối tượng này sẽ làm cho thu nhập của đối tượng này giảm xuống, đồng thời khi nhà nước chi Ngân sách nhà nước thì thu nhập của đối tượng khác được tăng lên. Như vậy, quá trình này thể hiện rõ mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể tham gia vào quá trình phân phối thu nhập hay phân phối sản phẩm xã hội. Do đó, thực chất hay bản chất kinh tế của Ngân sách nhà nước là mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể tham gia vào quá trình phân phối sản phẩm xã hội, trong đó phải có sự có mặt của Nhà nước trong mối quan hệ này.

+ Xét trên phương diện pháp lý: Ngân sách nhà nước  là một đạo luật cơ bản và hết sức đặc biệt. Bởi vì tất cả các quá trình điều hành Ngân sách nhà nước đều thể hiện tính pháp lý rất cao, từ việc xây dựng dự toán cho đến việc thực hiện dự toán, được quy định rất chặt chẽ. Việc thực hiện xây dựng dự toán được tiến hành từ các đơn vị rất nhỏ, đơn vị cơ sở. Từ đó tổng hợp lại theo từng cấp từ thấp đến cao, hình thành nên ngân sách địa phương và ngân sách Trung ương, rồi từ đó tổng hợp thành Ngân sách nhà nước rồi trình Quốc hội. Tại Quốc hội, mọi người thảo luận, Quốc hội có quyền chất vấn các Bộ trưởng. Nếu Quốc hội thông qua thì mọi cá nhân tổ chức phải chấp hành, giống như trình tự ban hành một Bộ luật nào đó. Và nó là một đạo luật hết sức đặc biệt là ở chỗ: nó không có các điều luật cũng như các quy phạm điều khoản mà chỉ bao gồm các khoản thu, chi trong một năm, trên cơ sở đó phân phối hạn mức kinh phí.

c) Vai trò của NSNN

Ngân sách nhà nước có vai trò hết sức to lớn, nó ảnh hưởng đến toàn bộ sự hoạt động của Nhà nước cũng như ảnh hưởng đến các vấn đề chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh – quốc phòng cũng như đến sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Vì vậy, vai trò của Ngân sách nhà nước là vô cùng quan trọng và nó được phân chia thành các vai trò cụ thể sau:

Thứ nhất: Đảm bảo cung cấp nguồn kinh phí để duy trì sự hoạt động của hệ thống bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước và các hệ thống tổ chức đoàn thể, xã hội. Bất cứ một tổ chức nào muốn tồn tại và phát triển đều cần đến sự quản lý và để duy trì sự quản lý này thì phải có nguồn kinh phí duy trì sự hoạt động của tổ chức đó. Để duy trì hoạt động của doanh nghiệp thì phải có nguồn vốn của doanh nghiệp, còn đối với cơ quan Nhà nước để duy trì hoạt động của nó thì nguồn kinh phí do Ngân sách nhà nước cấp. Nguồn kinh phí này dùng để chi trả lương cũng như các chức năng nhiệm vụ mà các cơ quan nhà nước này được giao.

Thứ hai: Ngân sách nhà nước được sử dụng như một công cụ để tác động vào cơ cấu kinh tế, nhằm duy trì một cơ cấu kinh tế cân đối hợp lý. Trong xã hội nền kinh tế thị trường ngày càng có xu hướng mất ổn định, do nhiều nguyên nhân liên quan đến kinh tế, chính trị và xã hội. Chính vì vậy, việc duy trì một cơ cấu kinh tế ổn định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Chính phủ. Để đảm bảo được điều này, Chính phủ có thể sử dụng Ngân sách nhà nước để chi tiêu, đặc biệt là chi cho đầu tư phát triển các ngành nghề khác nhau, đầu tư xây dựng cơ bản, kết cấu hạ tầng, để từ đó phát triển những ngành nghề kém phát triển hoặc đang trên đà suy thoái, từ đó làm cân đối cơ cấu kinh tế. Ngoài ra, để khuyến khích hay hạn chế một ngành nghề nào đó Chính phủ có thể sử dụng các biện pháp nhằm tăng thu hoặc giảm thuế,  như vậy có thể khuyến khích hoặc kìm hãm sự phát triển của ngành đó, từ đó cơ cấu kinh tế sẽ được cân đối ổn định.

Thứ ba: Ngân sách nhà nước được sử dụng như một công cụ để duy trì sự ổn định của giá cả thị trường. Để duy trì sự ổn định của giá cả thị trường, chính phủ lập nên quỹ dự trữ. Quỹ dự trữ này có thể bao gồm hiện vật hoặc tiền và nguồn kinh phí để lập và duy trì quỹ được lấy từ Ngân sách nhà nước. Khi thị trường có biến động, giá cả các sản phẩm tăng lên ảnh hưởng đến lạm phát, gây khó khăn cho đời sống nhân dân, Chính phủ có thể bình ổn giá cả bằng cách tăng cung hàng hóa lấy từ dự trữ. Ngược lại, khi giá cả hàng hóa xuống thấp, người sản xuất không có lãi, có nguy cơ thu hẹp sản xuất, Chính phủ có thể tăng dự trữ để đẩy giá lên hoặc trợ giá cho người sản xuất, từ đó giá cả thị trường được ổn định.

              Thứ tư: Ngân sách nhà nước còn được sử dụng như một công cụ để giải quyết các vấn đề xã hội. Để giảm bớt chênh lệch giàu nghèo Chính phủ áp thuế dành cho những người có thu nhập cao, đồng thời trợ cấp cho những người có thu nhập thấp. Để đảm bảo trật tự an toàn xã hội Chính phủ sử dụng Ngân sách của mình chi cho bộ máy an ninh – quốc phòng; tuyên truyền giáo dục người dân có ý thức chấp hành pháp luật; đào tạo nghề nghiệp cho cộng đồng nhằm giảm tỷ lệ thất nghiệp. Đồng thời khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường và tệ nạn xã hội.

1.1.1.2 Nội dung chi NSNN

Chi NSNN là quá trình sử dụng quỹ NSNN theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp nhằm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội của Nhà nước.

Chi NSNN phản ảnh mục tiêu hoạt động của ngân sách, đó là đảm bảo về mặt vật chất (tài chính) cho hoạt động của Nhà nước, với tư cách là chủ thể của NSNN trên hai phương diện: (1) Duy trì sự tồn tại và hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước; (2) Thực hiện các chức năng nhiệm vụ mà Nhà nước phải gánh vác.

Chi NSNN bao gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau. Giai đoạn thứ nhất là phân phối (phân bổ) quỹ NSNN cho các đối tượng, mục tiêu khác nhau. Quá trình phân phối được thực hiện trên dự toán và trên thực tế (chấp hành Ngân sách Nhà nước), dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau như chức năng, nhiệm vụ, quy mô hoạt động, đặc điểm tự nhiên, xã hội… thể hiện cụ thể dưới dạng định mức, tiêu chuẩn, chế độ chi ngân sách. Giai đoạn tiếp theo là việc sử dụng phần quỹ ngân sách đã được phân phối của các đối tượng thụ hưởng (quá trình thực hiện chi tiêu trực tiếp các khoản tiền của NSNN). NSNN được sử dụng ở các khâu tài chính Nhà nước trực tiếp, gián tiếp và các khâu tài chính khác phi Nhà nước. Chi ngân sách kết thúc khi tiền đã thực sự được sử dụng cho các mục tiêu đã định.

Các khoản chi ngân sách nhà nước rất đa dạng và phong phú nên có nhiều cách phân loại chi NSNN khác nhau:

– Theo đối tượng trực tiếp sử dụng, chi NSNN bao gồm:

+ Chi cho nhân viên.

+ Các khoản chi về vật liệu và dịch vụ cho các cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan An ninh – Quốc phòng.

+ Các khoản chi cho công tác xây dựng (đường xá, phúc lợi, công cộng ..)

+ Chi các khoản trợ  cấp, các khoản trả lãi tiền vay.

+ Chi các khoản khác.

– Theo tính chất phát sinh các khoản chi, chi NSNN bao gồm chi thường xuyên và chi không thường xuyên.

+ Chi thường xuyên: là những khoản chi phát sinh tương đối đều đặn cả về mặt thời gian và quy mô các khoản chi. Nói cách khác là những khoản chi được lặp đi lặp lại tương đối ổn định theo những chu kỳ thời gian cho những đối tượng nhất định.

+ Chi không thường xuyên: là những khoản chi Ngân sách phát sinh không đều đặn, bất thường như chi đầu tư phát triển, viện trợ, trợ cấp thiên tai,… Trong đó, chi đầu tư phát triển được coi là phần chủ yếu của chi không thường xuyên.

– Theo mục đích sử dụng cuối cùng, chi NSNN được chia thành chi tích luỹ và chi tiêu dùng.

+ Chi tích luỹ: là các khoản chi mà hiệu quả của nó có tác dụng lâu dài. Các khoản chi này chủ yếu được sử dụng trong tương lai như: Chi đầu tư hạ tầng kinh tế – kỹ thuật, chi nghiên cứu khoa học công nghệ, công trình công cộng, bảo vệ môi trường…

+ Chi tiêu dùng: là những khoản chi nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu trước mắt và hầu như được sử dụng hết sau khi đã chi như: chi cho bộ máy Nhà nước, an ninh, quốc phòng, văn hoá, xã hội… Cụ thể, đó là các khoản chi lương, các khoản có tính chất lương và chi hoạt động. Nhìn chung, chi tiêu dùng là những khoản chi có tính chất thường xuyên.

– Theo mục tiêu, chi NSNN được phân loại thành chi cho bộ máy Nhà nước và chi thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.

+ Chi cho bộ máy Nhà nước: bao gồm chi đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm các trang thiết bị cần thiết, chi trực tiếp cho đội ngũ cán bộ, công chức, chi phí thường xuyên để duy trì hoạt động của các cơ quan Nhà nước (văn phòng phí, hội nghị, công tác phí…).

+ Chi thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước: bao gồm chi cho an ninh – quốc phòng (những khoản chi duy trì hoạt động bình thường của các lực lượng an ninh – quốc phòng như chi đầu tư, chi mua sắm, chi hoạt động), chi phát triển văn hoá, y tế, giáo dục, đảm bảo xã hội. Chi phát triển kinh tế là những khoản đầu tư cơ sở hạ tầng quan trọng cho nền kinh tế như Giao thông, điện và chuyển tải điện, thông tin liên lạc, thuỷ lợi và cấp thoát nước, sự nghiệp nhà ở và một số nhiệm vụ khác như: Hỗ trợ các Đoàn thể chính trị – xã hội, đối ngoại…

– Với tư cách là quỹ tiền tệ để thanh toán cho các nhu cầu của Nhà nước và tài trợ cho các đối tượng khác nhau trong xã hội (Nhà nước với tư cách là người mua của thị trường), chi NSNN bao gồm:

+ Chi thanh toán: là chi trả cho việc Nhà nước được hưởng những hàng hoá, dịch vụ mà xã hội cung cấp cho Nhà nước. Chi thanh toán gắn với hai luồng đi lại: tiền và hàng hoá, dịch vụ.

+ Chi chuyển giao: là những khoản chi mang tích chất một chiều từ phía nhà nước như tài trợ, trợ cấp, cứu trợ…

1.1.2 Chi thường xuyên NSNN

1.1.2.1 Khái niệm

Chi thường xuyên: là những khoản chi phát sinh tương đối đều đặn cả về mặt thời gian và quy mô các khoản chi. Nói cách khác là những khoản chi được lặp đi lặp lại tương đối ổn định theo những chu kỳ thời gian cho những đối tượng nhất định.

Chi thường xuyên NSNN là các khoản chi gắn liền với việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế – xã hội của Nhà nước, phần lớn nhằm mục đích tiêu dùng.

Về mặt bản chất, chi thường xuyên NSNN là hệ thống những quan hệ phân phối lại các khoản thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng có kế hoạch quỹ NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý kinh tế – xã hội.

1.1.2.2 Nội dung

Nội dung của chi thường xuyên rất đa dạng và phức tạp, sự phân loại ở các nước không giống nhau. Có nhiều cách phân loại chi thường xuyên.

– Xét theo từng lĩnh vực chi, chi thường xuyên được chia thành:

+ Chi cho các hoạt động sự nghiệp thuộc lĩnh vực văn xã:

Các loại hình đơn vị tham gia vào lĩnh vực này như: Giáo dục – đào tạo, y tế, văn hoá – nghệ thuật, thể dục – thể thao, thông tấn, báo chí, phát thanh – truyền hình,… một khi các đơn vị đó do Nhà nước thành lập và giao nhiệm vụ cho nó hoạt động.

+ Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của Nhà nước:

Các đơn vị thuộc loại này có kết quả hoạt động không phục vụ riêng cho một ngành nào mà phục vụ cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân như: sự nghiệp giao thông, nông nghiệp, thuỷ lợi, ngư nghiệp, lâm nghiệp, khí tượng – thuỷ văn …

+ Chi cho các hoạt động quản lý nhà nước:

Khoản chi này phát sinh ở hầu hết các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Bởi với chức năng quản lý toàn diện mọi hoạt động kinh tế – xã hội nên bộ máy quản lý Nhà nước đã được thiết lập từ Trung ương đến địa phương và có ở mọi ngành kinh tế quốc dân.

+ Chi cho các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức khác được cấp kinh phí từ NSNN.

Được xếp vào các tổ chức này gồm có: Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức Chính trị – Đoàn thể – Xã hội như: Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Mặt trận Tổ quốc, Hội cựu chiến binh, hội nông dân, Hội liên hiệp phụ nữ.

+ Chi cho Quốc phòng – An ninh và trật tự, an toàn xã hội.

Chi này bao gồm: quân đội, công an, các đơn vị lực lượng vũ trang,…

+ Chi khác:

Ngoài các khoản chi lớn đã được sắp xếp vào 5 lĩnh vực trên, còn có một số các khoản chi khác cũng được xếp vào cơ cấu chi thường xuyên như: chi trợ giá theo chính sách Nhà nước, chi hỗ trợ quĩ Bảo hiểm Xã hội, phần chi thường xuyên thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án Nhà nước,…

– Theo nội dung kinh tế các khoản chi thường xuyên:

+ Các khoản chi cho con người thuộc khu vực hành chính – sự nghiệp.

Đây được coi là nội dung chi quan trọng đầu tiên có thể có được một trong ba yếu tố đầu vào của bất kỳ một cơ quan, tổ chức nào muốn tồn tại và hoạt động. Thuộc các khoản chi con người của khu vực hành chính – sự nghiệp, bao gồm: tiền lương, tiền công, phụ cấp, phúc lợi tập thể, tiền thưởng, các khoản đóng góp theo tiền lương và các khoản thanh toán khác cho cá nhân. Ngoài ra còn có thể có học bổng cho học sinh, sinh viên,…

+ Các khoản chi về sự nghiệp chuyên môn:

Được tính vào chi nghiệp vụ chuyên môn phải là những khoản chi mà xét về nội dung kinh tế của nó phải thực sự phục vụ cho hoạt động này như: các chi phí về nguyên vật liệu; chi phí về năng lượng, nhiên liệu; chi phí cho nghiên cứu, hội thảo khoa học…

+ Các khoản chi mua sắm, sửa chữa:

Trong quá trình hoạt động, các đơn vị hành chính – sự nghiệp còn được NSNN cấp kinh phí để mua sắm thêm các tài sản hay sửa chữa các tài sản đang trong quá trình sử dụng, nhằm phục vụ kịp thời cho nhu cầu hoạt động và nâng cao hiệu suất sử dụng của các tài sản đó.

Ở nước ta hiện nay, các khoản chi được tính vào mục này là: các khoản chi để mua sắm thêm tài sản được hạch toán theo các mục: 144, 145 của mục lục NSNN. Các khoản chi để thực hiện sửa chữa thường xuyên và sửa chữa lớn tài sản cố định được hạch toán theo các mục: 117, 118 của mục lục NSNN.

+ Các khoản chi khác:

Thuộc phạm vi các khoản chi khác nằm trong cơ cấu chi thường xuyên của NSNN là những khoản chi có thời hạn tác động ngắn nhưng chưa được đề cập tới 3 nhóm mục trên.

1.1.2.3 Đặc điểm

Chi thường xuyên có ba đặc điểm lớn phân biệt với các khoản chi khác là:

Thứ nhất, đại bộ phận các khoản chi thường xuyên mang tính ổn định khá rõ nét. Những chức năng vốn có của Nhà nước như: bạo lực, trấn áp và tổ chức quản lý các hoạt động kinh tế – xã hội đều đòi hỏi phải thực thi cho dù có sự thay đổi về thể chế chính trị. Đề đảm bảo cho Nhà nước có thể thực hiện được các chức năng đó, tất yếu phải cung cấp nguồn vốn từ NSNN cho nó. Mặt khác, tính ổn định của chi thường xuyên còn bắt nguồn từ tính ổn định trong từng hoạt động cụ thể mà mỗi bộ phận cụ thể thuộc guồng máy của Nhà nước phải thực hiện.

Thứ hai, xét theo cơ cấu chi NSNN ở từng niên độ và mục đích sử dụng cuối cùng của vốn cấp phát thì đại bộ phận các khoản chi thường xuyên của NSNN có hiệu lực trong khoảng thời gian ngắn và mang tính tiêu dùng xã hội. Nếu chi đầu tư phát triển nhằm tạo ra cơ sở vật chất – kỹ thuật cần thiết để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế trong tương lai thì chi thường xuyên lại chủ yếu đáp ứng nhu cầu chi để thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước về quản lý kinh tế, quản lý xã hội ngay trong năm ngân sách.

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Dịch vụ viết luận văn và được gắn thẻ , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s