Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương


MỞ ĐẦU

        1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Thực hiện Nghị Quyết 40/2000/QH10 ngày 9/12/2000 của Quốc hội khoá X; Chỉ thị 14/2001/CT-TTg ngày 11/6/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có thông tư số 14/2002 về việc Hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 14 của Thủ tướng Chính phủ nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông: “Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, SGK phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ CNH, HĐH đất nước, phù hợp với truyền thống và thực tiễn Việt Nam”, “Việc đổi mới chương trình, SGK, phương pháp dạy và học phải được thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học, tổ chức đánh giá tiêu chuẩn hoá trường sở, đào tạo bồi dưỡng giáo viên, công tác quản lý giáo dục…” [00;Tr00]

Thiết bị dạy học là một trong những thành tố của quá trình dạy học; hỗ trợ đắc lực cho việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông. Thời gian qua, công tác nghiên cứu mẫu, sản xuất, cung ứng thiết bị giáo dục đã đạt được những thành tựu nhất định góp phần quan trọng cho sự nghiệp đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới phương pháp dạy học nói riêng. Tuy nhiên, vẫn còn những khó khăn, bất cập cần khắc phục từ khâu nghiên cứu, tổ chức sản xuất, cung ứng đến việc tổ chức quản lý và sử dụng có hiệu quả thiết bị dạy học được trang bị.

Thiết bị dạy học là các phương tiện vật chất giúp cho giáo viên và học sinh tổ chức hợp lý, có hiệu quả quá trình giáo dục, giáo dưỡng đối với các môn học trong nhà trường nhằm thực hiện chương trình môn học. Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học, thiết bị dạy học là một trong những điều kiện cơ bản không thể thiếu của giáo viên, học sinh thực hiện mục tiêu dạy học. Hơn nữa, thiết bị dạy học tạo điều kiện trực tiếp cho học sinh huy động mọi năng lực nhận thức, tiếp cận thực tiễn, nâng cao khả năng tự học, rèn luyện kỹ năng học tập và thực hành. Thiết bị dạy học là vật chất hữu hình tưởng như là vô chi, vô giác nhưng dưới sự điều khiển của giáo viên, thiết bị dạy học thể hiện khả năng sư phạm của nó: Làm tăng tốc độ truyền thông tin, tạo ra sự lôi cuốn, hấp dẫn, làm cho giờ học sinh động, hiệu quả hơn. Tuy nhiên nếu quản lý và sử dụng thiết bị dạy học không tốt thì không những không đem lại hiệu quả giáo dục mà còn làm ảnh hưởng không tốt đến kết quả, đôi khi làm giảm uy tín của thầy giáo, cũng như làm cho học sinh không tin tưởng vào kết quả khoa học, kiến thức của bài giảng.

Từ năm học 2002-2003 các trường TH, THCS đã được trang bị thiết bị dạy học theo danh mục thiết bị dạy học tối thiểu do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. Qua theo dõi hoạt động của công tác thiết bị nhiều năm chúng tôi thấy việc quản lý và sử dụng thiết bị dạy học còn nhiều mặt hạn chế, chưa phát huy được hiệu quả của nó, đặc biệt là ở cấp THCS. Cụ thể như sau:

– Việc cung ứng thiết bị dạy học các đợt thay sách quá gấp gáp nên chất lượng thiết bị dạy học chưa tốt.

– Hầu hết các trường THCS đều chưa có cán bộ thiết bị chuyên trách nên việc quản lý thiết bị còn gặp nhiều khó khăn. Mặt khác do cơ sở vật chất các trường còn thiếu nên diện tích các kho chứa thiết bị dạy học còn chật hẹp, chất lượng không cao dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý, bảo quản, sử dụng.

– Nhiều trường còn chưa quan tâm nhiều đến công tác quản lý và sử dụng thiết bị nên kết quả của công tác này chưa cao. Việc thiếu kiểm tra, đôn đốc dẫn đến việc ngại sử dụng thiết bị dạy học trong nhà trường.

– Một bộ phận giáo viên chưa được đào tạo bài bản, còn có giáo viên dạy chéo môn do cơ cấu giáo viên ở một số trường chưa phù hợp (đặc biệt là các trường ít lớp); Việc tự học hoặc tham gia các lớp tập huấn, hội thảo còn hạn chế. Do thiết bị còn chưa đồng bộ, sai hỏng, bổ sung chưa thật kịp thời nên một số giáo viên còn ngại sử dụng thiết bị dạy học.

– Hầu hết các trường THCS trong huyện đều thiếu phòng học bộ môn đạt chuẩn, kho chứa thiết bị hẹp, chưa có kho chứa hoá chất riêng biệt; Thiết bị hư hao không được bổ sung kịp thời.

Vì thế, cần phải có các biện pháp hữu hiệu hơn nữa trong việc quản lý và sử dụng thiết bị dạy học trong các trường THCS để nâng cao chất lượng giáo dục. Vì vậy chúng tôi chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương”

          2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị dạy học trong các trường THCS từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học của cấp học này.

           3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

          3.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

          3.2 Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

          4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:

Nếu đề ra và áp dụng được các giải pháp có cơ sở khoa học và có tính khả thi cao thì có thể nâng cao được hiệu quả quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

5. NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

          5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:

– Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS.

– Nghiên cứu thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Gia Lộc, Hải Dương.

– Đề xuất các giải pháp hợp lý, toàn diện và có tính khả thi cao nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Gia Lộc, Hải Dương.

          5.2 Phạm vi nghiên cứu: 24 trường THCS huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

          6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

          Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

          6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận:

          – Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu: Tra cứu các quyết định, các thông tư, các văn bản hướng dẫn về công tác thiết bị trường học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Dương.

          – Phương pháp khái quát hoá các nhận định độc lập.

          6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

          – Phương pháp quan sát.

          – Phương pháp điều tra:

                   + Phương pháp phỏng vấn.

                   + Phương pháp dùng phiếu điều tra.

          – Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục.

          – Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động.

          – Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.

          6.3 Phương pháp thống kê toán học:

          – Phương pháp trung bình cộng.

          – Phương sai, độ lệch chuẩn.

          – Phép thử student.

          7. NHỮNG ĐÓNG GÓP CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI:

          7.1 Hệ thống cơ sở lý luận về công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương và từ đó có cách nhìn tổng quan hơn về vần đề này.

          7.2 Đánh giá được thực trạng của công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

          7.3 Đề ra được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

          7.4 Vận dụng các giải pháp vào thực tiễn.

          8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN:

          Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục nghiên cứu luận văn gồm có 3 chương:

          Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.

          Chương 2: Thực trạng về công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

          Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

          – Quyết định 41/2000/QĐ-BGDĐT ngày 07/9/2000 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế Thiết bị giáo dục trong trường mầm non, phổ thông;

          – Thông tư số 14/2002/TT-BGDĐT ngày 01/4/2002 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 14 của Thủ tướng chính phủ nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông;

          – Điều lệ trường Trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành kèm theo Quyết định số 07/2007/QĐ-BGD ĐT ngày 02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo);

          – Thông tư số 19/2009/TT-BGDĐT ngày 11/8/2009 của Bộ Giáo dịc và Đào tạo về việc Ban hành Danh mục thiết bị dạy học tối thiểu cấp THCS;

          – Luật giáo dục năm 2005;

          – Nghị quyết 40/2000/QH10 ngày 9/12/2000 của Quốc hội khoá X;

          – Chỉ thị 14/2001/CT-TTg ngày 11/6/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc Đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông;

          – Các văn bản hướng dẫn về công tác quản lý và sử dụng thiết bị dạy học của Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Dương.

          – C.Mac-F.AWnghen – toàn tập, tập 23, NXB chính trị quốc gia-HN 1993;

          – Jose Garcia-Nunez (1993): Cẩm nang chi tiết soạn cho các nhà quản lý và đánh giá, tập 2;

          – Từ điển tiếng Việt-Trung tâm từ điển học-HN-2000;

          – Đặng Quốc Bảo (1997): Một số khái niệm về QLGD, Trường CBQLGD-ĐT Hà Nội;

          – Bộ GD-ĐT, Trường Cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo. Quản lý giáo dục – Thành tựu và xu hướng;

          – Phạm Thành Nghị (2000): Quản lý chất lượng giáo dục Đại học, NXB ĐHQG Hà Nội;

          – Quy chế thiết bị giáo dục trong trường mầm non, trường phổ thông (Ban hành kèm theo Quyết định số 41/2000/QĐ-BGDĐT ngày 07/9/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo);

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

          1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

          Qua tìm hiểu thực tế về các đề tài nghiên cứu khoa học trong và ngoài tỉnh tôi thấy chưa có đề tài nào viết về lĩnh vực này.

          1.2 Một số khái niệm cơ bản:

                    1.2.1 Quản lý:

Trong quá trình lao động, cải tạo thiên nhiên để sinh tồn và phát triển , con người phải kết hợp lại với nhau thành những nhóm (tổ chức) để cùng thực hiện mục tiêu của nhóm hay tổ chức. Vì thế phải có người đứng đầu (thủ lĩnh) đứng ra phối hợp hoạt động của các cá nhân, điều hành, phân công lao động cho từng thành viên. Cổ nhân xưa có câu: “Tam nhân đồng hành tắc vi sư”. Tức là cứ 3 người cùng đi, tất sẽ có một người thày biết cách tổ chức, phối hợp sức mạnh của mọi người trong nhóm và mọi người  trong nhóm phải phục tùng và tuân theo mệnh lệnh người đứng đầu, từ đó quản lý ra đời cùng sự xuất hiện của nhà nước.

Quản lý là một dạng lao động xã hội, gắn liền và phát triển cùng với sự phát triển của con người. Quản lý là lao động đặc biệt, điều khiển các hoạt động lao động, nó có tính khoa học và nghệ thuật cao nhưng đồng thời cũng là sản phẩm mang tính lịch sử, tính đặc thù. Khi đề cập cơ sở khoa học của quản lý C.Mác viết: “Bất cứ lao động nào có tính xã hội, cộng đồng được thực hiện ở quy mô nhất định đều cần ở một chừng mực nhất định. Sự quản lý giống như người chơi vĩ cầm một mình thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [C.Mac-F.AWnghen – toàn tập, tập 23, NXB chính trị quốc gia-HN 1993, tr157]. Có thể nêu lên một số khái niệm quản lý như sau:

– Các nhà lý luận quản lý quốc tế: Fredevinh Wiliam Duylor (1886-1915) của Mỹ; Henri Fayol (1841-1925) của Pháp; Max Weber (1864-1920) của Đức đều đã khẳng định: Quản lý là một khoa học và đồng thời là một nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

– F. Taylor: Quản lý là biết được một cách chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó biết họ làm (hoàn thành) có tốt không, có rẻ không.

– Theo Kozlova O.V và Kuznetsov I.N: Quản lý là sự tác động có mục đích đến những tập thể con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình sản xuất [Jose Garcia-Nunez (1993): Cẩm nang chi tiết soạn cho các nhà quản lý và đánh giá, tập 2, Tr30].

Ở nước ta cũng đưa ra một số khái niệm quản lý như sau:

– Từ “quản lý” là sự tích hợp giữa quản và lý.

+ Quản là làm cho hệ thống ta quản được chăm sóc, quan tâm, giữ gìn. Để đưa đến sự ổn định, nề nếp, kỷ cương.

+ Lý là sự sắp xếp, bố trí phù hợp quy luật đưa đến sự dịch chuyển (phát triển). Nếu quá nghiêng về quản sẽ dẫn đến cứng nhắc, khó phát triển. Nếu quá nghiêng về lý sẽ dẫn đến thoáng quá, sẽ không ổn định. Cho nên phải cân bằng giữa quản và lý mới dẫn đến sự ổn định và phát triển.

– Theo từ điển tiếng Việt:

+ Quản lý là tổ chức, điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định [Từ điển tiếng Việt-Trung tâm từ điển học-HN-2000, Tr801].

– Nguyễn Văn Lê – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh: Quản lý là một hệ thống xã hội mang tính khoa học và nghệ thuật, tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu đã đề ra.

– Theo Giáo sư Đặng Vũ Hoạt và Giáo sư Hà Thế Ngữ: Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định [Đặng Quốc Bảo (1997): Một số khái niệm về QLGD, Trường CBQLGD-ĐT Hà Nội, Tr37]

– Theo Giáo sư Trần Kiểm: Quản lý nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội [Bộ GD-ĐT, Trường Cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo. Quản lý giáo dục – Thành tựu và xu hướng, Tr45]

Từ các khái niệm trên, ta có thể có nhiều cách hiểu:

+ Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của nhứng người cộng sự khác nhau cùng chung một tổ chức.

+ Quản lý là những tác động có mục đích lên những tập thể người, thành tố cơ bản của hệ thống xã hội.

+ Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội.

Quản lý ngày nay được coi là một trong năm nhân tố phát triển kinh tế – xã hội: Bao gồm Vốn, nguồn nhân lực, khoa học kỹ thuật, tài nguyên và quản lý. Trong đó quản lý có vai trò mang tính quyết định sự thành công.

Tóm lại: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan.

* Chức năng của quản lý:

Từ những quan niệm chung về quản lý, chúng ta thấy quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó, khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định thì quản lý được tách ra thành một chức năng riêng của lao động xã hội, từ đó xuất hiện những bộ phận người, những tổ chức và cơ quan chuyên hoạt động quản lý đó là những chủ thể quản lý, số còn lại là đối tượng quản lý hay còn gọi là khách thể quản lý.

Cho đến nay đa số các nhà quản lý đều cho rằng quản lý có 4 chức năng cơ bản, bốn chức năng này có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình quản lý như sơ đồ sau:

          Sơ đồ: Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý:

  1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục, quản lý nhà trường:

Trên nền tảng của Khoa học quản lý đại cương nói chung, ngày nay đã xuất hiện nhiều chuyên ngành khoa học quản lý khác nhau, trong đó có khoa học về quản lý giáo dục. Các ngành khoa học này có quan hệ mật thiết với nhau, đảm bảo thực hiện mục tiêu chung đó là phát triển nền kinh tế xã hội. Do đó có những cách nhìn nhận về quản lý giáo dục ở những góc độ khác nhau. Ở đây chỉ đề cập đến khái niệm quản lý giáo dục như là một hệ thống mà hạt nhân của hệ thống đó là các cơ sở Giáo dục và Đào tạo (chủ yếu là hệ thống các trường học)

* Các khái niệm của các tác giả nước ngoài:

– Theo P.V. Khuđôminxky: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (Từ Bộ GD-ĐT đến trường học) nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật khách quan của quá trình dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm lý trẻ em [Đặng Quốc Bảo (1997): Một số khái niệm về QLGD, Trường CBQLGD-ĐT Hà Nội, Tr50]

– Theo M.M Mechiti Zade: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính, cung tiêu…) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cúng như chất lượng [Đặng Quốc Bảo (1997): Một số khái niệm….,Tr52]

* Các nhà khoa học Việt Nam đã định nghĩa về QLGD như sau:

– Theo GS.VS. Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường (QLGD nói chung) là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục-đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh.

– Theo Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp với quy luật của chủ thể quản lý nhằm tạo cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, được các tổ chức của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đạt mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất.

Theo PGS.TS. Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội”.

Tóm lại: QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng tới đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý mà chủ yếu nhất là quá trình dạy học và giáo dục ở các trường học.

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Dịch vụ viết luận văn và được gắn thẻ , , , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s