Phân tích các nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu hiện nay


LỜI MỞ ĐẦU
Để đạt được tham vọng tăng trưởng kinh tế một cách nhanh chóng trong điều
kiện các khoản thu ngân sách Nhà nước không thể đáp ứng yêu cầu thì tất cả các
quốc gia trên thế giới từ các nước kém phát triển cho đến những cường quốc luôn
phải thu hút nguồn vốn bằng nhiều cách khác nhau, trong đó vay nợ là công cụ đòn
bẩy tài chính được sử dụng một cách phổ biến nhất. Việc sử dụng công cụ này đã
giúp cho các quốc gia bù đắp được thâm hụt ngân sách, đầu tư vào hạ tầng cơ sở
thiết yếu và xóa đói giảm nghèo góp phần không nhỏ trong việc kích thích tăng
trưởng và phát triển kinh tế, trong đó điển hình nhất có thể kể đến là Singapore,
Hàn Quốc, Trung Quốc,…Tuy nhiên nợ công không phải lúc nào cũng có tác dụng
giúp tăng trưởng kinh tế mà ngược lại, nó có thể tạo ra những bất ổn cho nền kinh
tế. Khi quốc gia vay nợ không thể trả được những khoản nợ đến hạn, đặc biệt là nợ
nước ngoài và bị nhấn chìm trong vòng xoáy nợ nần thì khủng hoảng nợ công xuất
hiện.
Trong thực tế, nền kinh tế thế giới đã chứng kiến nhiều cuộc khủng hoảng nợ
công xảy ra ngay cả với các nước có nền kinh tế tiên tiến nhất, trong đó có khu vực
Châu Âu. Khủng hoảng nợ công Châu Âu, bắt nguồn từ Hy Lạp, bùng nổ ngay sau
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và kéo dài tới hiện nay đã để lại những hậu
quả không nhỏ cho các quốc gia trong khu vực cũng như ảnh hưởng đến kinh tế
toàn cầu. Câu hỏi đặt ra là, tại sao các nước khu vực Châu Âu lại không sử dụng
thành công công cụ vay nợ? Nguyên nhân nào khiến một khối kinh tế được coi là lý
tưởng hàng đầu thế giới lại rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ công hiện nay? Và
các quốc gia trong khu vực đã sử dụng những đối sách gì để ứng xử với tình trạng
này? Để có thể hiểu rõ về các vấn đề này, nhóm nghiên cứu xin trình bày về đề tài:
“Phân tích các nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu hiện
nay”.
2

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG
1.1. NỢ CÔNG
1.1.1. Khái niệm nợ công
Trong quá khứ, khủng hoảng nợ công cũng đã được biết đến vào đầu thập kỷ 80
của Thế kỷ XX. Năm 1982, Mê-hi-cô là quốc gia đầu tiên tuyên bố không trả được
nợ vay IMF. Đến tháng 10/1983, 27 quốc gia với tổng số nợ lên tới 240 tỷ USD đã
tuyên bố hoặc chuẩn bị tuyên bố hoãn trả nợ. Tuy nhiên, đến nay xung quanh khái
niệm và nội hàm của nợ công vẫn còn nhiều quan điểm chưa thống nhất.
Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới (WB), nợ công là toàn bộ các khoản nợ
trong nước và nước ngoài của Chính phủ và những khoản nợ được chính phủ bảo
lãnh. Trong đó, “nợ của Chính phủ” là toàn bộ các khoản nợ trong nước và nước
ngoài của Chính phủ và các đại lý của Chính phủ; các tỉnh, thành phố hoặc các tổ
chức chính trị trực thuộc chính phủ và các đại lý của các tổ chức này; các doanh
nghiệp nhà nước. “Nợ của Chính phủ bảo lãnh” là những khoản nợ trong nước và
nước ngoài của khu vực tư nhân do chính phủ bảo lãnh.
Theo quan điểm của quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), nợ công bao gồm nợ khu vực tài
chính công và nợ khu vực phi tài chính công. Trong đó, khu vực tài chính công
gồm: Tổ chức tiền tệ (ngân hàng trung ương, các tổ chức tín dụng nhà nước) và các
tổ chức phi tiền tệ (các tổ chức tín dụng không cho vay mà chỉ có chức năng hỗ trợ
phát triển). Còn các tổ chức phi tài chính công là các tổ chức như Chính phủ, tỉnh
thành phố, các tổ chức chính quyền địa phương, các doanh nghiệp phi tài chính nhà
nước.
Dù theo quan điểm của tổ chức nào thì các khoản nợ này đều nhằm mục đích tài
trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách, nên nói cách khác, nợ công là thâm hụt ngân
sách lũy kế đến một thời điểm nào đó.
Hiện nay để xác định tình hình nợ công một nước, các chính phủ và các tổ chức
uy tín trên thế giới sử dụng tỷ lệ phần trăm nợ so với GDP.
3
1.1.2. Phân loại nợ công :
Chúng ta có thể căn cứ vào các tiêu thức khác nhau như kỳ hạn nợ, vị trí địa lý,
nghĩa vụ trả nợ, lãi suất vay, loại tiền vay để phân chia nợ công thành nhiều loại
khác nhau nhằm thuận tiện cho việc nghiên cứu, đánh giá cũng như quản lí nợ
công. Hiện nay, về cơ bản thì các nước đều có phân chia nợ công theo tiêu thức vị
trí địa lý. Căn cứ theo tiêu thức đó thì nợ công được phân chia thành:
Nợ trong nước: Bao gồm các khoản vay từ các chủ thể trong nước và chủ yếu
thông qua phương thức phát hành các công cụ nợ
Nợ nước ngoài: Bao gồm các khoản vay từ các chủ thể nước ngoài như kí kết
hiệp định vay nợ với chính phủ hay các tổ chức tài chính, tiền tệ nước ngoài; khoản
vay thương mại từ các chủ thể nước ngoài.
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ công
Thâm hụt ngân sách: Nguồn gốc của nợ công bắt nguồn từ thâm hụt NSNN
hàng năm. Khi NSNN thâm hụt, ngoài việc tăng thuế, tiết kiệm chi tiêu chính phủ
thường sử sụng biện pháp đi vay để bù đắp thâm hụt NSNN. Vay nợ trực tiếp tạo ra
nợ công, khoản vay càng lớn thì nợ công càng cao. Thâm hụt NSNN diễn ra liên
tục qua các năm càng làm tăng gánh nặng nợ công do gánh nặng nợ mới cùng với
các khoản nợ cũ chưa thanh toán.
Lãi suất thực tế: Khi lãi suất thực tế trên thị trường biến động sẽ ảnh hưởng
ngay đến quy mô và chi phí dịch vụ nợ công. Trong trường hợp lãi suất thực tế tăng
lên sẽ khiến cho chi phí vay nợ của các khoản vay mới và những khoản vay cũ đến
thời hạn trả nợ có lãi suất thả nổi tăng cao. Qua đó có thể ảnh hưởng đến quy mô và
cơ cấu khoản nợ công.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế phản ánh mức độ
tăng của quy mô hàng hóa dịch vụ trong nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
theo hướng tích cực thì nguồn thu NSNN gia tăng. Chính phủ sẽ có khả năng thanh
toán được các khoản nợ đến hạn và giảm các khoản vay phát sinh mới, do đó nợ
4
công có xu hướng giảm và ngược lại, nếu kinh tế có xu hướng tăng trưởng chậm
hoặc suy thoái thì nợ công sẽ tăng lên.
Tỷ giá thực tế: Đối với những khoản vay nợ nước ngoài hoặc khoản vay
trong nước bằng ngoại tệ, sự biến động về tỷ giá chắc chắn ảnh hưởng đến quy mô
và chi phí dich vụ nợ.
1.1.4.Khủng hoảng nợ công
Khủng hoảng nợ công xảy ra khi một quốc gia vay nợ không thể trả được
những khoản nợ đến hạn, đặc biệt là nợ nước ngoài và bị nhấn chìm trong vòng
xoáy nợ nần, nói cách khác khủng hoảng nợ xuất hiện khi khoản vay nợ của quốc
gia lớn hơn khả năng trả nợ.
Khi nợ công quá cao, vượt ngưỡng an toàn nợ công của Chính phủ sẽ có ảnh
hưởng xấu đến nền kinh tế. Trong ngắn hạn, dòng ngoại tệ chảy vào có thể gây
tăng giá đồng nội tệ, ảnh hưởng xấu đến cán cân thương mại. Trong dài hạn, Chính
phủ cần có nguồn ngoại tệ để trả nợ sẽ đẩy nhu cầu ngoại tệ tăng cao có khả năng
gây mất giá đồng nội tệ. Vì Chính phủ muốn duy trì giá đồng nội tệ sẽ dẫn đến dự
trữ ngoại tệ trong nước giảm. Tình trạng cứ tiếp diễn trong một thời gian đến khi
nguồn dự trữ ngoại tệ cạn kiệt buộc Chính phủ phải phá giá đồng nội tệ và có thể
dẫn đến cuộc khủng hoảng tiền tệ. Hơn nữa, khi các khoản nợ tính bằng ngoại tệ
hoặc các khoản nợ do người nước ngoài nắm cùng với lòng tin của các chủ nợ với
khả năng trả nợ của chính phủ giảm sút dẫn đến khả năng rút vốn của các nhà đầu
tư. Khi đó, giá trái phiếu chính phủ giảm, khoản vay nước ngoài rơi vào tình trạng
mất khả năng thanh toán. Nguy cơ lúc này không còn là khủng hoảng tiền tệ hay
khủng hoảng tài chính nữa mà sẽ là cuộc khủng hoảng nợ công với hệ lụy khó
lường cho nền kinh tế.
5
CHƯƠNG 2: DIỄN BIẾN KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG CHÂU ÂU
VÀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG CHÂU ÂU
2.1. DIỄN BIẾN KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG CHÂU ÂU
2.1.1. Toàn cảnh nợ công Châu Âu
Cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu bắt đầu từ nửa sau năm 2009 với sự gia
tăng mức nợ công của nhóm PIIGS (Bồ Đào Nha, Ireland, Italia, Hy Lạp và Tây
Ban Nha) không chỉ làm rung động thị trường tài chính khu vực Eurozone mà còn
ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường tài chính toàn cầu.
Hy Lạp là quốc gia đầu tiên bước vào vòng xoáy này vào năm 2009. Những
con số chính thức về thâm hụt ngân sách và nợ công của Hy Lạp là một cú sốc lớn
với giới đầu tư và kinh doanh. Nhiều gói giải cứu từ các nước thuộc khu vực Liên
minh Châu Âu và Quỹ tiền tệ thế giới IMF đã được đưa ra để giúp đỡ Hy Lạp giảm
tỷ lệ nợ công nhưng tình hình vẫn không mấy khả quan.
Vào giữa tháng 5/2010, Ngân hàng Trung Ương châu Âu (ECB) đã công bố
kế hoạch mua lại trái phiếu của các nước nhằm ổn định tình hình. Động thái này đã
có phần kìm hãm tốc độ tăng phi mã của lãi suất trái phiếu khu vực châu Âu. Dù
vậy, không lâu sau đó trái phiếu của các nước châu Âu nhất là Tây Ban Nha,
Italia… tiếp tục tăng nhanh khi thời điểm đáo hạn của các khoản vay càng đến gần.
Các nước như Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha…phải trả gần 300 tỷ EUR lãi
vay và vốn gốc cho các khoản vay bằng trái phiếu ngắn và dài hạn.
Ngày 25/6/2012, Síp chính thức trở thành nước thứ 5 trong khu vực
Eurozone phải xin cứu trợ từ Quỹ bình ổn tài chính châu Âu với mức nợ công lên
tới trên 85% GDP.
6
Vào tháng 11-2010, Ireland chính thức trở thành nạn nhân thứ hai của cơn
bão khủng hoảng nợ công khi phải cầu viện Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Tiền
tệ quốc tế (IMF). Sang năm 2011, Bồ Đào Nha tiếp tục là quốc gia thứ ba rơi vào
khủng hoảng khi tuyên bố mức thâm hụt ngân sách đã lên tới 8,5% GDP, cùng với
đó, nợ công cũng đã vượt quá 90% GDP. Italia và Tây Ban Nha mặc dù chưa thực
sự rơi vào khủng hoảng, nhưng cũng ở trong vòng nguy hiểm. Thâm hụt ngân sách
của Italia vào năm 2011 mới chỉ ở mức 5% GDP, nhưng nợ công đã xấp xỉ 120%
GDP. Tây Ban Nha nợ công ở mức 72% GDP, trong khi thâm hụt ngân sách lại rất
cao, gần 9% GDP.
Nguồn: IMF Data and Statistics
Chính bởi tình hình đầy biến động của kinh tế và nợ công trong khu vực Liên
minh châu Âu (EU) mà tỉ lệ nợ công của khu vực này tăng nhanh chóng và liên tục
trong giai đoạn 2009-2013. Qua Hình 2.1 ta thấy, tỉ lệ nợ công toàn khu vực EU
tăng 15.3% so với GDP từ 74.2% (năm 2009) lên 89.5% (năm 2013). Cùng với đó
là tỉ lệ tăng trưởng kinh tế của khu vực EU thấp và lãi suất trái phiếu dài hạn của
khu vực này tăng lên nhanh chóng.
0%
50%
100%
2009 2010 2011 2012 2013
74.2
79.9 82.6 86.8 89.5
25.8
20.1 17.4 13.2 10.5
Hình 2.1. Biểu đồ tỉ lệ nợ công khu vực EU giai đoạn
2009-2013 (% GDP)
Nợ công Phần còn lại GDP
7
Hình 2.2. Tỷ lệ tăng trưởng GDP quý của khu vực EU giai đoạn 2008-2013
(Đơn vị: %)
Tỉ lệ tăng trưởng GDP từng quý của khu vực EU giai đoạn 2008-2013 giảm
mạnh so với giai đoạn trước. Trong giai đoạn này, tỉ lệ tăng trưởng GDP quý cao
nhất là 1% ở quý II năm 2010. Tốc độ tăng trưởng còn âm liên tục từ quý II năm
2008 đến quý II năm 2009 với mức tăng trưởng thấp nhất là -2.8% ở quý I năm
2009 khi cuộc khủng hoảng nợ công Hy Lạp bắt đầu. Trong năm 2013, tốc độ tăng
trưởng GDP của khu vực này vẫn ở mức rất thấp cho thấy tình hình kinh tế của khu
vực EU vẫn còn nhiều vấn đề nan giải và vấn đề nợ công sẽ vẫn còn tiếp tục tăng
khi mà nền kinh tế tăng trưởng thấp.
Hình 2.3. Lãi suất trái phiếu dài hạn của khu vực EU (Đơn vị: %)
8
Lãi suất dài hạn của trái phiếu của các nước trong khu vực EU như Hy Lạp,
Ireland, Bồ Đào Nha tăng lên liên tục khiến cho nợ công của các nước tiếp tục tăng
cao hơn nữa.
Đáng chú ý là khả năng khủng hoảng nợ công đã và sẽ có thể tiếp tục lan
rộng sang các nước thành viên mới của khu vực châu Âu như Hungary, Bulgary,
Ba Lan, Romania…Các nước này đang gặp các vấn đề nguồn vốn đầu tư từ các
nước Tây Âu đang bị rút ra, nợ công gia tăng mạnh mẽ. Từ đó ta nhân thấy rằng
vấn đề nợ công châu Âu vẫn là một vấn đề cả thế giới cần quan tâm và chú ý.
2.1.2. Diễn biến nợ công ở một số nước Châu Âu tiêu biểu
2.1.2.1. Nợ công ở Hy Lạp
Hy Lạp là một quốc gia nhỏ thuộc khu vực châu Âu, có nền kinh tế phát triển
cao. Từ sau Thế chiến thứ hai, Hy Lạp đã đạt được sự tăng trưởng kinh tế kỳ diệu
với tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 7%. Ngày 1 tháng 1 năm 1981, Hy Lạp
trở thành thành viên thứ 10 của Liên minh Châu Âu. Nền kinh tế Hy Lạp phát triển
nhanh chóng với một nguồn vốn đầu tư lớn của nước ngoài đổ vào Hy Lạp cùng
với nguồn thu lớn từ dịch vụ và du lịch.
Thế nhưng nền kinh tế Hy Lạp không còn viễn cảnh đầy tươi sáng sau khi
cuộc khủng hoảng nợ công Hy Lạp đã bắt đầu vào tháng 12/2009 khi thủ tướng
mới của Đảng xã hội Hy Lạp thông báo rằng người tiền nhiệm của ông đã che dấu
tình trạng thâm hụt ngân sách khổng lồ mà nước này đang mắc phải. Thâm hụt
ngân sách chính phủ của nước này là 12.7% GDP, chứ không phải 3.7% như chính
phủ tiền nhiệm dự báo trước đó. Nợ công của nhà nước đã tới ngưỡng gần 300 tỷ
EUR, tương đương 125% GDP, chiếm khoảng 4% tổng nợ của khu vực đồng tiền
chung.
Thực tế nợ công của Hi Lạp đã bắt đầu từ trước và càng trở nên xấu đi từ cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu. Năm 2008, khi khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy
ra, các ngành công nghiệp chủ đạo của Hy Lạp đều bị ảnh hưởng mạnh. Ngành du
9
lịch và vận tải biển đều có mức sụt giảm doanh thu tới 15%. Nguồn thu để tài trợ
ngân sách bị hạn chế, Chính phủ lại buộc phải tăng chi tiêu công nhằm kích thích
tăng trưởng dẫn đến thâm hụt ngân sách ngày càng nghiêm trọng.

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Đề tài Đại học và được gắn thẻ , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s