Quản lý rủi ro các dự án đầu tư tại Ngân hàng Công thương Chi nhánh Thanh Xuân Hà Nội


LỜI MỞ ĐẦU

 

Trong bối cảnh Việt Nam đang thực sự hòa nhập vào nền kinh tế thế giới bằng việc trở thành thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO, vị thế của nước ta tiếp tục được khẳng định, nâng cao trên trường quốc tế. Điều này đem lại nhiều cơ hội thuận lợi cho nền kinh tế Việt Nam. Bên cạnh đó là những thách thức không nhỏ buộc chúng ta phải nỗ lực hết mình để có thể vượt qua những khó khăn trong bước đầu hội nhập. Chính trong thời điểm này, thời kỳ khủng hoảng trầm trọng của nền kinh tế toàn cầu nói chung và của nền kinh tế Việt Nam nói riêng đòi hỏi tất cả các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế đều phải có những kế hoạch, định hướng phát triển phù hợp với yêu cầu của thời đại mới. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động đầu tư đặc biệt được quan tâm.

Hiện nay, để phát triển các doanh nghiệp đã và đang tiến hành rất nhiều dự án đầu tư. Tuy nhiên, các dự án đầu tư thường đòi hỏi vốn lớn và thời gian thực hiện lâu dài nên hầu hết các doanh nghiệp khi tiến hành đầu tư thực hiện các dự án đều không thể tự tài trợ toàn bộ vốn cho một dự án. Một trong những biện pháp quan trọng là đi vay vốn tại các ngân hàng.

Khi nền kinh tế phát triển thì vai trò của các ngân hàng thương mại là rất quan trọng trong việc việc đảm bảo cho hoạt động lưu thông tiền tệ được thông suốt, đáp ứng kịp thời yêu cầu về vốn cho nền kinh tế nói chung và cho hoạt động đầu tư nói riêng. Đối với ngân hàng thương mại, nghiệp vụ mang lại lợi nhuận chủ yếu là hoạt động cho vay. Phương châm hoạt động của các ngân hàng là an toàn – chất lượng – hiệu quả và tăng trưởng bền vững. Nhưng một đặc trưng của các dự án đầu tư là luôn chứa đựng các yếu tố rủi ro. Khi rủi ro xảy ra, không chỉ dự án bị ảnh hưởng mà ngân hàng và xã hội cũng sẽ gặp nhiều tổn thất.

Trước thực tế đó, để nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng và đảm bảo an toàn về vốn cho mình, công tác quản lý rủi ro các dự án đầu tư được cho vay vốn là vô cùng quan trọng đối với các ngân hàng. Nhận thấy tầm quan trọng của công tác quản lý rủi ro các dự án đầu tư được cho vay vốn đối với ngân hàng thương mại, trong quá trình thực tập tại Ngân hàng công thương Chi nhánh Thanh Xuân – Hà Nội, em đã nghiên cứu đề tài: “ Quản lý rủi ro các dự án đầu tư tại Ngân hàng Công thương Chi nhánh Thanh Xuân Hà Nội.

Chuyên đề gồm 3 chương:

–       Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro và quản lý rủi ro.

–       Chương II: Thực trạng hoạt động quản lý rủi ro các dự án đầu tư tại Ngân hàng công thương Chi nhánh Thanh Xuân Hà Nội.

–       Chương III: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao khả năng quản lý rủi ro các dự án đầu tư với Ngân hàng công thương chi nhánh Thanh Xuân Hà Nội.

Do hạn chế về mặt thời gian cũng như kinh nghiệm và trình độ nên bài viết còn nhiều thiếu sót. Vì vậy, em rất mong được sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo, các cô chú, anh chị trong Khách hàng doanh nghiệp và phòng Quản lý rủi ro và nợ có  vấn đề – Ngân hàng công thương Chi nhánh Thanh Xuân Hà Nội để bài viết hoàn chỉnh hơn.

Em xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Hà, các cô chú và anh chị  trong phòng Khách hàng doanh nghiệp và phòng Quản lý rủi ro và nợ có  vấn đề – Ngân hàng công thương Chi nhánh Thanh Xuân Hà Nội đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em trong thời gian qua để em hoàn thành bài viết này.

 

CHƯƠNG I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ

RỦI RO VÀ QUẢN LÝ RỦI RO

 

1.1.         Rủi ro đối với các dự án đầu tư.

Dự án đầu tư có đặc trưng là:

–        Có sự tham gia của nhiều bên như: Chủ đầu tư, nhà thầu, cơ quan cung cấp dịch vụ trong đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước.

–        Môi trường hoạt động của dự án là: “va chạm”, có sự tương tác phức tạp giữa dự án này với dự án khác, giữa bộ phận quản lý này với bộ phận quản lý khác.

–        Dự án có tính chất bất định và rủi ro cao, do đặc điểm mang tính chất dài hạn của hoạt động đầu tư phát triển.

Những đặc trưng trên cho thấy hoạt động đầu tư vào các dự án luôn chứa đựng rất nhiều rủi ro ở tất cả các giai đoạn của dự án là pha lập dự án (rủi ro bên trong và rủi ro bên ngoài), pha thực hiện đầu tư, pha vạn hành khai thác dự án.

          Một dự án đầu tư có thể gặp những rủi ro sau:

Một dự án đầu tư có thể gặp rất nhiều rủi ro khác nhau. Nhưng nhìn chung, có thể liệt kê một số vấn đề sau :

–        Thời gian thực hiện dự án lâu hơn dự kiến ( do chậm giải phóng mặt bằng, do không huy động đủ vốn, do mua thiết bị không đúng chủng loại, tiến độ đấu thầu bị kéo dài…)

–        Xảy ra khó khăn không lường trước ( Ví dụ: Dịch cúm vi rút H5N1 xảy ra làm khách du lịch đến Việt Nam giảm đáng kể. Rất nhiều chương trình làm việc của các doanh nghiệp bị phá vỡ do đối tác nước ngoài không đến, các dự án hoạt động khó khăn).

–        Xảy ra các sự kiện bất ngờ ( Một trận hỏa hoạn đã xảy ra và làm cháy một thiết bị quan trọng và khó kiếm. Do đó tất cả các hoạt động của dự án liên quan đến thiết bị này đều phải hủy bỏ).

–        Xảy ra những biến động ngắn hạn và áp lực cạnh tranh sẽ gây biến động hoạt động chung ( Dự án sản xuất sữa đang chuẩn bị và được đưa vào sản suất thì có tin đồn là trong sữa có chứa hàm lượng chất gây hại melalin. Mặc dù tin đồn này đã được đính chính lại nhưng cũng gây tâm lý hoang mang cho người tiêu dùng một thời gian. Điều này đã làm ảnh hưởng tới kế hoạch của dự án.)

–        Sự phối hợp giữa các bộ phận liên quan rất lỏng lẻo.( thị trường đã xác định, sản xuất đã tăng công suất, trong khi mạng lưới phân phối vẫn chưa hình thành).

1.2.         Rủi ro tín dụng.

1.2.1.  Khái niệm rủi ro tín dụng.

Ngân hàng thương mại là loại doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa đặc biệt – hàng hóa tiền tệ. Hoạt động của ngân hàng luôn tiềm ẩn những yếu tố rủi ro. Rủi ro là yếu tố không thể tránh khỏi, là bạn đường trong kinh doanh, có thể đề phòng, hạn chế, chứ không thể loại trừ. Đặc biệt là đối với hoạt động cho vay các dự án đầu tư càng chứa đựng nhiều rủi ro hơn, bởi bản thân các dự án đầu tư như trên đã nói vốn đã chứa đựng rất nhiều rủi ro. Đối với loại rủi ro khi cho các dự án đầu tư vay vốn ngân hàng đã giành riêng cho một tên gọi là “rủi ro tín dụng”.

–        Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ngày 22/4/2005: “ Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.”

–        Theo giáo trình Ngân hàng thương mại của PGS.TS. Phan Thị Thu Hà: “ Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi.”

Rủi ro tín dụng gắn với hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng, có quy mô lớn nhất của ngân hàng thương mại đó là hoạt động tín dụng. Khi thực hiện một hoạt động tài trợ cho các dự án đầu tư, ngân hàng luôn cố gắng phân tích các yếu tố của người vay, của dự án sao cho độ an toàn cao nhất. Và nhìn chung ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy an toàn. Tuy nhiên, không một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán chính xác tất cả các vấn đề có thể xảy ra. Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân. Một số nhóm nguyên nhân có thể đưa ra ở đây là :

1.2.2.  Các nguyên nhân rủi ro tín dụng:

1.2.2.1.      Những nguyên nhân từ các nhân tố vĩ mô:

*            Môi trường chính trị: rủi ro này bao gồm các bất ổn tài chính và bất ổn chính trị.

Có thể liệt kê một số rủi ro chính trị chính sau đây:

–        Rủi ro thuế: Sự thay đổi về thuế đã làm cho dòng tiền hàng năm của dự án bị thay đổi từ đó NPV và IRR của các dự án bị thay đổi theo, nguồn trả nợ của dự án từ đó cũng bị ảnh hưởng.

–        Hạn ngạch, thuế quan hoặc các giới hạn thương mại khác làm giảm sản lượng hoặc tăng chi phí của các dự án. Ví dụ: thuế nhập khẩu thép tăng lên làm tăng chi phí nguyên vật liệu cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng của dự án.

–        Chính sách tuyển dụng lao động: những thay đổi về quản lý và tuyển dụng lao động như thay đổi quy định về mức lương tối thiểu, chính sách với lao động nữ, hạn chế lao động nước ngoài … đều ảnh hưởng tới hiệu quả của dự án đầu tư cũng như năng trả nợ của dự án.

–        Kiểm soát ngoại hối: hạn chế chuyển tiền ra nước ngoài ảnh hưởng tới hoạt động cung ứng hoặc tiêu thụ sản phẩm của dự án cũng như quyền lợi của các nhà đầu tư.

–        Lãi suất: Khi chính phủ đưa ra chính sách lãi suất để kiểm soát lạm phát có thể làm cho hoạt động đầu tư tăng lên hoặc giảm đi.

–        Độc quyền: Sự độc quyền kinh doanh của Nhà nước ở một số lĩnh vực có thể làm hạn chế đầu tư vào các bộ phận khác trong xã hội và thường dẫn đến sự kém hiệu quả trong đầu tư.

–        Môi trường, sức khỏe và an toàn: những quy định liên quan đến kiểm soát chất thải, quy trình sản xuất để bảo vệ sức khỏe cộng đồng có thể làm hạn chế nhiều dự án cũng như làm tăng chi phí của các dự án.

–        Quốc hữu hóa. VD năm 2007 ở Cuba đã đưa ra việc quốc hữu hóa các tổ chức kinh tế.

*            Môi trường kinh tế:

Bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đều chịu ảnh hưởng trực tiếp của môi trường kinh tế xã hội. Môi trường kinh tế không thuận lợi sẽ làm cho các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, mỗi đồng vốn không phát huy được hết hiệu quả của nó, làm cho khả năng trả nợ vay cuả dự án bị hạn chế, dẫn đến rủi ro cho các khoản cho vay của ngân hàng. Trong một nền kinh tế tăng trưởng mạnh, tiềm năng sản xuất, tiêu dùng của xã hội còn lớn thì hoạt động sản xuất còn có nhiều điều kiện tốt để phát triển. Nhưng một nền kinh tế bị khủng hoảng, tỷ lệ lạm phát cao, sản xuất bị đình trệ, đầu tư bị giảm sút, tất cả tác động đến khả năng thu hồi vốn tín dụng của ngân hàng . Không chỉ giới hạn trong môi trường kinh tế của một nước mà các tác động tới hoạt động tín dụng của ngân hàng, nhất là khi quan hệ kinh tế quốc tế được mở rộng.

*            Môi trường  và xã hội:

Môi trường và xã hội là nhân tố lớn ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng. Môi trường bao gồm những nhân tố ảnh hưởng tới kết quả nhưng không bị chi phối bởi người ra quyết định. Những rủi ro do môi trường và xã hội gây ra như: Rủi ro về những tác động tiêu cực của dự án đối với môi trường và người dân xung quanh, dẫn đến dự án phải tốn nhiều chi phí hơn cho việc xử lý chất thải, thậm chí dự án có thể bị dừng hoạt động. Rủi ro có thể xảy ra khi thị hiếu của xã hội thay đổi. Ví dụ như: do dân trí nâng cao, người dân nhận thấy rằng các thức ăn công nghiệp thực sự không tốt cho sức khỏe, họ chuyển sang dùng những thực phẩm có nguồn gốc từ tự nhiên. Do vậy, những thực phẩm đóng hộp và những thực phẩm như gà công nghiệp, cá nuôi đều bị giảm nhu cầu, giá bán hạ, những dự án sản xuất những mặt hàng trên trở nên thua lỗ. Rủi ro cũng có thể xảy ra khi đạo đức của xã hội thay đổi.

*            Nguyên nhân bất khả kháng: Ngoài các nguyên nhân khách quan trên, rủi ro tín dụng còn chịu tác động của các nhân tố khác như: thiên tai, chiến tranh, địch họa… Những nhân tố này vượt quá tầm kiểm soát của người vay lẫn người cho vay. Những nhân tố này có thể xảy ra bất ngờ, tác động tới người vay, tạo thuận lợi hoặc khó khăn cho người vay. Nhiều người vay với bản lĩnh của mình có khả năng dự báo, thích ứng hoặc khắc phục những khó khăn. Trong những trường hợp khác, dự án có thể bị tổn thất song vẫn đủ khả năng trả nợ cho ngân hàng đúng hạn, đủ gốc và lãi. Tuy nhiên, khi các tác động của các nguyên nhân bất khả kháng đối với dự án là nặng nề thì khả năng trả nợ của dự án ít nhiều bị suy giảm. Ví dụ: một trận động đất lớn xảy ra làm phá hủy toàn bộ cơ sở vật chất của một nhà máy.

1.2.2.2.      Nguyên nhân từ phía dự án.

Nguyên nhân từ phía dự án đầu tư cho vay là một trong những nguyên nhân chính, điển hình gây ra rủi ro tín dụng. Theo thống kê cho thấy, khả năng xảy ra rủi ro tín dụng xuất phát từ phía dự án là phổ biến nhất bởi dự án mà đại diện là chủ đầu tư là người trục tiếp sử dụng vốn vay. Nguyên nhân từ phía dự án có thể xem xét trên các mặt sau:

*            Dự án bị thua lỗ dẫn đến mất khả năng trả nợ.

Nguyên nhân có thể do khả năng quản lý trong lĩnh vực kinh doanh, điều hành dự án, thực hiện dự án và vận hành dự án không tốt, do trình độ yếu kém của khách hàng trong việc dự đoán các vấn đề về kinh doanh như:

–        Rủi ro trong quá trình xây dựng và hoàn thành công trình: do khả năng quản lý của chủ đầu tư kém nên dẫn đến một trong các rủi ro sau:

+                   Chi phí xây dựng vượt quá dự toán.

+                   Công trình xây dựng không đảm bảo các yêu cầu của dự án.

+                   Hoàn thành không đúng thời hạn.

+                   Không giải tỏa được dân, phải thu hẹp hoặc hủy bỏ dự án.

–        Rủi ro về thị trường, thu nhập, thanh toán: do dự đoán ban đầu về thị trường của dự án không chính xác nên dự án có thể rơi vào một trong só các tình trạng sau: cầu không đủ, sản lượng bán ra nhỏ hơn công suất của dự án, giá bán thấp hơn dự kiến ban đầu…dẫn đến doanh thu của dự án thấp, không trang trải đủ cho các chi phí, không đảm bảo được khả năng trả nợ cho ngân hàng.

–        Rủi ro về cung cấp đầu vào:

Đầu vào của dự án bao gồm nguyên vật liệu, vốn, lao động, máy móc thiết bị… do chủ quan cảu người lập dự án lúc đầu mà có thể dẫn đến tình trạng khi dự án đi vào giai đoạn vận hành khai thác thì nguồn cung nguyên vật liệu của dự án lại không đáp ứng được công suất của dự án. Rủi ro cũng có khể xảy ra khi dự đoán về giá cả, chất lượng nguyên vật liệu lúc đầu không còn chính xác. Ví dụ: dự án được lập vào năm 2007 khi mà giá vật liệu thép mới chỉ là 10 triệu đồng/ tấn, nhưng đến năm 2008 khi đi vào thi công xây dựng dự án thì giá nguyên vật liêu thép tăng lên 16 triệu đồng/1tấn. Tất cả những rủi ro do dự đoán không chính xác về nguồn cung cấp đầu vào trên đều gây khó khăn tới việc vận hành dự án cũng như thanh toán các khoản nợ.

–        Rủi ro về kỹ thuật và vận hành: Khi các tiện ích ( dây chuyền, thiết bị, hệ thống điều hành…) của dự án không thể vận hành và bảo dưỡng ở mức độ phù hợp với thiết kế ban đầu. Ví dụ: Một công nghệ đặc biệt của dự án được nhập về từ châu Âu, nơi có khí hậu lạnh và khô, khi về tới Việt Nam do khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm cao nên các thông số ban đầu cảu công nghệ đã bị thay đổi, không thể vận hành như ở nơi nhập công nghệ. Rủi ro trên sẽ dẫn đến dự án phải tốn thêm chi phí để bảo dưỡng hoặc điều chỉnh lại công nghệ cho phù hợp với điều kiện ở Việt Nam, thậm chí có thể dẫn tới bỏ hoàn toàn công nghệ. Điều đó sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng trả nợ của dự án.

*            Khách hàng cố tình không tuân thủ các điều kiện trong hoạt động vay vốn, cố tình lừa đảo ngân hàng.

Không ít khách hàng để đạt được mục tiêu vay vốn của mình đã tìm mọi cách để đối phó với ngân hàng như cung cấp thông tin không chính xác, giả tạo hồ sơ, hợp đồng mua bán vòng vo, mua chuộc cán bộ tín dụng nhằm vay vốn ngân hàng. Nhiều chủ đầu tư còn lập dự án ảo để vay vốn của ngân hàng sau đó sử dụng số tiền vay vốn đó vào mục đích khác. Thậm chí, nhiều dự án kinh doanh có lãi song không chịu trả nợ ngân hàng đúng hạn, chây ỳ với kỳ vọng quỵt nợ hoặc có thể sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt. Đây là trường hợp tồi tệ nhất trong các nguyên nhân chủ quan dẫn đến rủi ro tín dụng, nó biểu hiện một hành động có chủ ý xấu của người vay đã được tính toán, chuẩn bị từ trước nhằm chiếm đoạt tiền vay, loại nguyên nhân này được coi là rủi ro về tư cách đạo đức của người vay.

Rủi ro từ phía dự án cho vay luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất và là chủ yếu trong hoạt động tín dụng hiện nay. Việc phòng tránh cũng rất khó khăn, phức tạp vì khách hàng của ngân hàng rất đa dạng, trình độ khác nhau, kinh doanh trong nhiều lĩnh vực do vậy ngân hàng cần nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư trước khi quyết định cho vay, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện khoản vay của các chủ đầu tư và đa dạng hóa đầu tư nhằm phân tán bớt rủi ro.

1.2.2.3.      Nguyên nhân từ phía ngân hàng.

Thứ nhất, rủi ro xảy ra do những nguyên nhân xuất phát từ cơ chế, chính sách của ngân hàng còn chưa phù hợp.

Chính sách tín dụng phản ánh cưỡng lĩnh tài trợ của ngân hàng đó và trở thành hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và các nhân viên ngân hàng, tăng cường chuyên môn hóa trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời. Chính sách không phù hợp sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng và có thể tạo nhiều rủi ro. Chẳng hạn, ngân hàng vì lợi nhuận mà mở rộng hoạt động tín dụng quá mức thì sẽ có rủi ro cao, nợ quá hạn gia tăng. Ngược lại, chính sách khách hàng không đa dạng, dẫn đến tập trung tài trợ cho một số khách hàng, lĩnh vực tạo nên nguy cơ rủi ro cao khi mà “bỏ trứng tất cả vào một giỏ”.

Thứ hai, bộ máy tổ chức hoạt động quản lý rủi ro còn lạc hậu, yếu kém. Ngân hàng thiếu một cơ quan chuyên trách theo dõi, quản lý rủi ro, quản lý hạn mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng thuộc các ngành nghề, địa phương khác nhau để phân tán rủi ro. Chất lượng thông tin thấp, sự hợp tác giữa ngân hàng thương mại và trung tâm thông tin tín dụng không đồng bộ và chưa đạt hiệu quả cao cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến rủi ro tín dụng. Thậm chí một số ngân hàng thương mại vì sợ cạnh tranh nên đã không thông tin cho trung tâm thông tin tín dụng và điều đó đã dẫn đến việc tìm hiểu khách hàng có quan hệ vay nợ tại các tổ chức tín dụng trở nên khó khăn. Chính vì vậy, ngân hàng rất khó giám sát khách hàng về việc họ có sử dụng khoản vay đúng mục đích hay không vì chưa có thông tin đầy đủ. Nếu thiếu một trong các yêu cầu đó thì ngân hàng sẽ không thể có được những quyết định phù hợp, có thể dẫn đến việc ngân hàng sẽ rót vốn vào những nơi thiếu tin cậy.

Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ còn yếu kém, lỏng lẻo. Nhiều ngân hàng còn chưa quan tâm đến hướng dẫn quy trình nghiệp vụ, chỉ đạo quy trình chưa nghiêm túc, kém hiệu lực, thậm chí có những sai phạm.

Thứ ba, sự yếu kém về trình độ nghiệp vụ cũng như tư cách đạo đức của cán bộ tín dụng ngân hàng. Điều này được thể hiện:

Cán bộ tín dụng yếu kém về trình độ, năng lực, nghiệp vụ, không có khả năng phân tích, thẩm định dự án, đánh giá khách hàng thiếu chính xác do công tác thông tin vừa yếu, vừa thiếu. Ngân hàng không có đủ các số liệu thống kê, các chỉ tiêu phân tích dẫn đến việc xác định sai hiệu quả của dự án, thời hạn cho vay, thời hạn trả nợ không phù hợp với phương án kinh doanh. Việc cán bộ tín dụng thiếu năng lực còn dẫn đến tình trạng không phát hiện được những sai sót về mặt pháp lý trong hồ sơ xin vay của khách hàng, hay định giá tài sản đảm bảo không hợp lý có thể gây ra những tổn thất cho ngân hàng khi khách hàng không có khả năng trả nợ hoặc cố tình gán tài sản đó cho ngân hàng. Sự yếu kém và lơi lỏng của cán bộ tín dụng trong quá trình giám sát việc thực hiện các khoản vay cũng là một nguyên nhân rất quan trọng dẫn đến việc không phát hiện kịp thời hiện tượng vốn vay không được sử dụng đúng mục đích hoặc hành vi lừa đảo của khách hàng.

Bên cạnh vấn đề là thiếu và yếu năng lực, đôi khi một bộ phận cán bộ ngân hàng yếu kém về tư cách đạo đức đã lợi dụng vị trí công tác để trục lợi, tham ô, nhaanh hối lộ, cố tình cho vay sai nguyên tắc. Các cán bộ tín dụng quá dễ dàng cho vay đối với khách hàng là bạn bè, người quen thân, hoặc do lợi ích cá nhân mà bỏ qua các quy định cần thiết để đảm bảo an toàn. Cán bộ quản lý đôi khi vì lợi ích cá nhân hay vì lợi ích của một nhóm tập thể, trong công tác điều hành đã vô tình tạo điều kiện, kẽ hở cho loại rủi ro đạo đức ở cán bộ phát triển. Chẳng hạn khi nhà quản lý hay bộ phận nhóm cán quản lý đã có quan hệ lợi ích với khách hàng, mặc dù điều kiện vay vốn có thể chưa hội tụ đủ, thậm chí không đủ điều kiện và đã được cán bộ thẩm định ghi rõ nguyên nhân trong báo cáo thẩm định là không duyệt cho vay. Thông thường những khoản vay đó sẽ không được phê duyệt, nhưng vì một lý do tế nhị nào đó, nhà quản lý đã bằng cách này hay cách khác, hướng dẫn khách hàng hợp thức hóa hồ sơ, thậm chí còn yêu cầu cán bộ tín dụng, cán bộ thẩm định phải thực hiện theo ý kiến chỉ đạo ( trên thực tế thì rất ít cán bộ có thể bảo vệ ý kiến ban đầu của mình).

Do đó, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan. Nhiều quan điểm nhất trí rằng: rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh, có thể đề phòng hoặc hạn chế chứ không thể loại trừ.

Sự tiếp cận các yếu tố, nguyên nhân gây rủi ro trên đây giúp chúng ta nhìn nhận một cách đầy đủ, toàn diện, khách quan hơn, từ đó có được đề xuất phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh của ngân hàng thương mại một cách hữu ích, thiết thực hơn.

1.2.3.  Các dấu hiệu phản ánh rủi ro tín dụng.

Rủi ro tín dụng thường khó mà xảy ra qua một đêm, do vậy mà nó thường có một vài dấu hiệu báo động. Có những dấu hiệu biểu hiện mờ nhạt, có dấu hiệu biểu hiện rõ ràng. Ngân hàng cần có cách nhận biết ra những dấu hiệu ban đầu của dự án có vấn đề và có hành động cần thiết nhằm ngăn ngừa hoặc xử lý chúng. Nhưng các dấu hiệu này đôi khi được nhận ra qua một quá trình chứ không hẳn là một thời điểm, do vậy cán bộ tín dụng cần phải biết cách nhận ra chúng một cách có hệ thống. Sau khi khoản vay phát sinh và được phân loại, cán bộ tín dụng luôn phải theo dõi, giám sát khoản vay để nhận diện rủi ro thông qua các dấu hiệu cảnh báo sau:

1.2.3.1.      Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng.

–        Trì hoãn hoặc gây khó khăn, trở ngại đối với ngân hàng trong quá trình kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng mà không có sự giải thích minh bạch, thuyết phục.

–        Có dấu hiệu không thực hiện đầy đủ các quy định, vi phạm pháp luật trong quá trình quan hệ tín dụng.

–        Chậm gửi hoặc trì hoãn gửi các báo cáo tài chính theo yêu cầu mà không có sự giải thích minh bạch, thuyết phục.

–        Không có các báo cáo hay dự đoán về lưu chuyển tiền tệ.

–        Trong quá trình hạch toán của khách hàng, xu hướng các tài khoản của khách hàng qua một quá trình sẽ cung cấp cho ngân hàng một số dấu hiệu quan trọng như:

+                   Phát hành séc quá bảo chứng hoặc bị từ chối.

+                   Khó khăn trong thanh toán lương.

+                   Sự giao động của các tài khoản mà đặc biệt là giảm sút số dư tài khoản tiền gửi.

+                   Tăng mức sử dụng bình quân trong các tài khoản.

+                   Thường xuyên yêu cầu hỗ trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác nhau .

+                   Không có khả năng thực hiện các hoạt động cắt giảm chi phí.

+                   Gia tăng các khoản nợ thương mại hoặc không có khả năng thanh toán nợ khi đến hạn…

–        Các hoạt động cho vay:

+                   Mức độ vay thường xuyên gia tăng.

+                   Thanh toán chậm các khoản nợ gốc và lãi.

+                   Yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến.

+                   Xuất hiện nợ quá hạn do khách hàng không có khả năng hoàn trả hoặc khách hàng không muốn trả nợ hoặc do việc tiêu thụ hàng, thu hồi công nợ chậm hơn dự tính.

+                   Tài sản đảm bảo không đảm bảo đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản bị giảm sút so với định giá khi cho vay. Có dấu hiệu tài sản đã cho người khác thuê, bán hay trao đổi hoặc đã biến mất, không còn tồn tại.

–        Phương thức tài chính:

+                   Sử dụng nhiều các tài khoản ngắn hạn tài trợ cho các hoạt động phát triển dài hạn.

+                   Chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ đắt nhất. Ví dụ: thường xuyên sử dụng dịch vụ chiết khấu các tài khoản phải trả.

+                   Giảm các khoản phải thu và tăng các khoản phải trả.

+                   Các hệ số thanh toán phát triển theo chiều hướng xấu.

+                   Có biểu hiện giảm vốn điều lệ.

+                   Có dấu hiệu tìm kiếm sự tài trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác, đặc biệt từ đối thủ cạnh tranh của ngân hàng.

+                   Có dấu hiệu cho thấy khách hàng trông chờ các nguồn thu nhập bất thường khác không phải từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính hoặc từ hoạt động được đề xuất trong phương án vay vốn để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán.

 

1.2.3.2.      Nhóm các dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý của khách hàng.

Cũng như nhóm các dấu hiệu liên quan tới mối quan hệ với ngân hàng, nhóm các dấu hiệu này có tác động trực tiếp tới chất lượng khoản vay nhưng với tốc độ chậm hơn. Các dấu hiệu này xuất phát từ chính hoạt động sản xuất kinh doanh của dự án đầu tư và không dễ nhận diện nếu thiếu sự quản lý chặt chẽ, sâu sát của cán bộ tín dụng. Nó cũng đòi hỏi các giải pháp và chiến lược xử lý có tính dài hạn hơn. Biểu hiện cụ thể:

–         Có chênh lệch lớn giữa doanh thu hay dòng tiền thực tế so với mức dự kiến ban đầu khi lập dự án.

–        Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản hay mức độ hoạt động của dự án.

–        Xuất hiện ngày càng nhiều các khoản chi phí bất hợp lý như sự gia tăng đột biến trong chi phí quảng cáo, tiếp khách, tập trung quá mức chi phí để gây ấn tượng như thiết bị văn phòng hiện đại, phương tiện giao thông đắt tiền…

–        Thay đổi thường xuyên cơ cấu tổ chức của hệ thống quản trị hoặc ban điều hành.

–        Xuất hiện bất đồng và mâu thuẫn trong quản trị điều hành, tranh chấp trong quá trình quản lý.

–        Có dấu hiệu phát hiện ra quá trình khảo sát, thẩm định dự án sai dẫn đến việc đầu tư dự án không hiệu quả.

–        Lập kế hoạch xác định mục tiêu kém, xuất hiện các hành động nhất thời, không có khả năng đối phó với những thay đổi.

–        Việc lập kế hoạch những người kế cận không đầy đủ.

–        Quản lý có tính gia đình: có biểu hiện thiếu tin tưởng vào những người quản lý không thuộc gia đình, cho thành viên gia đình chưa được đào tạo, huấn luyện đầy đủ đảm đương vị trí then chốt.

–        Đối với khách hàng là tư nhân cá thể, có dấu hiệu của người vay bị bệnh kéo dài hoặc chết.

1.2.3.3.      Nhóm các dấu hiệu liên quan đến các ưu tiên trong kinh doanh.

–        Xuất hiện dấu hiệu hội chứng hợp đồng lớn: sẵn sàng từ bỏ các hợp đồng có giá trị nhỏ và vừa nhưng có khả năng thu được tỷ suất lợi nhuận cao để tìm kiếm các hợp đồng có giá trị lớn với các bạn hàng có “tên tuổi” dù lợi nhuận thu về có khả năng đạt thấp hơn, sẵn sàng cắt giảm lợi nhuận để đạt được các hợp đồng lớn, theo đuổi chiến lược “mượn thương hiệu”, “nước nổi thuyền nổi”.

–        Xuất hiện dấu hiệu hội chứng sản phẩm đẹp: mải mê theo đuổi một sản phẩm không thích hợp về thời gian và năng lực hiện tại mà không chú đến các yếu tố khác.

–        Do áp lực nội bộ dẫn tới tung ra thị trường các sản phẩm dịch vụ quá sớm khi chưa hội tụ đủ các điều kiện chín muồi hoặc đặt ra các hạn mức thời gian kinh doanh, doanh số không thực tế, tạo mong đợi trên thị trường không đúng lúc.

1.2.3.4.                    Nhóm các dấu hiệu liên quan đến các vấn đề về kỹ thuật thương mại.

–        Khó khăn trong phát triển sản phẩm, dịch vụ mới.

–        Những thay đổi từ chính sách của Nhà nước, đặc biệt là tác động của các chính sách thuế, xuất nhập khẩu; thay đổi các biến số kinh tế vĩ mô: tỷ giá, lãi suất, thay đổi công nghệ kỹ thuật sản xuất, thị hiếu tiêu dùng, mất nhà cung ứng hoặc khách hàng lớn, thêm đối thủ cạnh tranh tác động bất lợi đến chiến lược và kế hoạch sản xuất, kinh doanh của khách hàng.

–        Thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh xảy ra.

–        Sản phẩm của khách hàng mang tính thời vụ cao.

1.2.3.5.      Nhóm các dấu hiệu về xử lý thông tin tài chính, kế toán của khách hàng.

–        Sự gia tăng không cân đối về tỷ lệ nợ thường xuyên.

–        Khả năng tiền mặt giảm.

–        Tăng doanh số bán nhưng lãi giảm hoặc không có.

–        Các tài khoản hạch toán  vốn điều lệ không khớp.

–        Những thay đổi về tỷ lệ lãi gộp và lãi ròng trên doanh số bán.

–        Số khách hàng nợ tăng nhanh và thời gian thanh toán của các con nợ được kéo dài.

–        Hoạt động lỗ.

–        Lập kế hoạch trả nợ mà nguồn vốn không đủ.

–        Không hạch toán đúng tài sản cố định.,

–        Làm đẹp bản cân đối bằng cách tạo ra những tài sản vô hình.

–        Thường xuyên không đạt mức kế hoạch về sản xuất và bán hàng.

–        Tăng giá trị quá cao thông qua việc tính lại tài sản.

–        Phân bố nợ không thích hợp.

–        Lệ thuộc vào sản phẩm bất thường để tạo ra lợi nhuận.

Trong tất cả các dấu hiệu đó, dấu hiệu rõ ràng và có ý nghĩa nhất là chậm thanh toán các khoản vay và các khoản phải trả khác.

1.3.         Quản lý rủi ro các dự án đầu tư tại ngân hàng.

Hoạt động tín dụng là quan trọng nhất trong ngân hàng thương mại, bao gồm 2 mặt: Sinh lời và rủi ro. Phần lớn các thua lỗ của các ngân hàng là từ hoạt động tín dụng. Song ở đây không có cách nào để loại trừ rủi ro tín dụng hoàn toàn mà phải quản lý thật cẩn thận. Đứng trước quyết định tài trợ vốn cho các dự án, cán bộ ngân hàng phải cân nhắc mâu thuẫn giữa sinh lời và rủi ro. Vì vậy, quản lý rủi ro tín dụng (đặc biệt là đối với cho vay các dự án đầu tư) được coi là nội dung quản lý quan trọng của ngân hàng thương mại.

Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng: “Quản lý rủi ro tín dụng là việc sử dụng các biện pháp nghiệp vụ để kiểm soát chất lượng tín dụng, hạn chế hậu quả xấu trong hoạt động tín dụng, giảm thiểu sự tổn thất không để hoạt động ngân hàng lâm vào tình trạng đổ vỡ.”

1.3.1.  Sự cần thiết phải quản lý rủi ro các dự án đầu tư.

Rủi ro đối với cho vay các dự án đầu tư là rủi ro phức tạp nhất trong hoạt động ngân hàng. Nó có thể xảy ra ở bất cứ nơi đâu và bất kỳ khi nào.

1.3.1.1.      Ảnh hưởng của rủi ro tới nền kinh tế.

Trước tiên, rủi ro xảy ra làm cho ngân hàng chậm hoặc không có khả năng thu hồi vốn để tiếp tục cho vay. Vì vậy rủi ro sẽ làm giảm vòng quay sử dụng vốn của ngân hàng, giảm khả năng cung cấp vốn và làm chậm tốc độ lưu chuyển vốn trong nền kinh tế. Kết quả là sản xuất bị đình đốn, nền kinh tế không phát triển được, xã hội bị rối loạn.

Sau đó, nếu việc quản lý rủi ro của các tổ chức tín dụng không tốt sẽ làm ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng. Nếu tình trạng này kéo dài đến một mức độ nào đó nó sẽ là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến đỗ vỡ, phá sản của tổ chức tín dụng đó và lớn hơn là sự đổ vỡ dây chuyền của các tổ chức tín dụng mà hậu quả của nó dẫn đến khủng hoảng kinh tế, tài chính. Điều này không chỉ diễn ra ở một quốc gia mà nó còn lan truyền đến nhiều nước, nhiều khu vực trên toàn thế giới. Nó không chỉ là sự khủng hoảng về kinh tế, nó còn dẫn đến sự khủng hoảng về chính trị. VD: khủng hoảng ở Anbani năm 1997, khủng hoảng ở Thái Lan và khu vực Đông Nam Á 1997.

1.3.1.2.      Ảnh hưởng của rủi ro tới bản thân ngân hàng cấp tín dụng.

Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng và nó quyết định sự tồn tại cũng như sự phát triển của ngân hàng.

Khi rủi ro xảy ra đối với các dự án đầu tư, trước tiên nó sẽ làm gây ra những khoản nợ khó thu hồi, vốn của ngân hàng sẽ không thể quay vòng, lãi không thể thu. Mặt khác, khi có quá nhiều các khoản nợ khó đòi sẽ phát sinh các khoản chi phí phát sinh như giám sát, thu nợ… Bên cạnh đó, ngân hàng vẫn phải trả lãi cho các khoản tiền huy động. Kết quả là lợi nhuận của ngân hàng bị giảm sút.

Ngân hàng bao giờ cũng lên kế hoạch cân đối giữa dòng tiền ra và dòng tiền vào tại các thời điểm được xác định sẵn trong tương lai. Khi các khoản vay không thu hồi được như kế hoạch sẽ dẫn đến sự mất cân đối, gây ra sự suy yếu và hạn chế cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán cho các khoản tiền ra. Nếu tình trạng mất khả năng chi trả của ngân hàng diễn ra quá nhiều lần, hay những thông tin về rủi ro tín dụng của nội bộ ngân hàng bị rò rỉ ra bên ngoài thì uy tín của ngân hàng bị giảm sút. Điều đó tất yếu sẽ dẫn đến khả năng cạnh tranh của ngân hàng cũng yếu đi, do đó việc huy động tiền gửi sẽ gặp nhiều khó khăn, việc thiết lập các giao dịch với các doanh nghiệp và các ngân hàng khác cũng sẽ không được thuận lợi. Uy tín đối với khách hàng là một tài sản vô hình hết sức quý giá của ngân hàng, một khi đã mất đi thì rất khó có thể lấy lại hoặc nếu có thì cũng phải tốn nhiều tiền của cũng như thời gian.

Nếu mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể chịu đựng được thì ngân hàng có thể bù đắp bằng các quỹ dự phòng rủi ro hoặc vốn tự có, còn nếu rủi ro xảy ra ở mức độ nghiêm trọng thì sự bù đắp của các quỹ dự phòng cũng không thay đổi được tình hình. Thu nhập không thể bù đắp được chi phí, các dòng tiền vào không thể cân đối với dòng tiền ra, khả năng thanh toán của ngân hàng bị giảm sút dẫn đến rủi ro thanh toán, thậm chí gây phá sản nếu không có sự can thiệp kịp thời của Ngân hàng Nhà nước. VD: ngân hàng Đông Nam Á năm 2001.

Như vậy, rủi ro khi cho vay các dự án đầu tư xảy ra dù ở mức độ nào cũng gây ảnh hưởng tới sự phát triển của ngân hàng nói riêng và sự tăng trưởng của nền kinh tế nói chung. Vì vậy, quản lý rủi ro khi cho các dự án đầu tư vay vốn không chỉ là trách nhiệm riêng của ngân hàng mà là của toàn nền kinh tế. thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro phù hợp sẽ làm giảm tổn thất cho ngân hàng cũng như nền kinh tế, lành mạnh hóa hệ thống tài chính ngân hàng, tăng cường sức cạnh tranh, tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng.

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Đề tài Đại học và được gắn thẻ , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s