Một số giải pháp nhằn mở rộng thị trường xuất khẩu và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty Rau quả Việt Nam


LỜI NÓI ĐẦU

          Từ thuở sơ khai của lịch sử loài người, nguồn thực phẩm chính nuôi sống loài người đã được khai thác dưới hình thức là hái lượm, đó chính là nguồn rau quả tự nhiên cùng với tiến trình phát triển của xã hội loài người những nguồn rau quả mới được phát hiện khai thác và sử dụng ngày càng nhiều. Đặc biệt là từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 khi mà nhà sinh vật học Međen đưa ra những định luật về di truyền học thì ngày càng nhiều những loại ra quả mới được ra đời cùng với sự phong phú đa dạng về chủng loại thì năng suất của chúng cũng ngày càng được nâng cao mang lại cho loài người một lượng dồi dào về lương thực, thực phẩm. Ngày nay khi mà lịch sử loài người đã bước vào thập niên thứ 3 với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và thế kỷ 21 được coi là thế kỷ của sinh học thì chắc rằng ngày càng nhiều những loài mới được tạo ra, và lĩnh vực rau quả, thực vật là lĩnh vực sẽ có nhiều biến đổi lớn lao nhất và sẽ có những loại rau quả với năng suất và chất lượng cao lần lượt xuất hiện để đáp ứng được nhu cầu của con người ngày càng lớn và ngày càng phong phú và đa dạng,

          Nước ta là một nước khí hậu nhiệt đới gió mùa, một điều kiện khí hậu thuận lợi cho sự phát triển phong phú đa dạng của nhiều lời thực vật, đặc biệt là những loài ra quả nhiệt đới. Ngay từ ngày xưa ông cha ta đã khai thác chúng và sử dụng như một nguồn thự phẩm và là những vị thuốc hữu dụng để chữa trị các chứng bệnh, nhiều loại rau quả đã trở thành những đặc sản độc đáo của đất Việt.

          Cũng như bao vật phẩm khác, mặt hàng rau quả đã trở thành một mặt hàng thực phẩm thiết yếu không chỉ phục vụ cho nhu cầu nội bộ mà nó còn có nhu cầu vươn rộng ra không chi thị trường trong nmước mà cả thị trường nước ngoài.

          Nước ta đang trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng một nền kinh tế mở, xây dựng khu vực thành một ngành kinh tế hiện đại, ngoại thương trở thành một nhân tố thúc đẩy sự phát triển của ngành nông nghiệp và trở thành bộ phận của nhân tố này. Thực tế cho thấy, các mặt mặt hàng và các sản phẩm chế biến từ rau quả nói riêng và các sản phẩm nông nghiệp nói chung đối với các nước đang phát triển là những mặt hàng xuất khẩu mang tính chiến lược thu ngoại tệ cho đất nước. Hoạt động xuất khẩu hàng hoá nói chung cũng như hoạt động xuất khẩu mặt hàng rau quả nói riêng phức tạp hơn rất nhiều so với việc bán sản phẩm trên thị trường nội địa nhất là khi có nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cùng một loại hàng hoá sẽ dẫn đến tình trạng cạnh tranh về tiêu thụ sản phẩm trên thị trường (nội) thế giới.

          Để có thể tồn tại và phát triển bất kỳ một doanh nghiệp kinh doanh quốc tế nào cũng đều phải có những biện pháp nhằm duy trì và phát triển thị trường xuất khẩu của mình. Đó là yêu cầu tất yếu và cơ bản nhất của kinh doanh hiện đại. Song để có được một chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, doanh nghiệp cần phải dựa vào tiềm lực của chính bản thân mình, xu hướng vận động của xã hội mà đưa ra những biện pháp hữu hiệu nhằm phát triển thị trường xuất khẩu. Đây chính là vấn đề mà Tổng công ty Rau quả Việt Nam dành nhiều mối quan tâm nhất trong chiến lược phát triển của Tổng Công ty. Tìm ra những thị trường mới và xâm nhập củng cố và duy trì những thị trường truyền thống.

          Xuất phát từ tình hình thực tế trên, sau những năm trau dồi kiến thức và lý luận trong trường Đại học kinh tế quốc dân, qua thời gian thực tập tại Tổng công ty Rau quả Việt Nam, được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo, các cán bộ công nhân viên của Tổng công ty, đặc biệt là dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Trần Chí Thành, chú trưởng phòng xúc tiến thương mại, em đã chọn vấn đề: “Mt s gii pháp nhn m rng th trường xut khu và thúc đẩy hot động xut khu ca Tng công ty Rau qu Vit Nam“.

          Bằng phương pháp duy vận biện chứng, chuyên đề nhằm đánh giá khái quát những vấn đề thị trường xuất khẩu, xác định phương hướng mục tiêu trong thời gian tới, đồng thời kiến nghị những biện pháp, chính sách nhằm phát triển thị trường xuất khẩu hàng rau quả của Tổng công ty trong những năm tới.

          Kết cấu của chuyên đề, ngoài phần mở đầu, kết luận thì luận văn chia làm 3 phần:

Phn I:  Lý lun chung v th trường và phát trin th trường ca các doanh nghip kinh doanh quc tế.

Phn II:  Phân tích thc trng th trường và phát trin th trường xut khu rau qu ca Tng công ty rau qu Vit Nam.

Phn III: Mt s bin pháp và kiến ngh nhm phát trin th trường xut khu rau qu ca Tng công ty rau qu Vit Nam.

Sau đây là phần nội dung chi tiết.

PHẦN I

CỞ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ VIỆC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH QUỐC TẾ

I.    THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG ĐỐI CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH QUỐC TẾ.

1. Khái niệm về thị trường.

          Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá, phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc. Ban đầu lưu thông tác ra khỏi sản xuất và trở thành một khâu trong quá trình tái sản xuất xã hội. Tiếp đó trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá xuất hiện hai thái cực mua và bán hàng hoá bằng ngoại tệ. Đây là giai đoạn phát triển nhất của các hình thức trao đổi hàng hoá cho tới nay. Hình thức khai thác này bao gồm toàn bộ giữa bên mua và bên bán diễn ra trong không gian và thời gian nhất định, tuân theo những quy định nhất định của bên mua và bên bán. Hình thức này là cơ sở dẫn đến khái niệm thị trường.

          Thị trường là một yếu tố quan trọng quyết định đến sự sống còn của quá trình sản xuất lưu thông hàng hoá. Vì vậy, khái niệm thị trường đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu kinh tế quan tâm và trên mỗi giác khác nhau thì họ đưa ra những định nghĩa khác nhau.

          Theo quan điểm kinh tế học: “thị trường là tổng thể cung cầu đối với một loại hàng hoá nhất định trong không gian và thời gian cụ thể”.

          Định nghĩa này chủ yếu được dùng trong điều tiết vĩ mô thị trường và mang tính lý thuyết nhiều hơn.

          Đối với một nhà quản lý doanh nghiệp khái niệm thị trường phải được gắn với các tác nhân kinh tế tham gia vào thị trường như người mua, người bán, người phân phối thì: “Thị trường của doanh nghiệp là tập hợp những kachs hàng tiềm năng của doanh nghiệp đó, tức là những khách hàng là người mua hoặc có thể mua sản phẩm của doanh nghiệp đó”…

          Song nhìn chung khái niệm về thị trường là được hiểu theo nghĩa chung phù hợp với mỗi giai đoạn của sự phát triển hàng hoá.

          Từ khi sản xuất hàng hoá vẫn còn ở giai đoạn sơ khai thì thị trường được hiểu theo khái niệm cổ điển “đó là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi hàng hoá”. Định này cho ta một cách nhìn đơn giản nhất để phân biệt thị trường.

          Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, sản xuất hàng hoá cũng ngày càng phát triển các mối quan hệ trao đổi buôn bán ngày càng nhiều làm cho quá trình lưu thông hàng hoá trở nên phức tạp, không đơn giản chỉ là “tiền trao – cháo múc” như trước đây mà nó ngày càng đa dạng nhiều kiểu hình khác nhau. Và khái niệm về thị trường theo nghĩa cổ điển không còn phù hợp và không bao quát được nội dung mới xuất hiện của thị trường. Và khái niệm thị trường theo quan điểm hiện đại sẽ giải quyết được những nội dung này: “Thị trường là quá trình người mua và người bán tác động lẫn nhau để định giá cả và số lượng của hàng hoá được mua”.

          Trong lĩnh vực xuất khẩu quá trình mua bán trao đổi hàng hoá dịch vụ được diễn ra không phải trên nội bộ lãnh thổ của một quốc gia mà diễn ra trên những quốc gia khác nhau vì vậy đồng thiền để thanh toán phải là ngoại tệ đối với ít nhất một quốc gia và thị trường là thị trường ngoài nước. Đây là thị trường nơi diễn ra các hoạt động mua bán vượt ra khỏi lãnh thổ quốc gia. Ngày nayvấn đề phát triển thị trường xuất khẩu, hội nhập vào sự phát triển chung của thế giới là vấn đề đặt ra hàng đầu đối với mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp. Đó là điều kiện sống còn để phát triển và tồn tại của mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp.

2. Phân loại thị trường xuất khẩu.

          Để dễ dàng cho việc nghiên cứu và thấy được các tính chất đăch trưng và quy luật vận động của từng loại thị trường, góp phần thành công trong quá trình tìm kiếm giải pháp phát triển thị trường của doanh nghiệp chúng ta cần phải phân loại thị trường.

          Phân loại thị trường là việc chia thị trường theo các góc độ khách quan khác nhau. Dưới mỗi một góc độ thì mỗi loại thị trường phả ánh một mặt của góc độ đó.

a. Căn cứ vào lượng người mua bán tham gia thị trường có:

          Thị trường độc quyền: Là loại thị trường mà ở đó chỉ có duy nhất một hãng sản xuất, kinh doanh nên sản phẩm hàng hoá đó là duy nhất. Từ đó họ kiểm soát được gián bán, nắm chắc được quy luật cung cầu. Ngoài thị trường độc quyền bán còn có thị trường độc quyền mua. Thị trường độc quyền mua là thị trường mà ở đó chỉ có duy nhất một khách hàng có nhu cầu với sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đó và họ cũng kiểm soát các mỗi quan hệ kinh tế.

          Thị trường cạnh tranh hoàn hảo: Là thị trường ở đó có nhiều người mua và bán tham gia. Những người này không ai có đủ ưu thế để cung ứng một sản phẩm đủ sức chi phối giá cả trên thị trường. Về người mua cũng không ai cỏ thể đủ khả năng để mua một số lượng sản phẩm lớn đủ để gây những biến động giá cả.

          Thị trường độc quyền cạnh tranh: Là thị trường mà ở đó vừa có trạng thái độc quyền, vừa có trạng thái cạnh tranh.

          Trong trường hợp này bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng có thể là độc quyền hoặc là người cạnh tranh trong cùng một loại sản phẩm nhưng về mặt chất lượng và số lượng có khác chút ít.

b. Căn cứ trên giác độ nhu cầu hàng hoá xuất khẩu có:

          Thị trường hàng hoá: Là thị trường có đối tượng trao đổi hàng hoá với mục tiêu nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng về vật chất.

          Thị trường dịch vụ: Là nơi cung cấp sản phẩm dịch vụ. Thị trường này sử dụng kênh phân phối trực tiếp không qua trung gian.

c. Căn cứ vào mức độ hạn chế xuất khẩu có:

          Thị trường có hạn ngạch.

          Thị trường không có hạn ngạch.

          Hạn ngạch: là quy định của chính phủ về số lượng, chất lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, giá trị. Việc quy định này được Thủ tướng chính phủ phê duyệt hàng năm. mục đích của việc này là đảm bảo những cân đối lớn của nền kinh tế quốc dân, bảo hộ các ngành sản xuất trong nước. Cho đến nay Việt Nam chỉ áp dụng hạn ngạch đối với hai loại thị trường hàng hoá là hàng dệt may, gạo xuất khẩu vào thị trường EU và Canađa, theo hiệp định song phương.

d. Căn cứ đặc điểm sản xuất hàng xuất khẩu có:

          Thị trường xuất khẩu gia công: là thị trường có sự tham gia của hai chủ thể: bên gia công và bên nhận gia công. Bên đặt gia công giao toàn bộ hoặc một phần nguyên liệu cùng các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật… cho bên nhận gia công, bên nhận gia công tiến hành sản xuất và giao thành phẩm cho bên đặt gia công và nhận phí gia công từ bên đặt gia công. Đây là một hình thức liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp có quy mô, trình độ kỹ thuật và công nghệ khác nhau, phân bổ các địa bàn khác nhau, quốc gia khác nhau. Qua đó cùng nhau tạo ra thị trường chung phân định hai mức sản lượng cho từng thành viên, giá cả từng loại sản phẩm để bảo vệ lợi ích kinh tế của nhau, tạo ra cho nhau có khoản thu nhập cao nhất.

          Thị trường xuất khẩu sản phẩm sản xuất: là nơi tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá được sản xuất bởi các doanh nghiệp.

e. Căn cứ vào nguồn gốc xuất khẩu.

          Thị trường xuất khẩu trực tiếp: là thị trường mà ở đó các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp tham gia xuất khẩu và thị trường không phải qua các khâu trung gian. Ở thị trường này các doanh nghiệp tự nghiên cứu thị trường, tìm kiếm khách hàng, thoả thuận giao dịch… ký kết hợp đồng ròi tự khai thác nguồn hàng, sản xuất, giá cả, chế biến,… và thực hiện hợp đồng, doanh nghiệp chịu trách nhiệm đảm bảo hợp đồng bằng tài sản của mình. Hiện nay xu hướng xuất nhập khẩu trực tiếp ngày càng được mở rộng.

          Thị trường xuất khẩu gián tiếp: là thị trường mà tại đó các doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải thông qua khâu trung gia xuất nhập khẩu. Các doanh nghiệp này vì lý do chủ quan không thể tham gia xuất nhập khẩu trực tiếp, do vậy phải uỷ quyền cho doanh nghiệp trung gian thường là những doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất nhập khẩu làm dịch vụ xuất khẩu hàng hoá cho mình và phải trả một khoản thù lao gọi là phí uỷ thác.

f. Căn cứ vào chủ thể nhập khẩu gồm có:

          Thị trường theo các nước.

          Thị trường một khu vực.

          Việc phân chia thị trường theo nước hoặc khu vực căn cứ vào điều kiện địa lý, mức thu nhập, trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, nhu cầu và thị hiếu của người dân…

          Do đó hình thành nên thị trường Mỹ, Pháp, Đông Nam á, Đông Âu, Nhật… Từ sự phân chia này mà các chủ thể xuất khẩu có những chính sách xuất khẩu và biện pháp phát triển thị trường thích hợp.

g. Căn cứ vào quy định của nhà nước gồm có:

          Thị trường chính ngạch: là thị trường có các sản phẩm xuất khẩu mà việc mua bán trao đổi được thực hiện giữa hai hay nhiều quốc gia hoặc giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thông qua các hợp đồng mua bán ngoại thương, và việc thanh toán diễn ra thông qua các ngân hàng đại diện.

          Thị trường tiểu ngạch: là thị trường mà ở đoa việc mua bán là trực tiếp có thể không qua ký kết hợp đồng theo đúng quy tắc. Tức thị trường có các quy định của nhà nước hạn chế về số lượng mặt hàng xuất nhập khẩu, loại hình doanh nghiệp này thường đợc thực hiện giữa các quốc gia có chung đường biên giới. Như vậy, thực chất của việc mua bán trong thị trường tiểu ngạch là mua bán trao tay, thanh toán trực tiếp không cần qua các ngân hàng.

3. Chức năng của thị trường.

          Chức năng của thị trường là những tác động khách quan vốn có bắt nguồn từ bản chất của thị trường tới quá trình tái sản xuất và tới đời sống kinh tế xã hội. Trong quá trình vận động sản phẩm xã hội từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng, thị trường đã thực hiện các chức năng quan trọng sau:

          a. Chức năng thừa nhận.

          Trong nền kinh tế thị trường hầu hết các sản phẩm hàng hoá dịch vụ sản xuất ra đều được đem trao đổi buôn bán trên thị trường. Việc hàng hoá bán ra được là nhờ chức năng thừa nhận của thị trường. Thị trường thừa nhận chính là người mua chấp nhận mua hàng và do đó hàng hoá bán được và như vậy có thể nói về cơ bản quá trình tái sản xuất xã hội của hàng hoá đã hoàn thành. Do đó, thị trường là là nơi để doanh nghiệp thể hiện khả năng cạnh tranh của mình và qua sự cạnh tranh đó doanh nghiệp thấy rõ mình có thể đứng vững hay thất bại. Và cũng nhìn vào đó doanh nghiệp sẽ quyết định được loại hàng hoá mà mình sẽ kinh doanh. Nói cho cùng đây cũng là thể hiện chức năng thừa nhận của thị trường thông qua tác động của doanh nghiệp.

          b. Chức năng thực hiện.

          Thị trường chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán hàng hoá và dịch vụ. Nói một cách khác, thị trường thực hiện hành vi trao đổi hàng hoá, thực hiện cân bằng cung càu của từng hàng hoá, thực hiện giá trị hàng hoá thông qua giá cả, thực hiện việc trao đổi thông qua giá trị. Người bán cần giá trị hàng hoá, người mua cần giá trị sử dụng của hàng hoá. Nhưng trình tự thì sự thực hiện về giá trị chỉ xảy ra khi nào thực hiện được giá trị sử dụng, bởi vì hàng hoá hoặc dịch vụ nào dù là được tạo ra với chi phí thấp nhưng không phù hợp với nhu cầu thị trường và xã hội thì cũng không thể tiêu thụ hoặc bán được. Như vậy, thông qua chức năng thực hiện của thị trường, các hàng hoá và dịch vụ hình thành nên các giá trị trao đổi của mình để làm cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực.

          c. Chức năng điều tiết.

          Nhu cầu thị trường là mục tiêu của quá trình sản xuất. Thị trường là tập hợp các hoạt động của quy luẩ kinh tế của thị trường. Nói cách khác, thị trường có chức điều tiết khích thích sản xuất xã hội, chức năng này của thị trường được thể hiện ở chỗ:

          Thông qua nhu cầu thị trường các doanh nghiệp, các nhà sản xuất bằng nghệ thuật của mình lựa chọn được sản phẩm thích hợp để sản xuất, tìm được nơi tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ nhằm đạt được lợi nhuận cao, đồng thời củng cố được địa vị của mình và tăng cường sức cạnh tranh. Hơn nữa sự điều tiết kích thích của thị trường còn được thể hiện ở chỗ: Thị trường chỉ thừa nhận những sản phẩm có chi phí sản xuất thấp, chi phí lưu thông thấp hoặc ở mức trung bình do vậy khuyến khích các doanh nghiệp cải tiến sản xuất, giảm chi phí tới mức thấp nhất.

          Thông qua thị trường, người tiêu dùng hay người mua có thể lựa chọn hàng hoá dịch vụ đáp ứng được nhiều nhất nhu cầu của mình và giá cả thấp nhất. Nói cách khác, thị trường cho phép người tiêu dùng mua được những hàng hoá dịch vụ có lợi nhất cho mình.

          Như vậy thị trường vừa kích thích người sản xuất sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình, vừa kích thích người tiêu dùng sử dụng có hiệu quả ngân sách của mình.

          d. Chức năng thông tin.

          Thị trường thực hiện chức năng cung cấp thông tin về nhu cầu thị trường, về thị trường, về tổng số cung cầu, thị hiéu khách hàng quan hệ cung- cầu của từng loại hàng hoá, dịch vụ, chất lượng sản phẩm, các điều kiện tìm kiếm nguồn đầu vào, các đơn vị sản xuất và phân phối cho người mua và người bán. Thông qua đó các doanh nghiệp có thể trả lời các câu hỏi về thị trường mục tiêu, về dung lượng thị trường, thị trường cạnh tranh.

          Tóm lại thị trường cung cấp những thông tin hết sức cần thiết đối với người sản xuất, người tiêu dùng để họ có thể đưa ra những quyết định thích hợp đem lại lợi ích hay hiệu quả cho mình.

          Xuất phát từ những chức năng trên, có thể rút ra một số vai trò cơ bản của thị trường:

4. Vai trò của thị trường.

          Trong nền kinh tế hàng hoá, các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế dù là loại hình nào: quốc doanh, tập thể, tư nhân… đều là những chủ thể của sản xuất (hàng hoá) kinh doanh hàng hoá, tồn tại trong một hệ thống nhất như một cơ thể sống vận động trên thị trường lấy thị trường làm môi trường như mảnh đất nuôi sống doanh nghiệp. Trên thị trường các doanh nghiệp đều có tư cách pháp nhân và bình đẳng các quan hệ hợp tác cho phép các doanh nghiệp tìm kiến tất cả các bạn hàng phù hợp với doanh nghiệp của mình. Doanh nghiệp với tư cách là người sản xuất, kinh doanh hàng hoá tham gia thị trường sẽ làm thay đổi toàn bộ các quan hệ kinh tế các quan hệ ngang sẽ làm xuất hiện nhiều nhân tố mới. Mỗi doanh nghiệp sẽ cần đến nhiều loại vật tư hàng hoá, cần đến chất xám, do đó thúc đẩy các ngành sản xuất vật tư và các ngành kỹ thuật phát triển đòi hỏi của thị trường ngày cao và càng nhiều loại hàng hoá với chủng loại kích cỡ khác như sẽ thúc đẩy sự ra đời của các ngành sản xuất kinh tế mới. Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều gắn bó với thị trường, sản phẩm của doanh nghiệp có bán được trên thị trường thì mới có thể bù đắp được chi phíq và thu được lợi nhuận. Thị trường là nơi đánh giá mọi hoạt động của doanh nghiệp một cách khách quan và chính xác. Vì vậy, vai trò của thị trường đối với doanh nghiệp được thể hiện là:

          Mt là: Thị trường là sống còn đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hoá.

          Doanh nghiệp khi chiếm lĩnh được những thị phần mới là họ đã phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, mọi hoạt động kinh doanh cũng phát triển theo và khả năng thu lợi nhuận sẽ tăng lên.

          Doanh nghiệp khi mất đi thị phần sẽ gặp nhiều khó khăn, sản xuất kinh doanh sẽ bị thu hẹp. Nếu không có biện pháp khắc phục kịp thời thì nguy cơ phá sả là điều không thể tránh khỏi.

          Hai là: Thị trường phá vỡ ranh giới sản xuất tự nhiên tự cấp tự túc để tạo thành thể thống nhất trong toàn nền kinh tế quốc dân.

          Tác động của các quy luật thị trường đó làm cho cho hàng hoá lưu thông tự do từ nơi có hàng đến nơi có nhu cầu. Dù có sự ngăn sống cấm chợ khi có lợi nhuận nó cũng vượt qua. Và khi nền kinh tế hàng hoá xuất hiện thì hàng rào nào cũng sẽ tự biến mất. Thị trường là môi trường đồng thời cũng là sức hút để hàng hoá tự do lưu thông từ vùng nọ sang vùng kia, làm cho hàng hoá phong phú và nó cũng thống nhất mọi vùng ngăn cách.

          Ba là: Thị trường hướng dẫn sản xuất kinh doanh.

          Do thị trường là khách quan mỗi cơ hội sản xuất kinh doanh không có khả năng làm thay đổi thị trường và ngược lại họ phải tiếp cận để thích ứng với thị trường. Các nhà sản xuất kinh doanh phải căn cứ vào giá cả cung cầu trên thị trường mà quyết định các vấn đề: sản xuất cái gì? sản xuất bao nhiều và sản xuất cho ai? Trên cơ sở đó xác định phương án kinh doanh cho phù hợp (tuân theo các quy luật thị trường, phát huy khả năng sẵn có), khi có sự thay đổi trên thị trường để đứng vững được thì các hoạt động của doanh nghiệp cũng phải uốn theo cho phù hợp. Tuân theo các quy luật thị trường, phát huy khả năng sẵn có làm phương châm hoạt động hiệu quả của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường. Như vậy sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu sự chi phối của thị trường.

          Bn là: Thị trường là chiếc gương phản chiếu tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

          Nhìn vào thị trường của doanh nghiệp người sẽ thấy được quy mô, tốc độ và trình độ phát triển của doanh nghiệp. Nội dung tính hoạt động của doanh nghiệp đều được thị trường trả lời đúng hay sai. Những ưu khuyết điểm về sản phẩm, về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường sẽ được bộ lộ rõ. Do đó doanh nghiệp phải thường xuyên bám sát thị trường để thấy được tình hình sản xuất, kinh doanh của bản thân để có những chính sách cho sản xuất kinh doanh thích hợp.

          Năm là: Thị trường là nơi kiểm nghiệm, đánh giá tính chất đúng đắn các chủ trương, chính sách biện pháp kinh tế của nhà nước, của các nhà quản lý kinh doanh, thông qua đó một mặt nâng cao trình độ quản lý kinh doanh của các nhà sản xuất doanh nghiệp. Đồng thời nó cũng đào thải những nhà sản xuất, nhà quản lý không thích nghi được sự năng động của nó. Tầm quan trọng của thị trường đối với sự phát triển của doanh nghiệp là không thể phủ nhận. Nó là điều kiện cần và đủ để doanh nghiệp tồn tại và phát triển.

          Tóm lại, thị trường là khâu quan trọng nhất của quá trình tái sản xuất hàng hoá, là “cầu nối” giữa sản xuất với tiêu dùng. Thị trường là tấm gương để các cơ sở sản xuất kinh doanh nhận biết được nhu cầu xã hội và để đánh giá được hiệu quả kinh doanh của chính bản thân mình. Thông qua đó, họ có thể điều kiển mọi hành vi của bản thân cho thích nghi được với thị trường.

KẾT LUẬN

Qua quá trình học tập tại trường Đại học Kinh tế quốc dân thầy cô đã trang bị cho em những kiến thức cơ bản về các vấn đề kinh tế xãc hội trong đó có những vấn đề lý luận về thị trường và việc phát triển thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp (kinh doanh quốc tê). Điều này đã được hoàn thiện trong phần 1 của chuyên đề.

Trong thời gian thực tập tại Tổng Công ty rau quả Việt nam đã đem lại cho em những hiểu biết thực tế bổ ích về tình hình thị trường xuất khẩu của hàng rau quả nói riêng và hàng nông sản nói chung. Đây là thị trường vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết nhưng bên trong là một tiềm năng phát triển mạnh mẽ. Cính vì vậy việc phát triển thị trường xuất khẩu mặt hàng này đang được Tổng Công ty đặt lên hàng đầu trong những vấn đề bức xúc cần được giải quyết.

Thực tế thì Tổng Công ty đã áp dụng một số biện pháp nhằm phát triển thị trường như: Biện pháp về nghiên cứu thị trường và công tác tiếp thị, biện pháp khuyếch trương trên thị trường nước ngoài. Các biện pháp đối với nguồn hàng xuất khẩu. Các biện pháp đối với thị trường truyền thốngvà các biện pháp đối với thị trường mới. Tổng Công ty đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Song vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần giải quyết. Chính vì vậy ở phân hai của chuyên đề, em xin đề cập đến thực trạng thị trường xuất khẩu hàng rau quả của Tổng Công ty rau quả Việt nam. Trên cơ sở những vấn đề lý luận ở phần I và thực tiễn ở phân II. Kết hợp với quá trình học tập, lý thuyết và thực tế ở phần III em xin đưa ra một số biệ pháp nhằm phát triển thị trường xuất khẩu rau quả để Tổng Công ty xem xét và áp dụng.

Hy vọng rằng những biện pháp này phần nào sẽ có ích cho việc phát triển thị trường xuất khẩu mặt hàng rau quả của Tổng Công ty. Điều này hết sức quan trọng không những có ảnh hưởng quyết định đến sự sống còn của Tổng Công ty trong nền kinh tế thị trường. Hơn nữa nó còn ảnh hưởng tới các vấn đề kinh tế xã hội hiện nay như: Công ăn việc làm cho người lao động, vị thế uy tín sản phẩm của hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Kết thúc bài viết này em xin trân thành cảm ơn tất cả các thầy cô trong khoa Thương mại đặc biệt là các thầy cô trong bộ môn Thương mại quốc tế. Cùng các cô chú trong phòng xúc tiến thương mại, phòng tổ chức cán bộ phòng quản lý sản xuất đã trang bị cho em những kiến thức về cả lý thuyết lẫn thực tiễn. Đặc biệt là thầy giáo phó giá sư tiến sỹ Trần Chí Thành chú Dương và anh trạm đã hướng dẫn nhiệt tình và chỉ bảo những ý kiến quý báu cũng như tạo điều kiện cho em hoàn thành chuyên đề này một cách thuận lợi.

Do trình độ có hạn công với sự hạn chế về thời gian nên bài viết của em không tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự giúp đỡ của thầy cô, các cô chú và các bạn.

Em xin trân thành cảm ơn!

Hà Ni ngày    tháng 4 năm 2001

Sinh viên thc hin

Trn Minh Khôi


TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Giáo trình: Qun tr kinh doanh thương mi quc tế PGS.TS Trn Chí Thành.

2. Giáo trình Marketing Thương mi quc tế.

3. Chiến thut tiếp th, bài hc t Nht NXB Văn hoá thông tin.

4. Qun tr chiêu th Thư vin trường ĐHKTQD.

5. Tp chí thương mi.

6. Tp chí giá c th trường.

7. Thi báo Kinh tế.

8. Báo cáo tng kết hot động sn xut kinh doanh ca Tng Công ty rau qu Vit Nam.

9. Định hướng phát trin ca Tng Công ty rau qu Vit Nam giai đon 1998 2010.

10. Báo cáo thc hin xut khu ca Tông Công ty rau qu Vit nam.

11. Niên giám thng kê năm

MỤC LỤC

Trang

Lời nói đầu………………………………………………………………………………….. 1

Phần I. Cở sở lý luận chung về thị trường và việc phát triển thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế…………………………… 2

I. Thị trường và vai trò của thị trường đối các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế.        2

1. Khái niệm về thị trường………………………………………………………… 2

2. Phân loại thị trường xuất khẩu……………………………………………….. 2

3. Chức năng của thị trường………………………………………………………. 2

4. Vai trò của thị trường……………………………………………………………. 2

5. Một số nét đặc trưng của thị trường xuất khẩu…………………………… 2

II.  Nội dung và biện pháp phát triển thị trường xuất khẩu…………………. 2

1. Nội dung phát triển thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế………………………………………………………………………………………….. 2

2. Các biện pháp chủ yếu nhằm phát triển thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp.  2

III.  Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thị trường xuất khẩu………….. 2

1. Trên góc độ doanh nghiệp…………………………………………………….. 2

2. Trên góc độ sự tác động của các lĩnh vực…………………………………. 2

Chương II. Thực trạng kinh doanh xuất khẩu ở Tổng công ty rau quả Việt Nam 2

I. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Tổng công ty………………………… 2

1. Quá trình hình thành và phát triển…………………………………………… 2

1.1 Quá trình hình thành……………………………………………………….. 2

1.2. Quá trình phát triển:……………………………………………………….. 2

2. Chức năng và nhiệm vụ của Tổng công ty……………………………….. 2

3. Chức năng nhiệm vụ của Tổng công ty Rau quả Việt Nam…………. 2

II. Một số đặc điểm kinh tế kỹ thuật ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty………………………………………………………………………………………… 2

1. Đặc điểm về địa điểm bố trí của Công ty………………………………….. 2

2. Đặc điểm về sản phẩm công ty……………………………………………….. 2

3. Đặc điểm về thị trường………………………………………………………….. 2

3.1 Thị trường xuất khẩu………………………………………………………. 2

3.2 Thị trường trong nước……………………………………………………… 2

4. Đặc điểm về lao động Tổng công ty………………………………………… 2

5. Đặc điểm về tình hình tài chính của Công ty…………………………….. 2

II. Thực trạng thị trường xuất khẩu và các biện pháp phát triển thị trường xuất khẩu nói chung và của mặt hàng rau quả nói riêng của Tổng công ty…………… 2

1. Một số đặc điểm của mặt hàng rau quả…………………………………….. 2

2. Khái quát chung về thị trường thế giới cvủa mặt hàng rau quả trong thời gian qua…………………………………………………………………………………………. 2

3. Thực trạng thị trường xuất khẩu của tổng công ty rau quả Việt nam. 2

3. Sự tham gia xuất khẩu của các đơn vị……………………………………… 2

4. Cơ cấu thị trường xuất khẩu…………………………………………………… 2

4.1. Chìa khoá để thâm nhập thị trường…………………………………… 2

4.2. Phát triển các thị trường mới……………………………………………. 2

4.3. Khối lượng rau quả của Mỹ…………………………………………….. 2

4.4. Yêu cầu mức độ dịch vụ của thực phẩm…………………………….. 2

4.5. Phân phối sản phẩm………………………………………………………. 2

4.6. Vấn đề nhập khẩu rau quả của Mỹ……………………………………. 2

4.7. Lợi nhuận từ bán các sản phẩm rau quả tại cấc siêu thị…………. 2

4.8. Mức lợi nhuận và quy mô của các cửa hàng……………………….. 2

5. Các biện pháp phát triển thị trường mặt hàng rau quả mà công ty đã áp dụng.     2

5.1. Các biện pháp liên quan về hàng hoá ……………………………….. 2

5.2. Các biện pháp liên quan đến thị trường……………………………… 2

5.3. Các biện pháp về tiêu thụ sản phẩm (Hoạt động marketing của công ty)       2

5.4. Liên doanh liên kết ……………………………………………………….. 2

III. Những vấn đề rút ra từ công tác xuất khẩu và phát triển thị trường xuất khẩu rau quả của tổng công ty rau quả Việt Nam…………………………………………… 2

1. Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu của tổng công ty rau quả Việt Nam……………………………………………………………… 2

2. Đánh giá về thị trường xuất khẩu và hoạt động  phát triển thị trường xuất khẩu của tổng công ty rau quả Việt Nam……………………………………………….. 2

Phần III. Một số kiến nghi và giải pháp phát triển thị trường xuất khẩu mặt hàng rau quả của tổng công ty rau quả Việt Nam < VEGETEXLO Việt Nam > trong thời gian tới………………………………………………………………… 2

I. Định hướng xuất khẩu mặt hàng rau quả ở Việt Nam ……………………. 2

1. Thực trạng của ngành sản xuất rau quả nước ta…………………………. 2

1.1. Về rau………………………………………………………………………….. 2

1.2. Về quả…………………………………………………………………………. 2

1.3. Hoa và cây cảnh:……………………………………………………………. 2

2. Chế biến và bảo quản…………………………………………………………… 2

3. Tiêu thụ……………………………………………………………………………… 2

4. Đánh giá chung……………………………………………………………………. 2

5. Phương hướng mục tiêu………………………………………………………… 2

II. Phương hướng phát triển kinh doanh của tổng công ty trong những năm tới.          2

1. Tính cấp thiết phải đẩy mạnh hoạt động  xuất khẩu tại tổng công ty rau quả Việt Nam………………………………………………………………………………….. 2

2. Phương hướng xuất khẩu trong thời gian tới…………………………….. 2

2. Định hướng về sản phẩm chiến lược……………………………………….. 2

3. Định hướng về gía cả……………………………………………………………. 2

4. Định hướng về thị trường và thâm nhập…………………………………… 2

III. Một số biện pháp chủ yếu nhằm phát triển thị trường xuất khẩu mặt hàng rau quả của tổng công ty………………………………………………………………………….. 2

1. Ở tầm vi mô (Đối với doanh nghiệp )……………………………………… 2

2. Tầm vĩ mô………………………………………………………………………….. 2

IV. Kiến nghị của bản thân về hoạt động thúc đẩy xuất khẩu……………… 2

1. Kiến nghị về cơ chế, chính sách xuất nhập khẩu ở Việt Nam………. 2

2. Kiến nghị về mặt hàng rau quả……………………………………………….. 2

3. Kiến nghị với nhà nước và ban ngành liên quan………………………… 2

Kết luận………………………………………………………………………………………. 2

Tài liệu tham khảo……………………………………………………………………….. 2

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , , , , , , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s