Một số giải pháp nhằm xúc tiến hoạt động xuất khẩu hàng hoá qua biên giới tỉnh Điện Biên của sở Thương mại – Du lịch Điện Biên


MỤC LỤC

Lời mở đầu…………………………………………………………………………. 4

Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài……………………………………6

I. Một số vấn đề lý luận về xúc tiến hoạt động xuất khẩu………………6

     1. Khái niệm xúc tiến xuất khẩu

     2. Các hoạt động xúc tiến xuất khẩu

II. Tm quan trng ca đẩy mnh xut nhp khu hàng hoá qua biên gii đối vi s phát trin kinh tế xã hi ca tnh Đin Biên:…………………..8

  1. Thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh

2. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế

     3. Thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển

     4. Nâng cao đời sống vật chất của nhân dân các dân tộc

     5. Tăng cường hợp tác với các nước

Chương II: Thc trng xúc tiến xut khu qua biên gii ti tnh Đin Biên ……………………………………………………………………       12

I. Khái quát v s thương mi du lch tnh Đin Biên………………….         12

1. Hình thành và phát triển………………………………………….      12

2. Các lĩnh vực hoạt động…………………………………………………… 14

II.Tình hình xuất khẩu hàng hoá qua biên giới của tỉnh 2002-2004. 19

1. Kim ngạch xuất khẩu theo địa lý……………………………………… 19

2. Kim ngạch xuất khẩu theo mặt hàng………………………………… 23

3. Kim ngạch xuất khẩu theo thị trường……………………………….. 25

     3.1. Thị trường Lào

     3.2. Thị trường Trung Quốc

     3.3. Thị trường Khác

4. Đặc điểm một số doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu ……….27

III. Thực trạng các giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu qua biên giới của Sở thương mại du lịch ĐB …………………………………………………………………………… 28

1. Chính sách…………………………………………………………………… 28

     1.1. Chính sách hợp tác quốc tế

     1.2. Chính sách thu hút vốn đầu tư

     1.3. Chính sách tạo nguồn hàng xuất khẩu

     1.4. Chương trình xuất khẩu hàng hoá đến 2010

2. Các phương pháp xúc tiến khác………………………………………. 31

3. Đội ngũ tham gia công tác xúc tiến………………………………31

4. Năng lực kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp……..32

5. Đánh giá thực trạng xúc tiến xuất khẩu…………………………32

Chương III: Nhng kiến ngh nhm đy mnh xut khu hàng hoá qua biên gii tnh Đin Biên……….……………………………………….35

I. Quan điểm của tỉnh Điện Biên về xuất khẩu hàng hoá qua biên giới       .35

1. Quan điểm thứ nhất

2. Quan điểm thứ 2

3. Quan điểm thứ 3

4. Quan điểm thứ 4

5. Quan điểm thứ 5

II.Giải pháp…………………………………………………………………….36

1. Về phía nhà nước:………………………………………………..       36

    1.1. Chính sách xuất khẩu………………………………………        36

         1.2. Chính sách xuất nhập cảnh…………………………………..     38

    1.3. Chính sách tài chính………………………………………..        39

         1.4. Chính sách hợp tác và đầu tư……………………………….      42

    1.5. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về xuất nhập khẩu…….44

2. Giải pháp nguồn hàng:……………………………………………46

    2.1. Phát triển các mặt hàng chủ lực

    2.2. Tổ chức hỗ trợ sản xuất

3.Giải pháp thị trường:……………………………………………….47

    3.1. Thị trường Trung quốc và Lào……………………………….47

    3.2. Thị trường EU………………………………………………..48

    3.3. Thị trường Nhật Bản………………………………………….51

    3.4. Sử dụng mạng internet trong xúc tiến xuất khẩu……………..53

4. Giải pháp cho doanh nghiệp:……………………………………..     54

    4.1. Tổ chức lại sản xuất

    4.2. Đầu tư đổi mới công nghệ

    4.3. Đào tạo cán bộ kinh doanh xuất nhập khẩu

Kết luận…………………………………………………………….        57

Danh mục tài liệu tham khảo……………………………………..       58

 LI M ĐẦU

 

 Điện Biên vẫn là tỉnh nghèo kinh tế chậm phát triển, sản xuất hàng hoá chưa  phát triển, sản xuất với quy mô nhỏ hàng hoá sức cạnh tranh thấp trên thị trường (hay nói cách khác chưa có nguồn hàng xuất khẩu). Chưa hình thành quy hoạch được các vùng sản xuất tập trung để tạo ra sản phẩm công nghiệp có quy mô khối lượng và quy mô lớn, cơ sở hạ tầng thấp kém lạc hậu chậm phát triển. Sau khi thực hiện chủ trương chia tách tỉnh chia tách tỉnh  tiềm năng các mặt hàng về khai thác khoáng sản quặng các loại như đồng, chì, đá đen … tập trung chủ yếu ở tỉnh Lai Châu. Các cửa khẩu của tỉnh xa các thị trường và vùng sản xuất lớn ở trong nước giao thông đi lại khó khăn, cửa khẩu của tỉnh sức thu hút và cạnh tranh kém hơn so với các cửa khẩu khác trong khu vực các tỉnh biên giới phía Bắc mặt khác lại ra đời sau khi các cửa khẩu trong khu vực đã đi vào hoạt động trong thời gian dài, lượng hàng hoá xuất nhập khẩu đã tương đối ổn định. Tổ chức sản xuất hàng xuất khẩu của các tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân của tỉnh chưa được quan tâm và chưa có chuyển biến tích cực đặc biệt quy hoạch vùng sản xuất hàng nông sản xuất khẩu đến nay hầu hết các mặt hàng chủ lực theo Nghị quyết của tỉnh chưa tổ chức sản xuất và xuất khẩu. Các sở, ban, ngành huyện, thị và các doanh nghiệp đã được phân công trách nhiệm trong việc xây dựng các quy hoạch, dự án được chỉ định trong chương trình tổ chức triển khai xây dựng quy hoạch, kế hoạch, dự án theo Nghị quyết 37/2003/NQ-HĐ ngày 20/1/2003 của HĐND tỉnh đến nay triển khai còn chậm chưa có giải pháp, biện pháp cụ thể nhằm thúc đẩy sản xuất hàng xuất khẩu của địa phương. Công tác quản lý nhà nước về hoạt động XNK còn nhiều bất cập chưa ban hành được các chính sách của địa phương về hoạt động XNK như hỗ trợ về vốn, ưu đãi về đất, thuế, thưởng sản xuất và xuất khẩu, chính sách hỗ trợ sản xuất hàng xuất khẩu … Các ngành, huyện, thị quản lý chưa có giải pháp, biện pháp cụ thể nhằm thúc đẩy sản xuất hàng xuất khẩu của địa phương. Quy hoạch khu kinh tế cửa khẩu Tây trang đã được phê duyệt song tiến độ triển khai tổ chức thực hiện xây dựng đầu tư vào các hạng mục công trình còn chậm. Các DN và thương nhân tham gia hoạt động kinh doanh XNK của tỉnh mới chủ yếu buôn bán nhỏ nhất thời, chưa năng động và  tạo ra được bạn hàng và thị trường  hợp tác lâu dài và quan tâm đến hoạt động XNK. Tổ chức sản xuất hàng xuất khẩu của các tổ chức, doanh nghiệp chưa được quan tâm. Công tác thông tin xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường bạn hàng xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp trong tỉnh tham gia hội chợ, triển lãm, quảng bá còn rất hạn chế. Xuất phát từ những đặc điểm đó là một sinh viên chuyên ngành thương mại quốc tế em quyết định chọn đề tài: “Mt s gii pháp nhm xúc tiến hot động xut khu hàng hoá qua biên gii tnh Đin Biên ca s Thương mi – Du lch Đin Biên“. Qua đề tài em muốn hiểu biết nhiều hơn về tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá của địa phương từ đó tích luỹ kiến thức phục vụ cho công tác sau này, đồng thời trong phạm vi hiểu biết của mình đưa ra một số giải pháp với mục đích đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá cũng như sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Đề tài của em được chia thành 3 chương, chương I: Cơ sở lý luận của đề tài trình bày một số khái niệm và ý nghĩa của hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Điện Biên, chương II: thực trạng xúc tiến xuất khẩu qua biên giới tỉnh Điện Biên, chương III: một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của tỉnh Điện Biên. Trong quá trình thực hiện đề tài, do thời gian và trình độ hiểu biết thực tiễn còn hạn chế nên đề tài của em chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết, em mong nhận được sự chỉ bảo tận tình của cô giáo để đề tài của em hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Thạc sĩ Dương Thị Ngân đã giúp đỡ em thực hiện thành công đề tài này.

 

CHƯƠNG I: CƠ S LÝ LUN CA ĐỀ TÀI

 

I. Mt s vn đề lý lun v xúc tiến hot động xut khu:

1. Khái nim xúc tiến:

     Có nhiều định nghĩa khác nhau về xúc tiến, trong luật thương mại hoạt động xúc tiến được hiểu là hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ thương mại.

     Từ định nghĩa trên đây có thể suy rộng ra xúc tiến xuất khẩu là hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ ra nước ngoài.

2. Các hot động xúc tiến xut khu:

* Nhóm vi mô:

– Thu thập thông tin về thị trường xuất khẩu hàng hoá, đây là hoạt động đầu tiên rất quan trọng vì chỉ khi biết được nhu cầu thị trường, giá cả hàng hoá ở thị trường, các thông tin về doanh nghiệp trên thị trường xuất khẩu ta mới có thể đưa ra chiến lược mặt hàng có khả năng cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu. Có thể thu thập thông tin theo 2 cách, thông qua nghiên cứu tài liệu sách báo, internet, cách này có ưu điểm thu thập được thông tin nhanh chóng tại chỗ, không tiêu tốn nhiều tiền song nó có nhược điểm là thông tin thu được không cập nhật, thường là những thông tin cũ. Cách thứ hai là thông qua nghiên cứu trực tiếp thị trường, có thể sử dụng bảng câu hỏi để thu thập thông tin cần thiết bằng cách này có thể thu thập thông tin mới nhất theo ý muốn chủ quan song nó có nhược điểm là phải đến tận hiện trường để thu thập, chi phí cho cách thức này lớn hơn rất nhiều so với cách thứ nhất và tiêu tốn thời gian để xây dựng bảng hỏi hiệu quả.

– Tham gia các hội chợ quốc tế để có thể tiếp thị sản phẩm hàng hoá của mình đến khách hàng nước ngoài và có cơ hội ký kết các hợp đồng xuất khẩu sang những thị trường mới. Hoạt động này có ưu điểm là cơ hội giới thiệu sản phẩm đến các đối tác và người tiêu dùng cao, có điều kiện để giới thiệu trực tiếp về các đặc tính của sản phẩm, nhược điểm của hoạt động này là kinh phí để tham dự một hội chợ lớn, thủ tục xuất hàng tham gia hội chợ triểm lãm quốc tế cần có thời gian, các doanh nghiệp phải chuẩn bị kỹ càng nhân lực để tham gia, hơn nữa để đăng ký được một gian hàng trong hội chợ quốc tế được tổ chức theo định kỳ không dễ dàng.

– Tổ chức các cuộc hội thảo khoa học nhằm bàn bạc tìm ra những biện pháp hiệu quả để tăng xuất khẩu hàng hoá. Hoạt động này có ưu điểm là có thể giải đáp luôn những thắc mắc của các doanh nghiệp và tạo điều kiện để các doanh nghiệp có thể trao đổi kinh nghiệm trong kinh doanh xuất nhập khẩu, đồng thời có thể tham khảo nhiều ý kiến từ các chuyên gia, song hoạt động này cần có thời gian để chuẩn bị tài liệu để tổ chức hội thảo một cách hiệu quả, mặt khác kinh phí cho hội thảo cao.

– Mở các văn phòng đại diện ở nước ngoài để tạo đầu mối phân phối sản phẩm, thực hiện những giao dịch thương mại với thị trường nước ngoài một cách thuận tiện hơn, đồng thời tạo được niềm tin, sự yên tâm trên thị trường xuất khẩu. Hoạt động của văn phòng đại diện có ưu điểm là có thể nắm bắt nhu cầu của khác hàng một cách nhanh nhất, song hoạt động này chỉ thích hợp với những công ty có quy mô tương đối lớn mới có điều kiện mở văn phòng đại diện ở nước ngoài.

– Thương mại điện tử: Đây là công cụ xúc tiến được sử dụng nhiều nhất hiện nay với chi phi rẻ và tầm ảnh hưởng rộng khắp thế giới, tuy nhiên trong thời đại tràn ngập thông tin hiện nay để các đối tác chú ý đến mình không phải là dễ, thư điện tử bị xóa do chủ quan hay khách quan trước khi được đọc là chuyện thường ngày vẫn hay diễn ra.

* Nhóm vĩ mô:

– Chính sách xuất nhập khẩu, việc quy định các mặt hàng xuất nhập khẩu có hoặc không có điều kiện ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động xuất nhập khẩu của mỗi nước, khi hàng hóa nào đó được xếp vào danh mục xuất khẩu có điều kiện ví dụ như hạn ngạch, kiểm dịch,… thì kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sẽ bị hạn chế. Vì vậy chính sách xuất nhập khẩu có thể tạo ra rào cản và cũng có thể tạo ra một công cụ kích thích rất có hiệu quả trong hoạt động xuất nhập khẩu.

– Chính sách thuế – tài chính, nếu quy định mức thuế xuất nhập khẩu cao hàng xuất nhập khẩu sẽ giảm, sử dụng công cụ này có thể điều chỉnh được mức xuất nhập khẩu một cách nhanh chóng song để thay đổi một chính sách thuế cần phải có thời gian xem xét một cách kỹ lưỡng của các nhà quản lý cấp cao. Chính sách hỗ trợ về tín dụng xuất khẩu cũng tạo ra một thuận lợi lớn đơi với các doanh nghiệp xuất khẩu, khi được hỗ trợ vốn các công ty có thể tạo nguồn hàng xuất khẩu ổn định hơn, đồng thời có vốn để tổ chức chế biến hàng xuất khẩu góp phần nâng cao tỷ lệ hàng chế biến trong cơ cấu hàng xuất khẩu từ đó đem lại nhiều ngoại tệ hơn.

– Chính sách hợp tác và đầu tư, với chính sách khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu, khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước có thể thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi từ trong nước cũng như từ nước ngoài thông qua các doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Sử dụng công cụ chính sách này có thể chủ động đưa ra các ưu đãi đối với các nhà đầu tư song với những chính sách mới việc thực hiện là rất phức tạp.

– Chính sách tiền tệ, việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái có tác dụng nhanh chóng đối với hoạt động xuất nhập khẩu, khi tỷ giá hối đoái ở mức cao sẽ kích thích xuất khẩu, khi tỷ giá hối đoái thấp sẽ hạn chế xuất khẩu. Sử dụng công cụ này có thể nhanh chóng tăng kim ngạch xuất khẩu tuy nhiên với một nước đang phát triển thì công cụ này cần được cân nhắc kỹ khi sử dụng vì nước đang phát triển nhập rất nhiều trang thiết bị từ thị trường nước ngoài vào trong nước.

II. Tm quan trng ca đẩy mnh xut nhp khu hàng hoá qua biên gii đối vi s phát trin kinh tế xã hi tnh Đin Biên:

1. Thúc đẩy nhp độ tăng trưởng kinh tế ca tnh:

      Dưới tác động của giao lưu hàng hoá qua biên giới cơ cấu kinh tế tỉnh Điện Biên sẽ có sự chuyển đổi theo hướng phát triển các ngành dịch vụ, du lịch, thương mại, ngân hàng, vận tải, bưu điện,… kích thích các ngành kinh tế phát triển theo hướng thị trường, tăng nhanh các sản phẩm công nghiệp, nông lâm nghiệp phục vụ cho sản xuất.

      Sự phát triển hoạt động xuất nhập khẩu qua biên giới cùng với sự phân công lao động và thương mại nội địa sẽ tạo ra những đầu mối quan trọng về luồng hàng hoá, tiền tệ và giao thông. Đồng thời sự phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới sẽ làm hình thành các trung tâm thương mại quốc tế, các trung tâm xúc tiến thương mại.

       Hiện nay hoạt động xuất nhập khẩu qua biên giới của tỉnh Điện Biên mới chỉ là những thương vụ nhỏ lẻ chủ yếu do thương nhân địa phương thực hiện. Khi hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới được đẩy mạnh hàng hoá lưu thông sẽ diễn ra với khối lượng lớn hơn và thường xuyên hơn từ đó sẽ làm hình thành nhiều dịch vụ hỗ trợ như dịch vụ vận tải, kho hàng, ngân hàng, khách sạn nhà hàng,…Sự hình thành nhiều ngành nghề mới sẽ tác động tới nhịp độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh theo hướng ngày càng phát triển vững chắc.

2. Thúc đẩy chuyn dch cơ cu kinh tế:

     Giao lưu hàng hoá qua biên giới tác động đến nhiều mặt đời sống xã hội của tỉnh Điện Biên, tạo điều kiện để tỉnh đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội. Cơ cấu kinh tế của tỉnh hiện nay nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn, với sự phát triển của hoạt đông xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới sẽ thúc đẩy cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng nâng cao tỷ trọng ngành dịch vụ. Việc tăng cường hoạt động xuất nhập khẩu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ những hàng hoá mà tỉnh đang khó khăn trong việc tìm đầu ra cho sản phẩm, bên cạnh đó cũng có thể nhập về những hàng hoá phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng mà bên Điện Biên khan hiếm ví dụ như nguyên liệu cho chế biến gỗ xuất khẩu ta có thể nhập từ các tỉnh bắc Lào. Cùng với sự phát triển của xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới hệ thống các chợ biên giới dọc theo đường biên sẽ thu hút nhiều lao động tham gia buôn bán từ đó nâng cao tỷ trọng ngành dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của tỉnh.

3. Thúc đẩy các ngành kinh tế phát trin:

3.1. Thúc đẩy s phát trin ca ngành sn xut nông – lâm nghip:

      Điện Biên có đường biên giới với Trung Quốc mà đây là một nước lớn với những thành tựu đáng nể trong lĩnh vực nông nghiệp như việc tạo ra giống lúa lai có năng xuất cao, có nhiều kinh nghiệm trong khôi phục rừng. Những thành tựu đó của nền nông nghiệp Trung Quốc là một cơ hội tốt để Điện Biên phát triển ngành nông nghiệp, hiện nay có nhiều giống  nông nghiệp của họ đã được áp dụng tại Điện Biên như giống lúa lai, các loại giống rau,…Nhiều loại vật tư phục vụ cho nông nghiệp như máy bơm, thức ăn gia súc, gia cầm, thuốc thú y và nhiều loại vật tư khác. Vì vậy tỉnh cần phải có chiến lược hợp tác lâu dài với Trung Quốc trong lĩnh vực này.

3.2. Thúc đẩy s phát trin các ngành công nghip và xây dng:

       Trung Quốc có thế mạnh về các loại máy móc vì thế đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp của tỉnh đặc biệt là trong lĩnh vực khai khoáng, công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu và chế biến thức ăn gia súc. Tuy chất lượng máy móc thiết bị của Trung Quốc hiện nay còn có nhiều dư luận không tốt xong nếu nhận xét một cách khách quan và tính toán đến hiệu quả kinh tế khi sử dụng thì tính khả thi khi nhập máy móc thiết bị từ nước này vào Điện Biên là rất lớn vì điều kiện kinh tế xã hội của tỉnh còn nhiều khó khăn.

3.3. Thúc đẩy s phát trin cơ s h tng vùng biên gii:

      Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của nhiều ngành đặc biệt là xây dựng cơ bản và giao thông vận tải. Hàng hoá chu chuyển nhiều thì hệ thống đường giao thông sẽ được đầu tư mở rộng, hệ thống chợ biên giới sẽ được đầu tư xây mời hoặc nâng cấp và kéo theo đó là sự hình thành các kho hàng ở các cửa khẩu, khu kinh tế cửa khẩu từ đó cũng sẽ được đầu tư với cơ sở vật chất khang trang hơn.

3.4. Thúc đẩy hot động du lch phát trin:

   Khi xuất khẩu hàng hoá được đẩy mạnh các thủ tục xuất nhập khẩu xuất nhập cảnh có nhu cầu phải đơn giản hoá khi đó việc đi lại qua đường biên giới sẽ dễ dàng hơn từ đó tạo ra sức hút với khách du lịch từ nước bạn sang thăm quan và nghỉ mát.

4. Ci thin, nâng cao đời sng nhân dân các dân tc trong tnh:

     Phát triển các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới tạo ra nhiều ngành nghề mới góp phần giải quyết việc làm, tạo ra thu nhập nhiều hơn cho nhân dân. Một mặt nhân dân có thể tiêu thụ được hàng hoá mà mình sản xuất ra mặt khác có thể tiêu dùng những hàng hoá được sản xuất từ nước bạn với lợi ích kinh tế cao hơn so với tiêu dùng hàng hoá từ trong nước sản xuất ở một số mặt hàng. Cùng với sự phát triển của cơ sở hạ tầng vùng biên giới như giao thông vận tải, thông tin liên lạc tạo ra điều kiện cho nhân dân các vùng giao lưu hàng hoá một cách thuận tiện hơn, sóng phát thanh truyền hình vươn tới những vùng biên tạo cho nhân dân đời sống tinh thần tốt hơn.

5. Tăng cường hp tác vi các nước:

     Sự phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu thông qua các cửa khẩu biên giới có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự giao lưu kinh tế văn hoá giữa tỉnh Điện Biên với các tỉnh bắc Lào và Trung Quốc. Các văn bản hợp tác và các văn phòng đại diện của mỗi bên nằm ở nước bạn cũng như sự qua lại buôn bán của nhân dân dọc theo vùng biên giới của mỗi nước tạo ra sự giao lưu học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau của các bên.

1.4.2. Hoàn thiện hơn nữa chính sách khuyến khích đầu tư:

    Hiện nay trong quá trình thực hiện luật khuyến khích đầu tư còn gặp những khó khăn phức tạp như:

     Chế độ ưu đãi thuế hiện hành gồm cả việc ưu đãi thuế bằng thuế suất thu nhập doanh nghiệp, việc miễn  giảm thuế thu nhập doanh nghiệp tính theo số năm nhất định vì thế việc thực hiện gặp không ít khó khăn, nhất là vơí cơ quan quản lý trực tiếp thuế đơn vị được ưu đãi. Mặt khác do ưu đãi bằng nhiều chỉ tiêu nên tính thống nhất không cao.

    Để theo dõi sát quá trình ưu đãi đầu tư đòi hỏi các cơ quan chức năng phải dành nhiều thời gian cập nhật, nắm bắt, quyết toán kịp thời tình hình của doanh nghiệp, nếu không có thể dẫn đến việc áp dụng mức thuế ưu đãi không chính xác, gây thất thu.

     Trong các quy định về ưu đãi thuế đều lấy mốc thời gian là từ khi doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế, như vậy rõ ràng việc ưu đãi thuế nhiều hay ít, dài hay ngắn phụ thuộc vào việc xác định thời gian doanh nghiệp bắt đầu có thu nhập chịu thuế, điều này tạo ra khe hở dẫn đến tiêu cực trong thực hiện chính sách ưu đãi đầu tư của nhà nước

     Các trường hợp thực hiện ưu đãi bổ sung theo quy định là rất phức tạp. Về phía doanh nghiệp để được cấp chứng nhận ưu đãi đầu tư bổ sung phải có phương án sản xuất kinh doanh, báo cáo kết quả thực hiện dự án, phải hạch toán để bóc tách chính xác phần thu nhập tăng thêm do dự án đầu tư mới mang lại, phải có ưu đãi đăng ký đầu tư bổ sung, đó là chưa kể các thủ tục ban đầu của doanh nghiệp. Về phía cơ quan quản lý nhà nước, cần phải kiểm tra sát, chi tiết, xác định đúng kết quả riêng phần dự án đầu tư mới mang lại, vì vậy mất quá nhiều thời gian.

Để tháo gỡ những khó khăn trong việc thực hiện luật khuyến khích đầu tư nên thực hiện theo hướng sau:

    Chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ nên thực hiện bằng thuế suất ưu đãi và năm áp dụng đúng thuế suất thu nhập ưu đãi kể từ khi dự án bắt đầu đi vào hoạt động.

     Nghiên cứu giao việc thông báo các chế độ ưu đãi thuế doanh nghiệp thuộc diện được hưởng ưu đãi đầu tư cho cơ quan thuế cấp tương đương chủ động thực hiện. Như vậy sẽ góp phần làm cho quá trình thực hiện ưu đãi đầu tư kịp thời, nhanh chóng đi vào cuộc sống hơn, đảm bảo tốt lợi ích của doanh nghiệp.

     Về phía tỉnh cần nhanh chóng ban hành chính sách thưởng xuất khẩu và phổ biến đến các doanh nghiệp, ngoài ra cần ban hành chính sách thưởng môi giới đầu tư để thu hút ngày càng nhiều các dự án đầu tư trong nước cũng như dự án đầu đầu tư của nước ngoài tại Điện Biên.

1.5. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong hoạt động xuất nhập khẩu:

     Để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong hoạt động xuất khẩu thời gian tới cần tổ chức thực hiện các giải pháp sau:

 – Tăng cường công tác cung cấp thông tin thị trường cho các doanh nghiệp, phổ biến tập quán tiêu dùng, chính sách xuất, nhập khẩu hàng hoá ở một số thị trường lớn, cũng như đặc điểm, tình hình kinh tế của các thị trường để các doanh nghiệp có thể chủ động trong việc tiếp cận và thâm nhập thị trường.

– Phát triển các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu, phải nhận thức rõ vai trò của các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu và có cơ chế quản lý, chính sác cụ thể nhằm tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi để phát triển các loại hình dịch vụ hỗ trợ cho các hoạt động xuất khẩu. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia cung cấp dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu, phân cấp quản lý các dịch vụ và thường xuyên kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả các ngành dịch vụ. Trước mắt cần đầu tư phát triểnmột số doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thiết yếu như dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, vận tải, giao nhận, kiểm nghiệm quốc tế. Khuyến khích phát triển một số ngành dịch vụ mới và liên doanh liên kết với doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt trong các lĩnh vực tư vấn xuất khẩu, nghiên cứu thị trường, cung cấp thông tin, quảng cáo, hội chợ triển lãm quốc tế, gom hàng, khai thuế hải quan, kho ngoại quan, từng bước hoàn thiện về cơ cấu và chất lượng của dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu. Cần có chính sách ưu đãi các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ như ưu đãi đối với các sản phẩm hàng hoá và doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá bởi cung cấp dịch vụ cho hoạt động xuất khẩu chính xuất khẩu các dịch vụ, còn cung cấp các dịch vụ nhập khẩu chính là cung cấp các dịch vụ thay thế các dịch vụ nhập khẩu nhằm khuyến khích và phát triển các dịch vụ hỗ trợ. Xoá bỏ dần việc bao cấp và độc quyền của một số dịch vụ, mở cửa thị trường dịch vụ theo một lộ trình thích hợp vừa bảo hộ vừa kích thích các doanh nghiệp  cung cấp dịch vụ nâng cao khả năng của mình. Thúc đẩy việc thành lập các hiệp hội ngành nghề dịch vụ, nâng cao nhận thức cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu về hiệu quả sử dụng các dịch vụ.

– Phân công, phân cấp quản lý xuất nhập khẩu giữa các ngành, huyện, thị, rành mạch, thông suốt, Sở thương mại & du lịch quản lý nhà nước về xuất nhập khẩu một cách tổng thể, tập trung nghiên cứu xây dựng môi trường hợp tác, cạnh tranh bình đẳng trong kinh doanh, tổ chức xúc tiến thương mại, xâm nhập các thị trường bên ngoài. Các ngành quản lý sản xuất và huyện, thị phải chăm lo sản xuất, chế biến, tiêu thụ hàng xuất khẩu .

– Kịp thời giải quyết những vướng mắc ở các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu .

– Có chính sách hỗ trợ đào tạo, nhằm nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn cho cán bộ làm công tác ngoại thương, đáp ứng yêu cầu hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.

 – Khuyến khích vận động, thành lập các hiệp hội ngành nghề. Tạo điều kiện thuận lợi cho các hiệp hội hoạt động.

2. Giải pháp nguồn hàng:

2.1.Phát trtiển các mặt hàng chủ lực:

     Tiến hành quy hoạch, hoặc chỉnh lý các dự án thúc đẩy nhanh việc hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung, vùng chuyên canh, gắn sản xuất nông sản nguyên liệu với công nghiệp chế biến và thu mua xuất khẩu để tăng năng suất, chất lượng, tạo nguồn hàng ổn định và tăng sức cạnh tranh trên thị trường, ưu tiên bố trí vốn cho từng ngành để xây dựng dự án.

    Chú trọng đầu tư nghiên cứu khoa học và áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất để tăng năng suất và chất lượng ưu tiên vào những lĩnh vực chọn, nhân giống cây, con như cà phê, sắn, ngô, các laọi đậu, bò, gà, rừng kinh tế,…Đẩy mạnh thu hút vốn FDI, để tranh thủ đổi mới và tiếp thu được công nghệ hiện đại trong các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài. Khai thác, tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu địa phương để tăng hàm lượng nội địa hoá trong các mặt hàng xuất khẩu nhằm tăng thêm giá trị gia tăng trong tổn giá trị sản phẩm xuất khẩu.

2.2.Cần hỗ trợ sản xuất hàng hoá xuất khẩu:

     Bằng cách huy động các nguồn vốn để phát triển cơ sở hạ tầng, tiếp tục cải tiến các hình thức tín dụng, mở rộng chính sách đa dạng hoá các hình thức đầu tư. Xây dựng hệ thống thuỷ lợi đảm bảo đủ nước tưới cho những vùng chuyên canh xuất khẩu. Tiếp tục hoàn thiện về tổ chức các hoạt động khuyến nông, chuyển giao công nghệ tiến bộ xuống tận hộ sản xuất. Phát triển hệ thống giáo dục, từng bước nâng cao dân trí, phát triển hoạt động khuyến nông, chú ý đến các xã vùng sâu, vùng xa, các dân tộc ít người. Mở rộng các lớp tập huấn, giới thiệu và nhân rộng mô hình kinh tế có hiệu quả, tạo phong trào quần chúng mở rộng thi đua là kinh tế giỏi trong nông nghiệp nông thôn. Vận dụng tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng xuất khẩu.

    Cần phát huy hơn nữa vai trò của hợp tác xã trong sản xuất hàng xuất khẩu theo các hướng sau:

    Thứ nhất, cần tiếp tục tuyên truyền sâu rộng nghị quyết 13 về phát triển kinh tế tập thể trong nhân dân, phổ biến rộng rãi các chính sách mới được ban hành liên quan đến kinh tế tập thể cho nhân dân biết, hiểu và nhận thức đúng được quan điểm, đường lối cảu Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế tập thể. Tuyên truyền, nhân rộng các điển hình mới, các mô hình làm ăn hiệu quả trong thực tiễn.

    Thứ hai, Tập trung rà soát những vướng mắc về phía cơ chế, chính sách, đặc biệt là các chính sách ưu đãi về thuế, phí, vốn, công nghệ để tạo điều kiện cho kinh tế tập thể phát triển một cách thực sự có hiệu quả thu hút ngày càng đông nhân dân tham gia hoạt động trong hợp tác xã kiểu mới.

     Thứ ba, tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp đảng, chính quyền, mặt trận, các đoàn thể trong việc quản lý, chỉ đạo hướng dẫn các mô hình kinh tế tập thể, tập huấn kiến thức quản lý cho cán bộ hợp tác xã và phổ biến các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới trong sản xuất tới xã viên. Nhà nước tổ chức phối hợp với các tổ chức xúc tiến thương mại mở rộng thi trường tiêu thụ sản phẩm cho các hợp tác xã, cần phải thường xuyên tổ chức rút kinh nghiệm từ những mô hình hiệu quả để nhân rộng vào thực tiễn sản xuất.

3. Giải pháp thị trường:

 3.1. Thị trường Trung quốc và lào:

     Đối với các thị trường Trung Quốc và Lào cần tăng cường tìm hiểu thông tin về các hội chợ được tổ chức trên hai thị trường này để tổ chức cho các doanh nghiệp trong tỉnh tham gia giới thiệu các mặt hàng xuất khẩu. Cập nhật các thông tin cho các doanh nghiệ xuất khẩu về các vấn đề liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu như các thông tin về chính sách xuất nhập khẩu, chính sách hải quan, nhu cầu hàng hoá,… để các doanh nghiệp nắm được từ đó có kế hoạch điều chỉnh để hoạt động xuất khẩu diễn ra liên tục và đúng luật.

      Đối với thị trường EU và Nhật Bản đây là những thị trường mà các doanh nghiệp trong tỉnh cần hướng tới để xuất khẩu trực tiếp vì vậy cần tìm hiểu nhiều thông tin hai thị trường này về các vấn đề như thông tin chính sách thương mại, những chế định và đòi hỏi cảu thị trường, xu hướng và tập quán tiêu dùng, hệ thống thương mại và phân phối,…

3.2. Thị trường EU:

     Khi xuất khẩu vào EU các nước đang phát triển sẽ được hưởng chính sách ưu đãi phổ cập GSP, theo chính sách này các nước đang phát triển sẽ được miễn tuân thủ nguyên tắc có đi có lại và nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO, mức độ ưu đãi cho các nước đang phát triển tuỳ thuộc vào độ nhạy cảm của hàng hoá, đồng thời EU có cơ chế hỗ trợ nhằm khuyến khích các nước đang phát triển xây dựng và thực hiện các chính sách môi trường, xã hội có liên quan đến thương mại.

      Các hình thức ưu đãi thương mại cảu EU: Chế độ ưu đãi GSP miễn thuế nhập khẩu cho hầu hết các sản phẩm công nghiệp có xuất xứ từ các nước phát triển song đối với hàng nông sản lại thuộc vào nhóm các mặt hàng có tính nhạy cảm cao và thường chịu mức thuế cao so với nhóm hàng khác.

Các quy chế nhập khẩu của EU:

     Thuế nhập khẩu: Do tác động của khối thị trường chung EU khi nhập khẩu vào thị trường này các thủ tục thông quan có tính thống nhất, các khoản thuế nhập khẩu chỉ phải trả tại cửa khẩu vào EU. Nhìn một cách tổng thể mức thuế đối với các mặt hàng nông sản của EU thuộc vào loại cao. Tuy nhiên trong một số trường hợp cụ thể các nước đang phát triển có thể được miễn thuế nhập khẩu vì nhiều lý do khác nhau chẳng hạn như hàng mẫu nhập khẩu không phải để bán, hàng nhập để sửa chữa, hàng tạm nhập.

Khi xuất khẩu vào thị trường EU một số mặt hàng nhạy cảm và các mặt hàng chiến lược cấn có giấy phép nhập khẩu.

Đối với các mặt hàng nông sản khi nhập vào EU  cần có giấy chứng nhận vệ sinh dịch tễ của cơ quan có thẩm quyền xác nhận rằng hàng hoá không bị nhiễm khuẩn hoặc nhiễm bệnh.

Những chế định đòi hỏi của thị trường EU:

      Vấn đề sức khoẻ và an toàn đang ngày càng trở nên quan trọng với EU, các vấn đề này ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất kinh doanh hàng hoá. Khi nhập khẩu vào EU các sản phẩm phải có tính an toàn, sản phẩm an toàn được định nghĩa là sản phẩm không chứa đựng các rủi ro liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến sự an toàn hay sức khoẻ con người thông qua kiểu dáng, thành phần, chức năng, bao gói, hướng dẫn sử dụng hay bất kỳ yếu tố nào của nó.

     Đối với hàng nông sản: Các tổ chức bán lẻ Châu Âu đã xây dựng hệ thống các chỉ dẫn canh tác trong sản xuất nông nghiệp bao gồm các tiêu chuẩn chăm sóc đất trồng, sử dụng phân bón, theo dõi sâu bệnh, bảo vệ mùa màng, thu hoạch, sau thu hoạch, sức khoẻ và sự an toàn của người lao động.        Để đáp ứng các tiêu chuẩn này khi xuất khẩu sang EU các doanh nghiệp cần phải có quá trình chuẩn bị trước từ khâu nguồn hàng vì vậy các nhà quản lý cần có kế hoạch hỗ trợ những nhà sản xuất nông nghiệp biết được những thông tin cần thiết, những thông tin này có thể truy cập trên mạng internet, từ các tạp chí chuyên ngành nghiên cứu về EU.

Chính sách môi trường:

      Ngày nay người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sản phẩm và dịch vụ ở góc độ môi trường. Do đó những sản phẩm được sản xuất trong điều kiện không đảm bảo sẽ mất dần cơ hội trên thị trường. Tại Châu Âu môi trường được coi là điều kiện mặc định cho đàm phán kinh doanh. Sự gia tăng mối quan tâm đến môi truờng đã thúc đẩy EU thiết lập những tiêu chuẩn mới trong lĩnh vực này trong đó bao gồm chính sách quản lý bao bì và phế thải.     Để đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường EU bao bì phải thoả mãn một số điều kiện sau:

     Bao bì phải được sản xuất theo cách sao cho số lượng và trọng lượng được giới hạn nhỏ nhất nhằm duy trì mức độ cần thiết về an toàn vệ sinh và phù hợp với sản phẩm được đóng gói và người tiêu dùng.

    Bao bì phải được thiết kế, sản xuất và sử dụng theo cách có thể tái sử dụng hoặc phục hồi, tái chế và các mức độ ảnh hưởng thấp nhất đến môi trường hoặc công tác xử lý phế thải khi bao bì trở thành phế thải.

       Bao bì phải được sản xuất theo cách sao cho giảm thiểu các chất độc hại gây nguy hiểm và nguyên liệu khó tiêu huỷ cả khi sử dụng lẫn khi trở thành phế thải.

Xu hướng tiêu dùng:

      Người Châu Âu thường không chấp nhận những sản phẩm có chất lượng tồi hoặc trung bình mà họ chú ý đến những sản phẩm có chất lượng cao, đồng thời sản phẩm phải tiếp cận người tiêu dùng với sản phẩm có dịch vụ hấp dẫn. Trong thời đại mà sự chênh lệch chất lượng sản phẩm ngày càng không đáng kể các nhà sản xuất phải sản xuất phải chú trọng hơn đến việc tạo ra sự nổi trội về mức độ và loại hình dịch vụ liên quan đến sản phẩm trào bán và vấn đề môi trường cần được quan tâm khi sản xuất. Sản phẩm khi vào thị trường EU cấn có tính tiện dụng vì ngày càng nhiều phụ nữ ở EU tham gia vào lao động. Mặc dù người tiêu dùng quan tâm nhiều đến chất lượng, dịch vụ và sự tiện dụng không quan tâm nhiều lắm đến giá bán nhưng cần hết sức quan tâm đến giá bán vì trên thị trường không chỉ có một người bán mà mức độ cạnh tranh rất khốc liệt.

Muốn xâm nhập thị trường EU một cách hiệu quả cần chú ý những điểm sau:

      Sẵn sàng đầu tư vào nghiên cứu thị trường và thiết lập các mối quan hệ kinh doanh vì cơ hội kinh doanh xuất khẩu vào một thị trường ổn định không tự dưng mà có.

       Coi thư tín là một hình thức liên lạc quan trọng vì trên thương trường có rất nhiều đối tác. Điện thoại và fax là những phương tiện liên lạc hiệu quả ngoài ra cần sử dụng thư điện tử để tiết kiệm chi phí.

      Khi xâm nhập thị trường này cần đưa ra mức giá cạnh tranh và sử dụng L/C trong thanh toán.

     Sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu của người tiêu dùng và tham dự các hội chợ thương mại.

      Cần có tính trung thực và thẳng thắn về chất lượng hàng hoá, thời gian giao hàng, tuân thủ những yêu cầu về an toàn, sức khoẻ, an ninh và môi trường.

3.3. Thị trường Nhật Bản:

       Đối với  các doanh nghiệp Việt Nam thị trường Nhật Bản luôn là thị trường đầy tiềm năng, các đối tác Nhật Bản luôn là người bạn đáng tin cậy, doanh nghiệp Việt Nam có thể hợp tác đầu tư, nhập khẩu công nghệ, học hỏi kỹ năng quản lý từ các doanh nghiệp Nhật Bản, đồng thời có thể xuất khẩu nhiều hàng hoá và dịch vụ sang thị trường Nhật Bản. Để tiếp cận được thị trường Nhật Bản một thị trường khó tính mang những nét đặc thù các doanh nghiệp Việt Nam phải nghiên cứu và nắm vững từ thị hiếu, nhu cầu, các yêu cầu chất lượng, mẫu mã đến phong cách kinh doanh cũng như những quy định pháp lý đối với hàng hoá nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản. Đây là một thị trường có những hệ thống phân phối phức tạp, quan hệ buôn bán đã hình thành qua nhiều thế hệ vì thế thị trường này rất khó xâm nhập, hàng hoá khi đến tay người tiêu dùng đắt hơn rất nhiều lần giá nhập khẩu điều này các nhà sản xuất phải chấp nhận vì vậy khi đưa ra giá bán không nên dựa vào giá bán lẻ trên thị trường của họ. Vấn đề mà người Nhật Bản quan tâm là chất lượng hàng hoá và thời trang họ luôn tìm kiếm hàng hoá mới trên thị trường. Đê bán được hàng hoá trên thị trường Nhật bản hàng hoá cần được đóng gói cẩn thận, họ rất coi trọng vấn đề đóng gói nếu hàng không được đóng gói đẹp sẽ không bán được.

      Cần hiểu biết về tập quán tiêu dùng, hệ thống phân phối, quy chế nhập khẩu của Nhật Bản.Việc các doanh nghiệp chủ động đi khảo sát thị trường, thăm các siêu thị Nhật Bản để nắm bắt thị hiếu và nhu cầu tiêu dùng của người Nhật Bản là hết sức cần thiết. Thông thường những giao dịch, gặp gỡ ban đầu ít mang lại kết quả cụ thể hoặc nếu có thì cũng chỉ mang tính thử nghiệm là chính, nhưng khi họ đã tin tưởng thì quan hệ làm ăn sẽ bền vững. Các doanh nghiệp cần hiểu rõ các quy định về nhập khẩu, trước hết cần biết mặt hàng đó có được phép nhập không, sau đó cần xem xét luật ngăn ngừa cạnh tranh không bình dẳng, đạo luật thương hiệu, đạo luật thiết kế,… hàng nhập vào thị trường Nhật Bản cần thoả mãn tiêu chuẩn ISO, SA8000 và cần phải có giấy chứng nhận JSA (đói vứi hàng nông sản, thực phẩm), và Ecomark (dấu chứng nhận không làm hại môi trường sinh thái). Doanh nghiệp muốn xuất khẩu sang Nhật Bản có thể xin giấy này tại bộ công thương hoặc bộ nông-lâm-ngư nghiệp Nhật Bản.

         Các doanh nghiệp cần nắm chắc thông tin thị trường một cách thường xuyên, cần tìm đọc, nghiên cứu và xử lý thông tin, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn tin từ các tổ chức xúc tiến thương mại, đặc biệt là từ phòng công nghiệp và thương mại Việt Nam, tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản. Các doanh nghiệp cần có chiến lược đa dạng hoá sản phẩm khi xâm nhập vào thị trường này vì người Nhật luôn đi tìm những sản phẩm mới lạ.

Tích cực tham gia các hội chợ triển lãm quốc tế hoặc mở các văn phòng đại diện tại thị trường Nhật để giới thiệu hàng hoá sản phẩm, trong hoàn cảnh thị trường khu vực và thế giới luôn có sự cạnh tranh cao việc chủ động tìm kiếm thị trường và tiếp xúc bạn hàng, người tiêu dùng sẽ mang lại cơ hội thành công cho doanh nghiệp nhất là trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp nhiều địa phương còn thiếu nhiều thông tin về thị trường Nhật Bản vì vậy cần phải thành lập các trung tâm giới thiệu sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam tại Nhật Bản.

Tích cực tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các nhà tư vấn Nhật Bản trong việc cải cách mẫu mã sản phẩm để đáp ứng thị hiếu của người Nhật.

3.4. Sử dụng mạng internet trong xúc tiến xuất khẩu:

      Internet là một phương tiện trao đổi thông tin nhanh chóng, đáng tin cậy và tiết kiệm thông qua thư điện tử. Sử dụng thư điện tử một cách có hiệu quả sẽ mang lại cho doanh nghiệp một công cụ thông tin liên lạc thú vị trong việc tăng cường khai thác các mối quan hệ. Bên cạnh đó nó là phương tiện trợ giúp đắc lực cho hoạt động nghiên cứu thị trường của các doanh nghiệp, cho dù doanh nghiệp rất xa thị trường đó. Nó cũng là phương tiện cũng là phương tiện mới phục vụ cho hoạt động xúc tiến thương mại và làm tăng thêm giá trị cho tiếp thị tổng hợp thông qua các trang web, thư điện tử trực tiếp và triển lãm ảo.

      Trong nghiên cứu thị trường, các nhà sản xuất, các doanh nghiệp và các tổ chức xúc tiến thương mại ở các nước bị thiếu thông tin nhận thấy rằng có thể bù đắp sự thiếu hụt thông nhanh chóng với chi phí thấp. Thông qua internet có thể truy cập các thu viện về cơ sở dữ liệu toàn cầu và nắm được các thông tin trên toàn thế giới. Các thông tin về xu hướng thị trường, giá cả, luật lệ, hội chợ thương mại, danh mục các đối tác có thể được truy cập 24/24 giờ trong một ngày và 7 ngày trong một tuần các thông tin này thường là miễn phí. Vấn đề đặt ra là làm thế nào không bị ngập trước một khối thông tin đồ sộ đó mà cần có cách sử dụng internet một cách có hệ thống và có sự lựa chọn các thông tin, nên nhớ rằng đầu vào đầu vào quyết định đầu ra, nếu ta không chọn đúng câu hỏi thì sẽ không nhận được câu trả lời đúng vì vậy khi tiến hành tìm kiếm thông tin ta phải sử dụng các công cụ tìm kiếm trên internet như google, lysco, yahô, excite,…

      Internet tạo một phương tiện cho các kế hoạch xúc tiến bán hàng, cả cho công ty và các tổ chức hỗ trợ thương mại. Việc có một trang web ngoài ý nghĩa tạo nên hình ảnh của một tổ chức hiện đại còn cung cấp khả năng thể hiện sinh động và không gian quảng cáo, lý lịch công ty, catalo, các tài liệu có thể được số hoá và đưa vào trang web. Bằng việc đưa vào trang web một số tài liệu hỗ trợ một công ty có thể tiết kiệm được chi phí in , khả năng cập nhật thông tin ở mọi lúc, mọi nơi không cần kinh phí lớn.

Để quảng cáo cho website của minh doanh gnhiệp có thể sử dụng các nút bấm và các biểu ngữ khác nhau đưa vào các trang web khác từ đó sẽ thu hút được sự chú ý của khách hàng đối với trang web của công ty mình.

         Doanh nghiệp có thể sử dụng trang web để tổ chức cuộc triển lãm ảo, trong đó hình ảnh sản phẩm được đi kèm với một bản thống kê đầy đủ các thông tin về chất lượng sản phẩm, điều kiện giao hàng, mặc dù cuộc triển lãm ảo không được hiệu quả như một hội chợ thương mại cụ thể nhưng nó cũng có tác dụng nhất định trong xúc tiến bán hàng của doanh nghiệp.

Thư điện tử là một phương tiện liên lạc tuyệt vời đối với việc duy trì quan hệ với đối tác thương mại, nó đã trở thành một phương thức liên lạc chủ yếu của giới kinh doanh trên toàn cầu. Trong quá trình hoạt động trang web cần được kết nối với các tổ chức xúc tiến thương mại trong nước để quảng bá về công ty.

4. Giải pháp cho doanh nghiệp:

4.1.Tổ chức lại sản xuất và xây dựng thương hiệu:

       Hiện nay chúng ta đa ở trong thời đại mà sự hội nhập và hợp tác quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ, quan hệ cung cầu hàng hoá do thị trường điều tiết. Quan điểm kinh doanh chúng ta bán những gì chúng ta có không còn thiết thực nữa mà thay vào đó là quan điểm thị trường tức là chúng ta sẽ bán những hàng hoá mà thị trường cần. Từ thực tế đó cần có sự tổ chức lại quá trình sản xuất, trước hết doanh nghiệp cần nghiên cứu thu thập và xử lý những thông tin về thị trường mà doanh nghiệp hướng tới xuất khẩu. Qua các thông tin về thị trường doanh nghiệp sẽ biết được thị trường đòi hỏi hàng hoá chất lượng như thế nào, giá cả và dịch vụ nào sẽ làm thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Nắm bắt được những thông tin này sẽ là cơ sở để doanh nghiệp đưa ra hướng sản xuất sản phẩm đáp ứng đến mức tối đa các đòi hỏi của doanh nghiệp, doanh nghiệp cần lựa chọn sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng có nhiều lợi thế nhất để có thể cạnh tranh trên thị trường một cách cao nhất.

         Doanh nghiệp cần phải xây dựng thương hiệu hàng hoá của mình. Đặc điểm của nền kinh tế hiện nay như đã nói ở trên là quá trình hội nhập các nền kinh tế trên thế giới thành một thể thống nhất. Tổ chức thương mại thế giới hiện nay bao gồm phần lớn các nước trên thế gới, các nước đang chuyển đổi cũng đang ráo riết chuẩn bị đàm phán gia nhập tổ chức này. Trong khu vực Việt Nam là thành viên của ASEAN vì thế đang trong quá trình hội nhập AFTA với tiến trình này đầu tư của các nước ASEAN vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam sang các nước này sẽ ngày càng tăng. Để kinh doanh có hiệu quả hàng hoá cần có một thương hiệu riêng để hàng hoá của doanh nghiệp có thể phân biệt với hàng hoá của các doanh nghiệp khác ở các nước khác nhau và thương hiệu cần được đăng ký quyền sở hữu. Trước mắt các doanh nghiệp cần rà soát lại kế hoạch xuất khẩu trong vài ba năm tới. Những mặt hàng nào chưa có nhãn hiệu hoặc nhãn hiệu chưa đăng ký bảo hộ nên tiến hành đăng ký, đối với các sản phẩm nông nghiệp các doanh nghiệp cần phối hợp với nhau để xây dựng thương hiệu và xuất xứ cho những sản phẩm đó. Về lâu dài các doanh nghiệp cần chuẩn bị các điều kiện cần thiết để quản lý thương hiệu của mình. Phải bố trí nhân lực có hiểu biết để phụ trách về sở hữu trí tuệ và xây dựng chiến lược kinh doanh chung của doanh nghiệp. Trong đó, cần đặc biệt lưu ý đến vấn đề thông tin sở hữu trí tuệ gắn hàng với mặt hàng xuất khẩu.

4.2. Đầu tư đổi mới công nghệ:

        Người tiêu dùng ngày càng coi trọng chất lượng hàng hoá, để có thể giữ được sự tín nhiệm của khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp cần có kế hoạch đổi mới trang thiết bị, công nghệ sản xuất để sản xuất ra những mặt hàng chất lượng cao và có giá cả cạnh tranh. Để có nguồn vốn tài trợ cho đổi mới công nghệ sản xuất các doanh nghiệp có thể huy động từ những nguồn như từ quỹ hỗ trợ phát triển, từ nguồn vốn liên doanh với nước ngoài, trong tương lai cần có kế hoạch cổ phần hoá các doanh nghiệp xuất khẩu để tạo ra nguồn vốn đủ mạnh cho đổi mới trang thiết bị. Những thiết bị và công nghệ nhập vào cần có sự kiểm định chất lượng và thẩm định giá để tránh tình trạng nhập phải thiết bị và công nghệ lạc hậu sẽ làm ảnh hưởng đến tăng trưởng lâu dài của doanh nghiệp.

4.3.Đào tạo cán bộ kinh doanh xuất nhập khẩu:

       Đội ngũ cán bộ kinh doanh xuất nhập khẩu chuyên nghiệp của tỉnh hiện nay có thể nói là còn thiếu, các doanh nghiệp hầu như mới chú trọng vào thị trường trong nước. Để nâng cao nghiệp vụ xuất nhập khẩu cho cán bộ các doanh nghiệp nên cử cán bộ tham gia những lớp đào tạo nghiệp vụ ngắn hạn ở những trường và trung tâm đào tạo chuyên ngành, tổ chức thăm quan học hỏi kinh nghiệm xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp trong nước.

 PHẦN KẾT LUẬN

 

         Sở thương mại – du lịch Điện Biên là cơ quan chuyên môn giúp UBND tỉnh quản lý hoạt động thương mại, tham mưu cho tỉnh những vấn đề có liên quan đến hoạt động thương mại, du lịch. Đồng thời hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện tốt chủ trương chính sách của nhà nước về thương mại, tham gia góp ý vào việc đưa ra, sửa đổi, bổ sung cách chính sách, pháp luật của nhà nước. Một trong những chức năng đó là hoạt động quản lý xuất nhập khẩu, với đặc thù là một tỉnh miền núi lại ở xa các trung tâm kinh tế lớn của khu vực và cả nước, điều kiện giao thông lại khó khăn nên hoạt động xuất nhập khẩu của tỉnh Điện Biên gặp không ít khó khăn. Bất chấp những khó khăn đó với những đường lối chính sách đúng đắn của nhà nước sự chỉ đạo sát của tỉnh mà trực tiếp là sở thương mại du lịch Điện Biên đã thu được những thành tựu đáng kể trong xuất khẩu. Dựa trên chức năng, nhiệm vụ của sở thương mại và du lịch đề tài: ” Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hoá qua biên giới Điện Biên của sở thương mại và du lịch Điện Biên” đã thể hiện tầm quan trọng của xuất nhập khẩu đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Điện Biên. Phân tích thực trạng xuất nhập khẩu hàng hoá của tỉnh trong thời gian qua, đưa ra một số thông tin quan trọng về thị trường EU và Nhật Bản. Đồng thời đưa ra một số giải pháp như giải pháp cho doanh nghiệp, giải pháp tạo nguồn hàng, nhằm đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xuất khẩu. Do thời gian có hạn và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên trong đề tài của em không tránh khỏi những khiếm khuyết, em mong nhận được sự chỉ bảo tận tình của cô giáo để đề tài của em được hoàn thiện hơn. Cuối cùng em xin cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Dương Thị Ngân , sự giúp đỡ tận tình của các cô, chú cán bộ sở thương mại – du lịch Điện Biên đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Nghị quyết hội nghị BCH đảng bộ tỉnh lần thứ X.

2. Báo cáo xuất nhập khẩu của sở thương mại- du lịch Điện Biên giai đoạn 2002 – 2004.

3. Báo cáo tình hình hợp tác với các tỉnh Bắc Lào của sở thương mại – du lịch Điện Biên.

4. Văn bản về chính sách ưu đãi thu hút đầu tư tại Điện Biên.

5. Tạp chí Tài chính doanh nghiệp số 1+2/ 2005, số 3/2005.

6. Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn kỳ 1 tháng 3 năm 2005.

7. Tạp chí Thuế nhà nước tháng 3/2005

8. Luật thương mại Việt Nam

9. Sách xuất khẩu sang thị trường EU của cục xúc tiến thương mại Việt Nam

10. Sách 30 năm quan hệ hợp tác hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản

11. Website http://www.dulichdienbienphu.gov.vn của sở du lịch thươngg mại Điện Biên.

12. Website http://www.thuongmaidientu.com

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , , , , , , , , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s