Những sáng tạo của Hồ Chí Minh trong quá trình sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam


 

PHẦN I: MỞ ĐẦU.

Hồ Chí Minh là người sáng lập và rèn luyện Đảng cộng sản Việt Nam, Đảng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam, nhân tố hàng đầu bảo đảm mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân tatiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Sau khi tìm được con đường cứu nước, giải phóng dân tộc theo con đường của cách mạng vô sản, trước hết Hồ Chí Minh bắt tay vào chuẩn bị xây dựng một chính đảng mácxít-lêninnít ở Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản là một tư tưởng lớn, hình thành ngay sau khi Người tìm thấy chủ nghĩa Mác-Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản, từng bước phát triển và ngày càng hoàn chỉnh trong quá trình Người lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản là sự kế thừa và phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về Đảng Cộng sản trong điều kiện lịch sử cụ thể một nước thuộc địa, tàn tích phong kiến nặng nề, kinh tế nghèo nàn lạc hậu, trình độ khoa học kém phát triển. Đó là một trong những đóng góp to lớn của Người, làm phong phú thêm lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về Đảng Cộng sản.

Xuất phát từ mục đích, yêu cầu của việc nghiên cứu, tiểu luận chỉ đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu về một số những sáng tạo của Hồ Chí Minh trong quá trình sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam

PHẦN II: NỘI DUNG

1. Một số sáng tạo của Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sự ra đời của Đảng Công sản Việt Nam cách đây gần 80 năm là sự đáp ứng yêu cầu khách quan của phong trào yêu nước và cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân ta cần thiết phải có một bộ tư lệnh trung kiên, sáng suốt lãnh đạo, nhằm đưa cuộc đấu tranh của dân tộc chuyển sang một thời kỳ mới. Mặt khác, sự ra đời của Đảng cũng gắn với những nỗ lực chủ quan của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc trong việc chuẩn bị những tiền đề, góp phần đẩy nhanh sự chín muồi khách quan, dẫn đến sự thành lập Đảng, mở ra một bước goặt mới, vĩ đại cho cách mạng Việt Nam.

Trong học thuyết của mình, Mác, ănghen và Lênin thường xuyên lưu ý các Đảng Cộng sản cần phải vận dụng sáng tạo, bổ xung và phát triển học thuyết của các ông. Linh hồn sống của học thuyết Mác là phân tích tình hình cụ thể. Lênin khảng định, chúng ta không hề coi lý luận của Mác như một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại chúng ta tin rằng, lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống. Chúng tôi nghĩ rằng, những người xã hội chủ nghĩa ở Nga đặc biệt cần phải tự mình phát triển hơn nữa lý luận của Mác, vì lý luận này chỉ đề ra những nguyên lý chỉ đạo chung, còn việc áp dụng những nguyên lý ấy thì, xét riêng từng nơi. Như vậy, học thuyết Mác-Lênin là học thuyết mở, luôn luôn cần nạp thêm năng lượng ới từ thực tiễn cách mạng. Chính nhờ quá trình đó mà học thuyết Mác-Lênin ngày càng phát triển và sống mãi.

Là một người trung thành và kiên trì đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “Học tập chủ nghĩa Mác-Lênin là học cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối vói bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế nước ta”.

Như vậy, có sự nhất quán giữa các nhà sáng lập chủ nghĩa cộng sản khoa học và Hồ Chí Minh về sự vận dụng sáng tạo, bổ xung, phát triển học thuyết đó cho phù hợp với thực tiễn cách mạng của mỗi nước.

Trên cơ sở quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn cụ thể Việt Nam, Hồ Chí Minh đã có điều kiện làm phong phú học thuyết Mác-Lênin về Đảng công sản ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến. Chính vì vậy, trên bình diện lãnh tụ khai sáng, Hồ Chí Minh đã có những cống hiến sáng tạo vào quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sáng tạo thứ nhất: Hồ Chí Minh là người đầu tiên ở Việt Nam phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đảng cộng sản là đảng củagia cấp công nhân. ở các nước công nghiệp phát triển, công nhân chiếm số đông dân cư thì việc có Đảng cộng sản là dễ hiểu. Nhưng ở những nước vốn là thuộc địa nửa phong kiến như Việt Nam, nơi nông dân chiếm đại đa số trong dân cư thì đó là vấn đề khó được chấp nhận. Ngay ở ngước Nga- một nước có nền công nghiệp phát triển vào cỡ trung bình- mà nhận thức về vấn đề này cũng không đơn giản. Vì thế, để thành lập Đảng Bônsevích, Lênin đã phải đấu tranh chống phái “Dân tuý” để bảo vệ học thuyết Mác về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Để bảo vệ học thuyết Mác – Lênin, Hồ Chí Minh lức đó mang tên Nguyễn ái Quốc đã viết nhiều bài báo đề cập vai trò của giai cấp công nhân: “Phong trào công nhân Trung Quốc”, phong trào công nhân công nghiệp, công nhân nông nghiệp. Trong thời kỳ mà giai cấp tư sản dân tộc vấn có vai trò nhất định qua thắng lợi của cách mạng Thổ Nhĩ Kỳ. Nguyễn ái Quốc đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của giai cấp công nhân. Dù giai cấp tư sản dân tộc có vai trò nhất định trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đé quốc, nhưng luận điểm trên của Nguyễn ái Quốc vẫn giữ nguyên giá trị.

Tại Đại hội quốc tế nông dân (1923), Nguyễn ái Quốc đã lập luận một cách khoa học, rứt khoát rằng, nông dân là lực lượng cách mạng to lớn nhưng với chỉ lcj lượng của riêng mình nông dân không bao giờ chút bỏ đựơc gánh nặng đang đè nén họ.

Những kết luận của Hồ Chí Minh về vai trò của giai cáp công nhân Việt Nam là kết quả của một quá trình quan sát thực tế, nghiên cứu ở nhiều nước từ năm 1911 khi Người ra đi tìm đường cứ nước. Khi biết tin công nhân Chợ Lớn bãi công năm 1922, Nguyễn ái Quốc đã chỉ rõ: “khắp nơi giai cấp công nhân cũng bắt đầu giác ngộ về lực lượng và giá trị của mình… Đây là lần đầu tiên, một phong trào như thế nhóm lên ở thuộc địa..” và Người coi đó mới chỉ là “do bản năng tự vệ” của những công nhân không được giáo dục, tổ chức nhưng đã là “dấu hiệu … của thời đại”.

ở nước ta, sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp bằng chính sách khai thác thuộc địa đã làm xuất hiện một lực lượng xã hội mới- giai cấp công nhân – nhưng còn quá nhỏ bé. Đến năm 1930, số lượng công nhân Việt Nam mới chỉ khoảng 22 vạn người. Đây cũng là một trong nhiều nguyên nhân làm các nhà yêu nước đương thời không nhận thấy vai trò lịch sử của giai cấp công nhân đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Từ Phan Bội Châu đến Phan Chu Trinh đều không nhận thấy được vai tro của giai cấp công nhân nên vẫn hy vọng dựa vào bên ngoài hoặc tư sản Pháp để giành độc lập.

Phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân thế giới là công lao của Mác và ănghen. Qua những cuộc tranh luận lý luận về vấn đề nay, trong phong trào cách mạng và phong trào công nhân, từ sau khi Mác và ănghen mất, và xem xét vấn đề đó vào những điều kiện cụ thể của Việt Nam vào những năm 20 của thế kỷ XX mới thấy đầy đủ giá trị thực tiễn của Hồ Chí Minh đã cống hiến cho cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh đã khảng định: chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận tiên phong và kinh nghiệm của phong trào cộng sản quốc tế, giai cáp công nhân ta tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất của công nhân Việt Nam. Thừa nhân hay không thừa nhận sứ mênh lịch sử của giai cáp công nhân là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất để phan biệt người macxít-lêninnít chân chính với những kẻ cơ hội chủ nghĩa. Từ sau cách mạng tháng 10 Nga, đặc biệt là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên xô sụp đổ, các thế lực thù địch đã đẩy mạnh cuộc phản kích quyết liệt nhằm xoá bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin từ đó thủ tiêu vai trò lãnh đạo củ Đảng cộng sản. Một trong những vấn đề lý luận nền tảng của chủ nghĩa Mác-Lênin mà chúng tập trung bác bỏ, xuyên tạc là học thuyết Mác về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Về mặt lý luận, Hồ Chí Minh đã sớm khảng định được vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam và sớm sáng lập ra đảng tiên phong của giai cấp công nhân – Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ hai: Phát hiện được quy luật hình thành Đảng Cộng sản ở một nước nông nghiệp lạc hậu như Việc Nam là sự sáng tạo, bổ sung, phát triển lớn của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng học thuyết Mác-Lênin về sự ra đời của Đảng Cộng sản.

Ở các nước tư bản phát triển, như Lênin đã nói: Đảng cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Đó cũng là nguyên lý chung của học thuyết Mác-Lênin về đảng vô sản. Nhưng tình hình Việt Nam hoàn toàn khác với nước Nga và các nước châu âu. Làm thế nào để thành lập được đảng vô sản ở một nước mà nông dân chiém số đông như Việt Nam là vấn đề mới và khó. Lênin chỉ rõ: sự ra đời của các đảng vô sản có quy luật chung, nhưng đặc điểm của mỗi nước đòi hỏi phải có những con đường riêng biệt, tuỳ theo điều kiện không gian và thời gian.

Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển tư tưởng đó của Lênin như thế nào để tìm ra con đưòng riêng biệt của Việt Nam? Người đã nhận thức được những điều kiện lịch sử mới, đặc điểm mới của phong trào yêu nước Việt Nam. Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, giai cấp tư sản đã phản bội lại lợi ích dân tộc. Giai cấp công nhân – giai câp tiền phong trở thành người đại biểu quyền lợi của cả giai cấp và dân tộc. Phong trào dân tộc trở thành một bộ phận của các mạng vô sản thế giới sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười ga. Những điều kiện lịch sử mới đó đã hướng những người yêu nước Việt Nam theo chủ nghiã xã hội, gắn liền mục tiêu độc lập dân tộc với mục tiêu chủ nghĩa xã hội, để tếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin và trở thành những người cộng sản. Trước sự chuyển biến quan trọng của phong trào yêu nước, Hồ Chí Minh không chờ cho giai cấp công nhân Việt Nam phát triển đến một số lượng và một tỉ lệ nhất định mới hình thành Đảng cộng sản. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chỉ rõ: nhược diểm của giai cấp công nhân về số lượng được bổ sung bằng các tầng lớp vô sản và dân nghèo, tiểu tư sản trí thức yêu nước khi họ tiếp thu được chủ nghĩa Mác-Lênin và tự nguyện chiến đấu chiến đấu cho lợi ích của công nhân và dân tộc. Những người không phải xuất thân từ giai cấp vô sản nhưng khi đã tiếp thu được thế giới quan Mác-Lênin, được rèn luyện trong phong trào cách mạng đều trở thành nhẽng người cộng sản ưu tú.

ở một nước thuộc địa nửa phong kiến như Việt Nam không thể có phong trào thuần tuý vô sản. Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và cả phong trào yêu nước để đưa phong trào yêu nước theo hướng xã hội chủ nghĩa. Phong trào yêu nướctheo hướng mới đó ngay từ đầu đã có sự chuyển biến về chất, gắn liền hai mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Hồ chí minh thực hiện truyền bá chủ nghã Mác-Lênin và con đường cứu nước của mình bằng nhiều hình thức: sách báo, truyền đơn, các cuộc tiếp xúc… Người cũng sử dụng nhiều hình thức tổ chức quá độ như: “Hội liên hiệp thuộc địa” ở Pháp, “Thế giới bị áp bức dân tộc liên hiệp hội” ở Trung Quốc, “Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên” để từng bước tập hợp, giáo dục thanh niên yêu nướchướng họ đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga.

Trong điều kiện của Việt Nam những năm 1925-1930, việc tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên như một tổ chức tiền thân của Đảng, là một sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh về tổ chức. Đây là tổ chức thu hút những người yêu nước trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Hội có vai trò quyết định trong việc đưa những người yêu nước Việt Nam đi từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai và trở thành đảng viên cộng sản. Hội được tổ chức chặt chẽ, có hệ thống từ trung ương đến cơ sở và trên thực tế Hội đã làm nhiệm vụ chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam.

Đảng ta ra đời ngày 2-9-1930 là kết quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Tổng kết kinh nghiệm 30 năm xây dựng Đảng, Hồ Chí Minh viết: “Chủ nghĩa Mác-lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn đến việc thành lập Đảng cộng sản Đông Dương vào năm 1930”.

 

Thứ ba: ngay từ những ngày đầu vừa thành lập, Nguyễn ái Quốc đã dầy công xây dựng, rèn luyện, giáo dục Đảng ta thành một Đảng Mác-Lênin trong sạch, cách mạng triệt để.

Để xứng đáng là một Đảng Mác-Lênin, đội tiên phong của giai cấp vô sản, lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đã yêu cầu Đảng phải “giữ chủ nghĩa cho đúng”, đó chính là thực chất của vấn đề giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Đối với những Đảng ở những nước chậm phát triển, giai cấp công nhân còn nhỏ bé thì đa số đảng viên xuất thân từ những thành phần xã hội ngoài giai cấp công nhân, đó là điều dễ hiểu. Những yếu tố quyết định bản chất giai cấp công nhân của Đảng là hệ tư tưởng, là chủ nghĩa Mác-Lênin. Ngay từ những bài giảng ở Quảng Châu, Nguyễn ái Quốc đã chỉ rõ: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cuãng phải hiểu, ai cũng phải làm theo chủ nghĩa ấy”. Va Người nhấn mạnh: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Mác-Lênin”.

Do ý thức được nguồn gốc xuất thân của đảng viên ta khác nhau nên Người luôn luôn coi trọng công tác giáo dục, rèn luyện đảng viên, bồi dưỡng lý luận Mác-Lênin, nâng cao giác ngộ giai cấp cho họ, đưa từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, kết hợp nhuần nhuyễn ý thức dân tộc với ý thức giai cấp.

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Đề tài Đại học và được gắn thẻ , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s