Một số biện pháp đẩy mạnh hoạt động nhập khẩu của Công ty xuất nhập khẩu và kỹ thuật bao bì – Packexport


MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

       Ở Việt Nam hiện nay nhập khẩu giữ vai trò hết sức quan trọng, nó là nhân tố phát huy sức mạnh của nền kinh tế trong nước. Những năm qua Đảng và Nhà nước ta thực hiện chủ trương đổi mới là công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng xuất khẩu và thay thế nhập khẩu. Tuy vậy không vì thế mà nhập khẩu giảm sút mà vẫm tăng theo nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước, theo mục tiêu xuất khẩu và theo xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, thương mại quốc tế không ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.

      Để thực hiện chủ trương đường lối của Nhà nước, không còn cách nào khác là phảI xuất khẩu chứ không phảI là giảm nhập khẩu. Nhưng nhập khẩu đảm bảo phảI có hiệu quả, điều đó phụ thuộc lớn vào hiệu quả xuất khẩu từ bản thân các doanh nghiệp.Đó không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp mà còn của toàn bộ nền kinh tế hiện nay.

       Công ty là một dơn vị kinh doanh xuất khẩu trực thuộc Bộ Thương Mại, Công ty xuất nhập khẩu và kỹ thuật bao bì không ngừng phát triển chứng tỏ uy tín của một công ty hàng đầu trong ngành bao bì của cả nước. Tuy nhiên trong tình hình mới, hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty mà trong đó kinh doanh nhập khẩu chiếm vị trí quan trọng và quyết định đang đứng trước khó khăn và trở ngại. Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của công ty chưa được duy trỳ ổn định và chưa được cảI thiện đáng kể, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoàI công ty. Việc đánh giá hoat động kinh doanh nhập khẩu của công ty để đề ra một ssó biện pháp nâng đẩy mạnh hoạt động nhập khẩu có tầm quan trọng đặc biệt và có ý nghĩa thiết thực hiện nay. Từ đó em quyết định lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp đẩy mạnh hoạt động nhập khẩu của Công ty xuất nhập khẩu và kỹ thuật bao bì – Packexport”.

2.Mục đích nghiên cứu

     Đề xuất những biện pháp thiết thực đối với Công ty và kiến nghị một số vấn đề với Nhà nước tạo điều kiện cho Công ty đẩy mạnh hoạt động nhập khẩu của mình góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế nói chung

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    Hoạt động nhập khẩu của Công ty xuất nhập khẩu và kỹ thuật bao bì từ năm 2001-2004.

4. Kết cấu chuyên đề

Ngoài phần mở đầu và kết luận chuyên đề tốt nghiệp gồm 3 chương:

Chương 1 : những lí luận cơ bản về nhập khẩu và hoạt động kinh doanh nhập khẩu của Công ty

Chương 2: Phân tích thực trang hoạt động nhập khẩu ở Công ty xuất nhập kghẩu và kỹ thuật bao bì

Chương 3 : Một số giảI pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh hoạt động nhập khẩu ở Công ty xuất nhập khẩu và kỹ thuật bao bì thời gian tới

CHƯƠNG I

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHẬP KHẨU VÀ

HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU

I.Một số vấn đề chung về nhập khẩu của doanh nghiệp

1. KháI niệm nhập khẩu

     Nhập khẩu của doanh nghiệp là hoạt động mua hàng hóa và dịch vụ từ nước ngoàI phục vụ cho nhu cầu trong nước hoặc táI xuất nhằm phục vụ mục đích thu lợi nhuận. Hay nhập khẩu là việc mua hàng hóa từ các tổ chức kinh tế, các công ty nước ngoàI và tiến hành tiêu thụ hàng hóa nhập khẩu tại thị trường nội địa hoặc táI xuất khẩu với mục đích thu lợi nhuận và nối liền sản xuất với tiêu dùng

2.Các đặc điểm cơ bản của hoạt động nhập khẩu

     Thị trường nhập khẩu rất đa dạng : Hàng hoá và dịch vụ có thể được nhập khẩu từ nhiều nước khác nhau. Dựa trên lợi thế so sánh của m_I quốc gia khác nhau mà các doanh nghiệp có nhiều cơ hội để mở rộng,thu hẹp hay thay đổi thị trường nhập khẩu của mình.

     – Đầu vào( nguồn cung ứng trong đó có nguôn nhập khẩu ), đầu ra ( khách hàng ) của doanh ngiệp rất đa dạng thường thay đổi theo nhu cầu của người tiêu dùng trong nước. Nguồn cung ứng hoặc đầu ra có thể ổn định, tập trung hoặc đa dạng phu thuộc vào điều kiện kinh doanh của công ty, khả năng thích nghi và đáp ứng cầu thị trường cũng như biến dộng của nguồn cung ứng.

      – Phương thức thanh toán : Trong kinh doanh nhập khẩu các bên sử dụng nhiều phương thức thanh toán , việc sử dụng phương thức thanh tóan nào là do hai bên tự thỏa thuận được quy định trong điều khoản của hợp đồng và trong kinh doanh nhập khẩu thường sử dụng các ngoại tệ mạnh chủ yếu là USD để thanh toán. Vì vậy mà thanh toán trong nhập khẩu phụ thuộc rất lớn vào tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền nội tệ(VND) và ngoại tệ.

          – Chịu sự chi phối của nhiều hệ thống luật pháp, thủ tục:Hoạt động nhập khẩu có sự tham gia của nhiều đối tác có quốc tịch khác nhau nên chịu sự chi phối bởi các hệ thống luật pháp và các thủ tục liên quan của nhiều nước khác nhau.

– Việc trao đổi thông tin với đối tác phảI được tiến hành nhanh chóng thông qua các phương tiện công nghệ hiện đại hơn như Telex, Fax. Đặc biệt trong thời đại thông tin hiện nay giao dịch qua thư điện tử, qua hệ thống mạng internet hiện đại là công cụ phục vụ đắc lực cho kinh doanh.

          –  Về phương thức vận chuyển: Hoạt động nhập khâủ liên quan trực tiếp đến yếu tố nước ngoàI, hàng hóa được vận chuyển qua biên giới các quốc gia, có khối lượng lớn và được vận chuyển qua đường biển, đường hàng không, đường sắt và vận chuyển vào nội bộ bằng các xe có trọng tảI lớn …Do đó hoạt động nhập khẩu đòi hỏi chi phí vận chuyển   lớn làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

3.Các hình thức nhập khẩu

        Các hình thức hoạt động kinh doanh nhập khẩu thông dụng ở nước ta hiện nay.

3.1. Nhập khẩu trực tiếp

       Hàng hóa được mua trực tiếp từ nước ngoàI không thông qua trung gian. Bên xuất khẩu giao hàng trực tiếp cho bên nhập khẩu. Trong hình thức này, doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu phảI trực tiếp làm các hoạt động tìm kiếm đối tác, đàm phán kí kết hợp đồng… và phảI tự bỏ vốn để kinh doanh hàng nhập khẩu, phảI chịu mọi chi phí giao dịch, nghiên cứu thị trường,giao nhận lưu kho bãI, nộp thuế tiêu thụ hàng hóa. Trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trường trong nước và quốc tế, các doanh nghiệp tính toán chính xác chi phí, tuân thủ đúng chính sách, luật pháp quốc gia và pháp luật quốc tế.

 3.2. Nhập khẩu ủy thác

         Là hình thức nhập khẩu gián tiếp thông qua trung gian thương mại. Bên nhờ ủy thác sẽ phảI trả một khoản tiền cho bên nhận ủy thác dưới hình thức phí ủy thác, còn bên nhận ủy thác có trách nhiệm thực hiện đúng nội dung của hợp đồng ủy thác đã được kí kết giữa các bên.

        Hình thức này giúp cho doanh nghiệp nhận ủy thác không mất nhiều chi phí, độ rủi ro thấp nhưng lợi nhuận từ hoạt động này không cao.

 3.3 Nhập khẩu hàng đổi hàng

       Nhập khẩu hàng đổi hàng là hai nghiệp vụ chủ yếu của buôn bán đối lưu, nó là hình thức nhập khẩu đI đôI với xuất khẩu. Hoạt động này được thanh toán không phảI bằng tiền mà chính là hàng hóa. Hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu có giá trị tương đương nhau.

3.4Nhập khẩu liên doanh

       Là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp, trong đó có ít nhất một bên là doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp nhằm phối hợp các kĩ năng để cùng giao dịch và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu. Quyền hạn và trách nhiệm của mỗi bên được quy định theo tỷ lệ vốn đóng góp.

        Doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trực tiếp trong liên doanh phảI kí hai loại hợp đồng.

 3.5 Nhập khẩu gia công

       Nhập khẩu gia công là hình thức nhập khẩu theo đó bên nhập khẩu( là bên nhận gia công) tiến hành nhập khẩu nguyên vật liệu từ phía người xuất khẩu(bên đặt gia công)về để tiến hành gia công theo những quy định trong hợp đồng ký kết giữa hai bên

II. Nội dung của hoạt động nhập khẩu.

  1. 1.     Nghiên cứu thị trường nhập khẩu

 Công việc nghiên cứu thị trường của một doanh nghiệp nhập khẩu gồm có

_ Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu

_ Nghiên cứu thị trường và các nhân tố ảnh hưởng tới dung lượng thị trường

_ Nghiên cứu quan hệ cung cầu hàng hóa và sự biến động của chúng

_ Nghiên cứu giá cả hàng hóa nhập khẩu.

_ xác định mức giá nhập khẩu thấp đối với thị trường có quan hệ giao dịch.

      Trên cơ sở phân tích đúng đắn ảnh hưởng của nhân tố tới giá cả, cho phép nắm được xu thế biến động của chúng, từ đó xác định mức giá cho mặt hàng mà doanh nghiệp có kế hoạch nhập khẩu đối với thị trường mà doanh nghiệp sẽ giao dịch.

2.Lựa chọn phương thức giao dịch nhập khẩu.

a.Giao dịch trực tiếp  :

     Là phương thức giao dịch được thực hiện ở mọi nơI, mọi lúc. Người bán và người mua trực tiếp quan hệ bằng cách gặp gỡ trực tiếp hoặc qua thư từ để bàn bạc và thỏa thuận với nhau về hàng hóa, giá cả và các điều kiện giao dịch. Những nội dung này được thỏa thuận một cách tự nguyện. Hoạt động mua bán theo phương thức này thì bên mua và bên bán là những người có trụ sở ở các quốc gia khác nhau, đồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ đối với một trong hai bên hoặc đối với cả hai bên, hàng hóa là đối tượng của giao dịch được di chuyển qua khỏi biên giới của một nước

b. Giao dịch qua trung gian.

       Là giao dịch giữa người mua và ngươì bán, mọi việc kiến lập quan hệ giữa người bán với người mua việc quy định các điều kiện mua bán đều phảI thông qua một người thứ ba.Người thứ ba này gọi là người trung gian buôn bán, phổ biến là đại lý và môI giới

–  Đại lý: là tự nhiên nhân hoặc pháp nhân tiến hành một hay nhiều hành vi theo sự ủy thác của người ủy thác. Quan hệ giữa người ủy thác với đại lí là quan hệ hợp đồng đại lí

 –  MôI giới : là loại thương nhân trung gian giữa người mua và người bán, được người mua ủy thác tiến hành mua hàng hóa hay dịch vụ. Khi tiến hành nghiệp vụ, người môI giới không được phép đứng tên của chính mình, mà đứng tên của người ủy thác, không chiếm hữu hàng hóa và không chịu trách nhiệm cá nhân trước người ủy thác về việc khách hàng không thực hiện hợp đồng.Quan hệ giữa người ủy thác với người môI giới dựa trên sự ủy thác từng lần, chứ không dựa vào hợp đồng dàI hạn

c.Buôn bán đối lưu

     Là một phưong thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng trao đổi với nhau có giá trị tương đương,ở đây mục đích của xuất khẩu không phảI nhăm thu về một khoản ngoại tệ, mà thu về một hàng hóa có giá trị tương đương

d.Đấu thầu quốc tế

    Là một phương thức giao dịch đặc biệt trong đó người mua( người gọi thầu) công bố trước các điều kiện mua hàng để người bán (người dự trhầu ) báo giá cả và các điều kiện trả tiền, sau đó người mua sẽ chịu mua của người bán giá rẻ nhất và điều kiện tín dụng phù hợp hơn cả với những điều kiện mà người mua đã nêu

e. Giao dịch tại sở giao dịch hàng hóa

      Sở giao dịch hàng hóa là một thị trường đặc biệt tại đó thông qua những người môI giới do sở giao dịch chỉ định, người ta mua bán hàng hóa có khối lượng lớn, có tính chất cùng loại, có phẩm chất và có thể thay thế được với nhau.Giá công bố tại sở giao dịch có thể được coi là một tàI liệu tham khảo trong việc xác định giá quốc tế

g.Giao dịch tại hội trợ triển lãm

      Hội chợ là thị trường hoạt động định kỳ, được tổ chức vào một thời gian và ở một địa điểm cố định trong một thời hạn nhất định, tại đó người bán đem trưng bày hàng hóa của mình và tiếp xúc với người mua để ký kết hợp đồng mua bán

     Triển lãm là việc trưng bày giới thiệu những thành tựu của nền kinh tế hoặc của một ngành kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật.


3. Kí kết hợp đồng nhập khẩu

a. KháI niệm về hợp đồng nhập khẩu

       Hợp đồng nói chung là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên nhằm mục đích tạo lập, chuyển dịch, biến đổi hay chấm dứt một nghĩa vụ.

       Hợp đồng nhập khẩu là sự thoả thuận của những đương sự có quốc tịch khác nhau trong đó một bên là bên bán(xuất khẩu) có nghiã vụ phảI chuyển quyền sở hữu cho bên mua (nhập khẩu )một khối lượng hàng hóa nhất định, bên mua có nghĩa vụ trả tiền và nhận hàng

b.Những điều khoản cơ bản của một hợp đồng ngoại thương

       Trong quá trình buôn bán với nước ngoàI, việc vận dụng chính xác các điều kiện giao dịch có ý nghĩa quan trọng. Giao dịch buôn bán quốc tế thường xảy ra những tranh chấp, do các bên không thống nhất và hiểu lầm nội dung của hợp đồng buôn bán. Từ đó một số điều khoản cơ bản cảu hợp đồng ra đời nahừm thống nhất quyền lợi, Nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia ký kết hợp đồng

        Trong buôn bán quốc tế có rất nhiều điều khoản giao dịch song chủ yếu cần nắm vững điều kiện sau:

-Điều kiện tên hàng : Tên hàng phảI đảm bảo chính xác để các bên mua bán đều hiểu và thống nhất. Do vậy ngoàI tên chung còn cần phảI gắn với ký mã hiệu hoặc địa danh tên hãng… cơ quan có trách nhiêm cấp giấy phép giữ bản quyền

-Điều kiện phẩm chất: Hợp đồng cần ghi rõ tiêu chuẩn quy định phẩm chất hàng hóa. Có thể căn cứ vào mẫu hàng, vào các tàI liệu kỹ thuật, nhãn hiệu hàng hóa, hay căn cứ vào một tiêu chuẩn được tập quán thương mại quốc tế công nhận

-Điều kiện số lượng : M_I hàng hóa,m_I nước hay m_I khu vực có cách số lượng khác nhau. Khi giao dịch mua bán cần thống nhất cách tính số lượng hàng hóa.Thong thường người ta dùng hệ mét đẻ tính số lượng hàng hóa

-Điều kiện bao bì : Các bên buôn bán thường thỏa thuận với nhau những vấn đề về yêu cầu chất lượng của bao bì, phương hướng cung cấp bao bì và giá cả bao bì

-Điều kiện cơ sở giao hàng : Là điều kiện cơ bản trong hợp đồng thương mại quốc tế. Nó phản ánh mối quan hệ hàng hóa với điều kiện giao hàng(như địa điểm giao hàng và cac yếu tố cấu thành giá

-Điều kiện giá cả:

          + Đồng tiền tính giá : Giá cả buôn bán quốc tế có thể được thể hiện bằng đồng tiền cuả nước xuất khẩu hoặc của nước nhập khẩu hoặc của một nước thứ ba, nhưng phảI là đồng tiền ổn định và tự do chuyển đổi được

+ Mức giá: Giá cả trong các hợp đồng là giá quốc tế

+ Phương pháp quy định giá: Tùy theo thỏa thuận trong hợp đồng, GIá có yhể được quy định theo các loại sau:

    * Giá cố định: Là loại giá được quy định lúc ký kết hợp đồng và không thay đổi trong cả quá trình hiệu lực. Giá cố định dùng trong các hợp đồng giao hàng ngay hay giao trong thời hạn ngắn, có khi giao hàng trong thời gian dài cũng dùng giá cố định

    * Giá quy định sau: Là giá được quy định trong quá trình thực hiện hợp đồng. Trong hợp đồng xác định thời điểm định giá và nguyên tắc xác định mức giá để hai bên tính toán.

    * Giá có thể điều chỉnh lại: Giá được xác định trong hợp đồng lúc ký kết, nhưng trong hợp đồng có quy ước: Nếu lúc thực hiện hợp đồng giá thị trường tăng hay giảm thì giá đã ghi trong hợp đồng sẽ thay đôỉ theo quy ước tăng hay giảm. Thường mức chênh lệch thấp nhất giữa giá hợp đồng so với giá thị trường là 2- 5% thì không được tính lại.

    * Giá di động: Giá chỉ tính dứt khoát lúc thực hiện hợp đồng bằng điều chỉnh giá cả cơ sở đã ghi trong hợp đồng tính đến thay đổi về chi phí sản xuất trong quá trình chuẩn bị hàng.

    + Giảm giá: Giá công bố và giá thật chênh lệch nhau vì người mua được giảm giá khi ký kết hợp đồng. Giảm giá có thể vì tiền được trả ngay, mua khối lượng lớn hay vì khách quen,…Các loại giảm giá:

  •     Giảm giá do trả tiền sớm: Loại giảm giá này được sử dụng khi giá tham khảo đã dự kiến bán chịu một thời gian ngắn, nhưng nếu người mua trả lại sớm thì được giảm giá
  • Giảm giá thời vụ dành cho những người mua hàng tráI thời vụ chăm bón thì được giảm khoảng 15%so với giá tham khảo
  • Giảm giá do hoãn lại hàng mà trước đó đã mua
  • Giảm giá đối với những thiết bị đã dùng rồi đôI khi đạt tới 50%so với giá thiết bị đo lúc còn mới
  • Giảm giá do mua với số lượng lớn
  • Giảm giá đơn thường được biểu hiện bằng một mức % nhất định so với giá hàng
  • Giảm giá kép là một chu_I liên hoàn các giảm giá đơn mà người mua được hưởng do nhiều nguyên nhân khác nhau

-Điều khoản giao hàng.

       Nội dung cơ bản là xác định thời hạn, thời điểm, phương thức và việc thông báo giao hàng.

    + Trong hợp đồng cần ghi rõ thời hạn giao hàng: Giao hàng không đúng thời hạn quy định có thể gây thiệt hại lớn và chịu trách nhiệm, có thể phải trả tiền phạt.

    + Điểm giao hàng: Trên thực tế người nhập khẩu thường chỉ định bến đi và bến đến cho hàng hoá.

    + Phương thức giao hàng: Về sơ bộ cuối cùng hay giao nhận về số lượng, chất lượng.

    + Thông báo giao hàng: Quy định số lần thông báo và nội dung thông báo khi người bán giao hàng xong.

– Điều kiện thanh toán trả tiền    `

+ Đồng tiền thanh toán: Phải là đồng tiền ổn định, tự do chuyển đổi trên thị trường tiền tệ quốc tế, có thể là đồng tiền của bên xuất hoặc bên nhập hoặc là của nước thứ ba

 +Thời hạn thanh toán: Có thể trả ngay, trả trước hay trả sau hoặc có thể kết hợp các loại hình đó với nhau trong một hợp đồng.

         + Phương thức thanh toán: Có nhiều phương thức trả tiền nhưng chủ yếu trong thanh toán quốc tế dùng hai phương thức sau:

  • Phương thức nhờ thu: Là phương thức thanh toán trong đó người bán hàng sau khi giao hàng hoá – dịch vụ uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền của người mua hàng hoá – dịch vụ.
  • Phương thức tín dụng chứng từ: Theo phương thức này, ngân hàng theo yêu cầu của bên mua, mở một thư tín dụng L/C với nội dung như đã ghi trong hợp đồng mua bán. Có nhiều loại thư tín dụng sau đây

# Thư tín dụng hủy ngang( Revocable L/C) là thư tín dụng có thể được hủy bỏ hoặc sửa đổi bất cứ lúc nào mà không báo trước cho người bán.

#  Thư tín dụng không thể hủy ngang( Irrevoccable L/C) là loại L/Ctrong thười hạn hiệu lực của nó,ngân hàng không có quyền sử dụng, hủy bỏ hay sửa đổi nội dung của L/Cnếu không có sự đồng ý của các bên có liên quan

– Điều kiện khiếu nại

          KHiếu nại là việc một bên yêu cầu bên kia phảI giảI quyết những tổn thất mà bên kia gây ra, hoặc những vi phạm đều được cam kết giữa hai bên

      c/ Phương pháp ký hợp đồng.

     Việc giao dịch đàm phán nếu có kết quả sẽ dẫn tới việc ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương. Hợp đồng dưới hình thức văn bản có thể được thành lập dưới nhiều cách như:

    – Hợp đồng gồm một văn bản, trong đó ghi rõ nội dung buôn bán, mọi điều kiện giao dịch đã thoả thuận và có chữ ký của hai bên.

    – Hợp đồng gồm nhiều văn bản như: điện báo, thư từ giao dịch, chẳng hạn hợp đồng gồm hai văn bản như đơn chào hàng cố định của người bán, chấp nhận của người mua và chấp nhận của người bán.

    Hình thức văn bản của hợp đồng là bắt buộc đối với các đơn vị xuất nhập khẩu của ta trong quan hệ với các nước.

     */ Có nhiều cách ký kết hợp đồng đó là:

    – Hai bên ký kết vào một hợp đồng mua bán (một văn bản).

    – Người mua xác nhận (bằng văn bản) là người mua đồng ý với các điều khoản của thư chào hàng tự do. Nếu người mua viết đúng thủ tục cần thiết và gửi trong thời hạn quy định cho người bán.

    – Người bán xác nhận (bằng văn bản) đơn đặt hàng của người mua. Trường hợp này hợp đồng thể hiện bằng hai văn bản: đơn đặt hàng của người mua và văn bản xác nhận của người bán.

   – Trao đổi bằng thư xác nhận đạt được thoả thuận giữa các bên (nêu rõ các thoả thuận đã thoả thuận).

        4.Tổ chức thực hiện  hợp đồng nhập khẩu.

      Các bước thực hiện hợp đồng gồm có:

           a/ Xin giấy phép nhập khẩu:

      Giấy phép nhập khẩu là một biện pháp quan trọng để Nhà nước quản lý xuất nhập khẩu. Giấy phép do Bộ Thương mại cấp. Để được cấp giấy phép nhập khẩu, doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải có điều kiện:

    – Thành luật theo đúng luật pháp và cam kết tuân thủ các quy định của luật pháp hiện hành.

    – Doanh nghiệp có mức vốn lưu động tối thiểu tính bằng đồng Việt Nam tương đương với 200.000 USD tới thời điểm đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu.

    – Hoạt động theo đúng ngành nghề đã đăng ký kinh doanh khi thành lập doanh nghiệp.

      Doanh nghiệp được cấp giấy phép nhập khẩu phải có nghĩa vụ nộp lệ phí (một lần) bằng tiền Việt Nam. Mức lệ phí cũng như việc nộp và sử dụng lệ phí do Bộ Tài chính và Bộ Thương mại quy định.

       b/ Mở thư tín dụng L/C.

      Nếu hợp đồng quy định thanh toán bằng phương thức thư tín dụng chứng từ thì bên mua phải mở L/C ở ngân hàng khi có thông báo từ bên bán.

      Thời gian mở L/C phụ thuộc vào thời hạn giao hàng. Cơ sở mở L/C là các điều khoản của hợp đồng. Đơn vị hợp đồng dựa vào cơ sở đó, làm đơn xin mở L/C theo mẫu của ngân hàng.

      c/ Thuê tàu chở hàng.

      Trong quá trình thực hiện hợp đồng, việc ai thuê tàu, thuê tàu theo hình thức nào được tiến hành dựa vào ba căn cứ: điều khoản của hợp đồng, đặc điểm của hàng hoá, điều kiện vận tải. Nếu điều kiện cơ sở giao hàng là FOB thì bên nhập khẩu phải thuê tàu để chở hàng, nếu điều kiện cơ sở giao hàng là CIF thì bên nhập khẩu không phải thuê tàu mà nghĩa vụ đó thuộc về người mua.

       d/ Mua bảo hiểm hàng hoá.

      Hàng hoá chuyên chở trên biển thường gặp nhiều rủi ro, tổn thất. Vì thế bảo hiểm hàng hoá đường biển là loại bảo hiểm phổ biến nhất trong ngoại thương. Hợp đồng bảo hiểm có thể là hợp đồng bảo hiểm bao hoặc là hợp đồng bảo hiểm chuyến. Bên cạnh hình thức bảo hiểm, doanh nghiệp cần lựa chọn điều kiện bảo hiểm: Loại A hay B hay C. Để lựa chọn điều kiện bảo hiểm thích hợp cần căn cứ vào: Tính chất, đặc điểm của hàng hoá, thời tiết, khả năng vận chuyển bốc dỡ, đặc điểm quãng đường,…

      e/ Làm thủ tục hải quan.

        Hàng hoá đi ngang qua biên giới quốc gia để nhập khẩu đều phải làm thủ tục hải quan. Việc làm thủ tục hải quan gồm 3 bước chủ yếu sau:

   + Khai báo hải quan: Chủ hàng phải khai báo chi tiết về hàng hoá lên tờ khai hải quan một cách trung thực và chính xác.

  + Xuất trình hàng hoá: Hải quan được phép kiểm tra hàng hoá nếu thấy cần thiết. Chủ hàng chịu chi phí, nhân công về việc mở, đóng các kiện hàng.

   + Thực hiện các quyết định của hải quan: Sau khi kiển tra các giấy tờ và hàng hoá, hải quan đưa ra quyết định: cho hàng được phép qua biên giới (thông quan), hoặc cho hàng qua với một số điều kiện kèm theo hoặc hàng không được nhận.

     f/ Nhận hàng.

      Để nhận hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài về, đơn vị nhập khẩu phải làm các công việc sau:

    – Ký kết hợp đồng uỷ thác cho cơ quan vận tải về việc giao hàng.

    – Xác nhận với cơ quan vận tải kế hoạch tiếp nhận hàng hoá nhập khẩu từng quý, từng năm, cơ cấu hàng hoá, lịch tàu, điều kiện kỹ thuật khi bốc dỡ, vận chuyển, giao nhận.

    – Cung cấp tài liệu cần thiết cho việc nhận hàng (vận đơn, lệnh giao hàng,…) nếu tàu biển không giao những tài liệu đó cho cơ quan vận tải.

    – Theo dõi việc giao nhận, đôn đốc cơ quan vận tải lập biên bản (nếu cần) về hàng hoá và giải quyết trong phạm vi của mình những vấn đề xảy ra trong việc giao nhận.

    – Thanh toán cho cơ quan vận tải các khoản phí tổn về giao nhận, bốc xếp, bảo quản và vận chuyển hàng hoá nhập khẩu.

    – Thông báo cho đơn vị đặt hàng chuẩn bị tiếp nhận hàng hoá.

    – Chuyển hàng hoá về kho của doanh nghiệp hoặc giao trực tiếp cho các đơn vị đặt hàng.

    – Kiểm tra hàng hoá: Hàng hoá nhập khẩu về qua cửa khẩu phải được kiểm tra. Mỗi cơ quan tiến hành kiểm tra theo chức năng, quyền hạn của mình. Đơn vị nhập khẩu với tư cách là một bên đứng tên trong vận đơn cũng phải kiểm tra hàng hoá và lập thư dự kháng nếu thấy nghi ngờ hoặc thật sự hàng hoá có tổn thất, thiếu hụt hoặc không đúng như hợp đồng.

     g/ Làm thủ tục thanh toán.

      Thanh toán là khâu quan trọng trong thương mại quốc tế. Có nhiều phương thức thanh toán như: Thư tín dụng (L/C), phương thức nhờ thu, chuyển tiền,…Việc thực hiện theo phương thức nào phải quy định cụ thể trong hợp đồng.

     h/ Khiếu nại và xử lý khiếu nại (nếu có).

      Khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu, nếu chủ hàng nhập khẩu phát hiện thấy hàng nhập khẩu bị tổn thất, đổ vỡ, thiếu hụt, mất mát, thì cần lập hồ sơ khiếu nại ngay để khỏi bỏ lỡ thời hạn khiếu nại. Đối tượng khiếu nại có thể là bên bán, người vận tải, Công ty bảo hiểm,… tuỳ theo tính chất của tổn thất.Tuỳ theo nội dung khiếu nại mà người nhập khẩu và bên bị khiếu nại có các cách giải quyết khác nhau. Nếu không tự giải quyết được thì làm đơn kiện gửi trọng tài kinh tế hoặc toà án kinh tế trong hợp đồng.

     i/ Tổ chức tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu.

      Sau khi nhập hàng từ nước ngoài về, doanh nghiệp giao hàng cho đơn vị đặt hàng hoặc tổ chức tiêu thụ tốt trên thị trường nội địa. Để tiêu thụ hàng hoá có kết quả cao, doanh nghiệp cần phải:

    – Nghiên cứu thị trường trong nước và tâm lý khách hàng trong việc mua hàng hoá, nhất là đối với hàng hóa doanh nghiệp cần kinh doanh.

    – Xác đinh các kênh phân phối hàng hoá và các hình thức bán.

    – Tiến hành quảng cáo và xúc tiến bán hàng.

    – Xác định mức giá cụ thể trên cơ sở cung cầu thị trường và chi phí của doanh nghiệp.

   – Tổ chức nghiệp vụ bán hàng cụ thể tại các cửa hàng.

V. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHẬP KHẨU CỦA CÔNG TY THỜI GIAN TỚI

  1. 1.         Các giải pháp về phía công ty

1.1. Tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn :                      

Để đạt hiệu quả trong kinh doanh tức là phải có lợi nhuận,thì công ty phải có những giả pháp sử dụng đồng vốn hợp lí,cụ thể là :

– Chấp hành nghiêm chỉnh chế độ quản lý tài chính,tín dụng ngoại hối của nhà nước mà trước tiên là hoàn thành các loại thuế phải nộp

– Tính toán các khả năng l_ lãi, thời gian thu hồi vốn trong kinh doanh cũng như những rủi ro có thể dự tính được

– Kết hợp chặt chẽ sự vận động của vốn và hàng hoá, vốn trong kinh doanh gồm vốn cố định và vốn lưu động

Vốn lưu động là do sự hợp thành của tài sản vốn lưu động và vốn lưu thông biểu hiện bằng tiền tạo ra. Đối với loại vốn này, Công ty cần thực hiện các biện pháp sau:

+ Tăng nhanh tốc độ luân chuyển hàng hoá , lựa chọn phương thức thanh toán thuận lợi, an toàn, tránh được tình trạng ứ đọng vốn hay dây dưa trong thanh toán tiền hàng.

+ Tận dụng vốn của chủ đầu tư trong nhập khẩu uỷ thác bằng cách yêu cầu họ chuyển tiền đúng hạn. Với những bạn hàng quen thuộc, Công ty có thể sử dụng vốn của mình ứng ra để thực hiện hợp đồng sau đó mới yêu cầu bạn hàng thanh toán. Như vậy, Công ty sẽ tăng sức cạnh tranh của mình trên thị trường.

+ Đẩy mạnh xuất khẩu để tăng nhanh lượng vốn lưu động phục vụ nhập khẩu. Ngoài ra còn phải quản lý tốt lượng hàng dự trữ thanh lý kịp thời hàng ứ đọng, hàng tồn kho để giải phóng vốn. Nhưng để nhập khẩu có hiệu quả trong khi vốn tự có ít thì Công ty nên vay các ngân hàng, các tổ chức tài chính với lãi suất ưu đãi.

          Vốn cố định là vốn đầu tư vào tài sản của công ty. Vốn cố định của PACKEXPORT không nhiều, chỉ chiếm khoảng 25% tổng số vốn kinh doanh, một tỷ lệ hợp lý đối với một công ty thương mại. Chính vì vậy Công ty cần:

      + Tăng mức lưu chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu.

      + Tăng tỷ trọng tài sản cố định được sử dụng trong kinh doanh, giảm tỷ trọng tài sản cố định chờ thanh lý.

    – Thường xuyên phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.

    – Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng vốn để kịp thời đề ra các phương án đối phó thích hợp.

    – Thực hiện chế độ trách nhiệm vật chất đối với quá trình sử dụng vốn.

    – Khi bỏ vốn ra kinh doanh phải xây dựng được các phương án kinh doanh để đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn cao.

    – Tập trung hướng vốn sử dụng đầu tư này vò việc nhập khẩu máy móc thiết bị để nâng cao hiệu quả việc thiết kế mẫu mốt bao bì.

1.2. Hoàn thin hơn na nghip v nhp khu.

          Hiện nay các nghiệp vụ mà Công ty đang áp dụng là phù hợp và có hiệu quả. Nhưng điều này không có nghĩa là các nghiệp vụ đó không bao giờ thay đổi. Trong thời gian tới, nhiều yếu tố mà Công ty không kiểm soát được như kinh tế, chính trị, pháp luật,… sẽ thay đổi và điều này sẽ kéo theo việc thay đổi các nghiệp vụ cho phù hợp với tình hình.

          Ngay từ khâu chọn đối tác kinh doanh Công ty phải tìm hiểu kỹ đối tác nước ngoài về quá trình phát triển của họ, lĩnh vực kinh doanh của họ, những ưu điểm, khuyết điểm của vật tư nguyên liệu, thiết bị do họ sản xuất.    Trong đàm phán cần nắm vững nghệ thuật đàm phán, biết vận dụng ba yếu tố của đàm phán là bối cảnh, thời gian và quyền lực của đàm phán sao cho có lợi nhất.

          Khi ký kết hợp đồng Công ty chú ý nhiều đến điều khoản giá cả để tiết kiệm vốn. Nhưng không vì thế mà Công ty nhập khẩu những vật tư chất lượng kém, thiết bị cũ do các nước khác thải loại, chưa dùng được bao lâu đã phải thay thế và ảnh hưởng tới môi trường sống. Hợp đồng cần chặt chẽ về mọi điều khoản để tránh thua thiệt về sau. Hiện nay các điều khoản về bất khả kháng chưa được các doanh nghiệp Việt Nam cùng PACKEXPORT  quan tâm đúng mức và chính điều này đã gây khó khăn cho chúng ta. Đơn giản là vì tình hình mỗi nước đều có khả năng thay đổi, đều có thể xảy ra các tình trạng bất khả kháng theo chiều hướng không có lợi cho Công ty nên PACKEXPORT cần quan tâm tới vấn đề này để được an toàn trong kinh doanh.

          Khi thực hiện các thủ tục hải quan để tiếp nhận hàng hoá, Công ty cần chú ý điểm sau: Hải quan Việt Nam dù có nhiều cố gắng trong việc đơn giản hoá các thủ tục hải quan nhưng trên thực tế thì cán bộ trong Công ty vẫn phàn nàn về cách thức của họ. Để tránh phiền hà, khi làm thủ tục hải quan cán bộ công nhân cần chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ cần thiết như: hợp đồng, quyết định của Bộ Thương mại phê duyệt nhập khẩu, công văn phê duyệt của người có thẩm quyền quyết định đầu tư, tờ khai hải quan bẳng kê chi tiết lô hàng nhập khẩu, lệnh giao hàng, hoá đơn thương mại, giấy chứng nhận chất lượng, chứng nhận xuất xứ, phiếu đóng gói chi tiết

1.3. Gii pháp v th trường.

        Là một Công ty xuất nhập khẩu nên PACKEXPORT phải nghiên cứu cả hai thị trường trong và ngoài nước.

a/ Vi th trường trong nước.

      Công ty cần chú trọng hơn nữa để phát hiện được các nhu cầu của các doanh nghiệp. Ngoài ra cần nắm được thông tin về tình hình cạnh tranh trên thị trường thiết bị, doanh nghiệp nào đã nhập, đang nhập và sẽ nhập thiết bị đó. Cũng cần hiểu rõ chính sách của Nhà nước có liên quan đến nhập khẩu nguyên liệu, về hệ thống tài chính tiền tệ và đặc biệt là biểu thuế về các chi tiết chính của thiết bị toàn bộ. Cần xác định rõ liệu hàng hoá do thiết bị sản xuất ra có khả năng tiêu thụ như thế nào trên thị trường. Dù rằng vấn đề này đã được nêu rõ trong luận chứng kinh tế kỹ thuật của chủ đầu tư nhưng Công ty cũng cần xem xét kỹ lưỡng. Nếu thấy việc nhập khẩu là không hợp lý do sản phẩm tạo ra không tiêu thụ được thì Công ty sẽ không nhập.

  b/ Đối vi th trường nước ngoài.

Công ty cần phải phát huy hơn nữa những hiểu biết của mình về các vấn đề sau:

 – Nắm vững chính sách thương mại cũng như cá chính sách bảo hộ mậu dịch của mỗi quốc gia, cần có một thông tin dự đoán các biến động về kinh tế, chính trị của mỗi nước khác nhau

– Không chỉ nắm tình hình về một quốc gia mà Công ty cần biết rõ những thông lệ quốc tế, những tập quán thương mại quốc tế

– Ngoài ra việc nắm chắc chính sách nhập khẩu về nguyên liệu, thiết bị sản xuất bao bì của Nhà nước, tình hình giá cả của nguyên liệu, thiết bị hay điểm mạnh, điểm yếu của thiết bị do từng nước sản xuất cũng là điều rất quan trọng

– Những thông tin về thị trường mà Công ty thu được cần phải chính xác, kịp thời. Sau khi thu thập, Công ty nên tiến hành phân tích, nghiên cứu kỹ lưỡng những thông tin này để làm cơ sở ra các quyết định chính xác.

1.4. Gii pháp v đổi mi hình thc hình thc kinh doanh.

          Hiện nay lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của PACKEXPORT vẫn là nhập khẩu vật tư nguyên vật liệu, thiết bị máy móc sản xuất bao bì, đây là thế mạnh và cũng là nhiệm vụ chính của Công ty. Trong khi đó xuất khẩu của Công ty đạt kết quả thấp thậm chí năm 2001 vừa qua, Công ty còn không hoàn thành kế hoạch xuất khẩu. Để phục vụ tốt hơn nữa cho nhập khẩu, Công ty cần đẩy mạnh các hoạt động xuất khẩu. Làm như vậy sẽ giúp Công ty tăng thêm ngoại tệ cho nhập khẩu đồng thời mở rộng quan hệ với các Công ty khác để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nhập khẩu.

          Đổi mới hình thức kinh doanh còn có nghĩa là Công ty phải năng động tìm kiếm thị trường và bạn hàng. Cụ thể PACKEXPORT phải tăng cường các hoạt động tiếp thị trên thị trường nhằm nâng cao uy tín của mình với các doanh nghiệp. Có như vậy các chủ đầu tư mới tin tưởng vào khả năng nhập khẩu của Công ty PACKEXPORT . Ngoài ra, Công ty có thể sử dụng chính sách tăng lương, tăng thưởng để khuyến khích cán bộ của mình tự tìm kiếm bạn hàng cho Công ty.

          Nhưng điều cần thiết nhất là Công ty phải đổi mới thực sự các hoạt động kinh doanh của mình. Đó là việc Công ty sẽ liên doanh, liên kết với các đối tác nước ngoài để trực tiếp đứng tên hay tham gia đấu thầu với tư cách là người bán. Đây là hình thức kinh doanh hoàn toàn mới với Công ty. Trước đây Công ty cũng liên doanh với các doanh nghiệp khác nhưng chỉ để sản xuất hàng xuất khẩu khác như xí nghiệp liên doanh sản xuất tất sùi ở Nga. Còn trong hình thức này Công ty đóng vai trò như người bán đứng ra cung cấp mọi loại vật tư nguyên liệu và thiết bị đồng bộ theo yêu cầu của chủ đầu tư mà không phải bỏ ra nhiều vốn để nhập khẩu những loại vật tư nguyên liệu hay thiết bị máy móc đó. Lúc này liên doanh vừa đóng vai trò sản xuất vừa làm chức năng cuả Công ty ngoại thương tới tay người tiêu dùng. Nếu phát hiện ra nhu cầu của khách hàng, Công ty sẽ tham gia đấu thầu hay gửi các bản chào hàng của mình. Với uy tín và lợi thế trong kinh doanh PACKEXPORT sẽ dễ dàng được bạn hàng tin cậy và lựa chọn. Sau đó Công ty sẽ tiếp tục thông báo về nhu cầu này cho đối tác liên doanh của mình để họ tiến hành sản xuất, cải tiến cho phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Công ty sẽ tiếp tục tiến hành các thủ tục nhập khẩu và cung cấp cho chủ đầu tư. Trong suốt thời gian bảo hành Công ty sẽ đóng vai trò người bán đứng ra kiểm tra, bảo hành hướng dẫn kỹ thuật vận hành máy móc. Như vậy sẽ tiết kiệm được các chi phí cho chuyên gia hướng dẫn kỹ thuật.

      Với giải pháp đổi mới hình thức kinh doanh như trên, chúng ta tin rằng Công ty sẽ đạt hiệu quả cao trong kinh doanh.

1.5. Đào to đội ngũ cán b có trình độ chuyên môn gii.

          Đội ngũ cán bộ Công ty phải có kiến thức, sáng tạo và biết tạo ra bầu không khí thuận lợi trong cơ quan để tăng hiệu quả công việc. Đặc biệt là lãnh đạo cần sử dụng các hình thức khuyến khích vật chất và tinh thần để động viên cán bộ công nhân viên. Cụ thể là sẽ qui định một khoản tiền thưởng khi cán bộ ký kết được hợp đồng hay thưởng khi Công ty làm ăn có lãi. Bên cạnh đó cán bộ lãnh đạo còn phải có khả năng ngoại giao tốt với các bạn hàng trong và ngoài nước, có tính quyết đoán trong công việc.

          Đội ngũ cán bộ giỏi của Công ty cần giỏi về nghiệp vụ, thành thạo về ngoại ngữ, am hiểu cả kỹ thuật lẫn nghiệp vụ ngoại  thương. Để thực hiện tốt việc nhập khẩu thì nó đòi hỏi cán bộ phải nắm vững cả hai lĩnh vực trên.Chính vì thế PACKEXPORT cần thực hiện chính sách cử cán bộ đi đào tạo thêm về trình độ kỹ thuật được nâng cao về các nghiệp vụ ngoại thương và ngoại ngữ. Bên cạnh đó cán bộ nghiệp vụ còn phải nắm vững Luật Thương mại mới của nước ta (có hiệu lực từ ngày 1/1/1998 ), các qui định của Bộ Thương mại về hàng hoá cấm nhập khẩu, ngừng nhâp khẩu cũng như tập quán thương mại quốc tế hay luật pháp của mỗi quốc gia,…để vận dụng vào hoạt động nhập khẩu của công ty

          Giải pháp này chắc chắn sẽ được Công ty thực hiện tốt nhất nếu như Công ty có người làm công tác tổ chức cán bộ có trình độ, năng lực về công tác cán bộ, đánh giá và nhận xét cán bộ một cách chính xác, tham mưu chuẩn xác cho lãnh đạo Công ty về việc bố trí, xắp xếp và sử dụng cán bộ theo sở trường năng lực. Đánh giá cán bộ không đúng, không chính xác dẫn đến sử dụng cán bộ một cách tuỳ tiện, làm mất đi động lực phấn đấu của từng cá nhân.

          Thực tế hiện nay Công ty phải xắp xếp, bố trí lực lượng của mình cho hợp lý hơn để phát huy năng lực sáng tạo của mỗi người.

          Tóm lại, để vượt qua thử thách, cán bộ trong Công ty cần đoàn kết thống nhất hơn nữa, không ngừng trau dồi nghiệp vụ chuyên môn, ngoại ngữ và phải đồng tâm hiệp lực cùng hướng tới mục đích làm cho Công ty lớn mạnh không ngừng.


VI. MT S KIN NGH ĐỐI VI NHÀ NƯỚC.

      Để nâng cao hiệu quả kinh doanh thì chỉ những nỗ lực của Công ty thôi chưa đủ mà cần có cự hỗ trợ từ phía Nhà nước. Nhà nước cần có những chính sách và biện pháp sau:

                        Thuế nhp khu.

          Chúng ta đều biết rằng thuế là nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước, là một biện pháp bảo hộ sản xuất trong nước. Tại các nước phát triển thuế thu nhập có vai trò rất quan trọng còn ở nước ta thuế xuất nhập khâủ  chiếm phần lớn trong nguồn thu của ngân sách.

          Theo đánh giá chung thì hiện nay thì hệ thống thuế của nước ta có nhiều vấn đề bất cập cần xem xét. Chúng ta chủ yếu tiến hành đánh thuế theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với tổng giá trị hàng hoá tính theo giá CIF. Trong khi đó, Công ty lại nhập khẩu với giá trị lớn nên mức thuế phải nộp khá lớn. Hiện nay một số các thiết bị phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu đã được miễn thuế và Nhà nước chỉ đánh thuế với các thiết bị chính với thế suất ưu đãi, nhưng vẫn còn những vấn đề đặt ra: Các Công ty liên doanh được quyền nhập khẩu thiết bị với thuế suất bằng không trong khi Công ty vẫn phải chịu thuế. Điều này không tạo được sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường. Nhà nước cần điều chỉnh để tạo được sự công bằng trong kinh doanh.

          Thuế nhập khẩu chỉ làm hạn chế việc nhập khẩu thiết bị mà không có ý nghĩa bảo hộ sản xuất trong nước do đây là loại hàng hoá mà nước ta không sản xuất được.

          Biểu thuế của nước ta vừa đơn giản, vừa phức tạp. Nó không có quy định ưu đãi với các thiết bị của các nước khác nhau và có mức thuế suất từ 0 đến 100%. Biểu thuế cũng chỉ rõ mức thuế với từng mặt hàng cụ thể, nhưng lại không kê khai đầy đủ được các chủng loại khác nhau. Chính điều này gây khó khăn cho cán bộ Công ty khi nhập khẩu những thiết bị không xác định được nó nằm vào nhóm nào để tính thuế. Vì vậy, Nhà nước cần lựa chọn đưa ra một biểu thuế đối với từng nhóm hàng chung hay xây dựng biểu thuế chi tiết với tất cả các loại vật tư nguyên liệu hay thiết bị cụ thể.

      Xu hướng giảm thuế quan đang được thực hiện rộng rãi trên khắp thế giới để khuyến khích trao đổi giữa các nước. Mặt khác, đây cũng là yêu cầu bắt buộc để tham gia vào tổ chức thương mại thế giới WTO hay tham gia vào khu vực mậu dịch tự do của khu vực ASEAN (AFTA). chúng ta dự định từ nay đến năm 2006 sẽ cắt giảm thuế suất còn từ 0 đến 5% với hàng hoá từ các nuức ASEAN.

          Tóm lại, từ những vấn đề này Nhà nước cần nghiên cứu để sửa đổi thuế xuất nhập khẩu cho phù hợp để tạo điều kiện cho Công ty thực hiện tốt việc nhập khẩu vật tư thiết bị sản xuất bao bì nhất là bao bì cao cấp. Nhà nước nên thực hiện chính sách miễn thuế hoàn toàn đối với thiết bị sản xuất bao bì trong thời gian tới. Đây sẽ là một nhân tố nâng cao hiệu quả kinh doanh của PACKEXPORT.

                        Thc hin vic qun lý ngoi t có hiu qu.

          PACKEXPORT cũng như các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu đều phải sử dụng ngoại tệ trong thanh toán mà Nhà nước quản lý ngoại tệ với các hoạt động của Công ty khá chặt chẽ, nhất là trong thời kỳ khủng hoảng tài chính tiền tệ vừa qua. Tuy nhiên, việc quản lý này chưa thực sự có hiệu quả cao trên bình diện của nền kinh tế. Ngoại tệ dành cho nhập khẩu trong khi trên thị trường còn lưu hành nhiều ngoại tệ dù Nhà nước đã có quy định thanh toán trong nội địa không sử dụng ngoại tệ. Nhà nước cần xem xét, điều chỉnh nguyên tắc và cơ chế phân bổ ngoại tệ cho nhập khẩu.

          PACKEXPORT cần được ưu tiên phân bổ vốn ngoại tệ nhiều hơn các đơn vị nhập khẩu hàng hoá khác vì Công ty thực hiện nhập khẩu giá trị lớn. Bên cạnh đó Nhà nước cũng cần cho phép các doanh nghiệp có ngoại tệ trao đổi với nhau khi cần thiết. Điều nay có nghĩa là PACKEXPORT có thể vay mượn hay liên kết với các doanh nghiệp khác, tranh thủ ngoại tệ của họ cho các chế độ hoạt động kinh doanh của mình.

          Tuy nhiên, Nhà nước gặp một số khó khăn khi thực hiện giải pháp này. Khó khăn trước tiên là chúng ta rất khó kiểm soát được ngoại tệ nhất là lượng ngoại tệ trên thị trường tự do của nước ta. Hơn nữa, kinh tế nước ta còn quá nhỏ bé và yếu kém nên không đảm bảo được sự ổn định và tăng giá của đồng Việt Nam đối với ngoại tệ của các nước như Mỹ, Đức, Anh,… Cụ thể khi Đôla tăng giá đột ngột như thời gian vừa qua gây thiệt hại cho cả PACKEXPORT và nền kinh tế nhưng chúng ta lại buộc phải chấp nhận tình hình này mà không có giải pháp hữu hiệu để đối phó. Ngân hàng Nhà nước không thể can thiệp bằng cách bán Đôla ra thị trường vì dự trữ ngoại tệ của chúng ta không nhiều.

  1. a.     Chính sách t giá hi đoán hp lý:

Tỷ giá hối đoái của nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp đến việc kinh doanh của PACKEXPORT. Hiện nay chủ trương của Đảng là hướng mạnh ra xuất khẩu. Từ cuối năm 1996 đồng đôla lên giá không ngừng tạo điều kiện tốt cho uất khẩu của nước ta. Tuy nhiên, điều này lại gây thiệt hại lớn cho các Công ty chuyên kinh doanh nhập khẩu như PACKEXPORT.

Chính vì vậy nhà nước nên áp dụng một chế độ nhiều tỷ giá đối với PACKEXPORT. Tức là với thiết bị sản xuất bao bì  khi nhập khẩu thì được tính theo tỷ giá riêng ưu đãi hơn khi nhập khẩu các hàng hoá khác. Như vậy thì các hoạt động nhập khẩu và xuất khẩu đều được khuyến khích.

Những biến động mạnh của tỷ giá hối đoái gây ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế nói chung cũng như các hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng nếu tỷ giá giữa đồng ngoại tệ và nội tệ tăng đột ngột thì hàng nhập khẩu sẽ tăng giá đồng thời các khoản nợ của nước ta cũng tăng lên.Còn ngược lại các khoản thu tư xuất khẩu lại giảm xuống và dẫn đến tình trạng nhập siêu. Điều này dẫn đến Nhà nước phải can thiệp để giữ tỷ giá bán sao cho nhỏ nhất.

  1. b.     Thc hin ci cách các th tc hành chính.

          Thủ tục hành chính phiền hà là căn bệnh chính của nước ta muốn có hiệu quả cao trong kinh doanh nhà nước cần đơn giản hoá các thủ tục hành chính. Để tạo điều kiện cho Công ty XNK và kĩ thuật bao bì hoạt động tốt nhà nước phải cải tiến thủ tục nhập khẩu.

          Cụ thể Nhà nước cần phải chỉ đạo các cơ quan chức năng có sự phối hợp chặt chẽ trong việc quản lý nhập khẩu. Bộ Thương mại có tránh nhiệm phê duyệt các dự án theo thẩm quyền của mình, Tổng cục Hải Quan có trách nhiệm kiểm tra giám sát hàng nhập khẩu thu thuế hàng nhập khẩu.

          Đặc biệt là ngành hải quan cần đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động của mình vì đây là ngành gây nhiều phiền hà nhất cho các doanh nghiệp. Sau khi bãi bỏ giấy phép nhập khẩu chuyến, một số thủ tục mà các chuyên viên Bộ Thương mại thường làm trước đây được chuyển sang cho hải quan  thực hiện. Tuy nhiên do trình độ chuyên môn của các cán bộ hải quan chưa theo kịp với yêu cầu khách quan nên hoạt động kém hiệu quả. Ngoài ra một số cán bộ hải quan bị biến chất gây ra những tiêu cực làm mất lòng tin của các doanh nghiệp.

          Bộ thương mại cần nâng cao trình độ của cán bộ trong việc xem xét phê duyệt các hợp đồng thiết bị, chỉ các cán bộ có trình độ chuyên môn mới nắm rõ việc nhập khẩu thiết bị đó có lợi hay không mới xem xét kỹ lưỡng và hiểu được chính xác các điều khoản hợp đồng. Có như vậy trong 15 ngày Bộ mới trả lời về cho phép thực hiện hợp đồng hay không. Bộ cũng nên phân công rõ từng cán bộ phụ trách về một lĩnh vực cụ thể để các chuyên viên của bộ nắm rõ hơn về lĩnh vực mình phụ trách và để các doanh nghiệp thuận lợi cho việc liên hệ.

 c. Các chính sách h tr khác.

     Song song với việc thực hiện các giải pháp trên Nhà nước cũng cần thực hiện các chủ trương chính sách sau.

      – Nhà nước cần tạo môi trường pháp lý và cơ chế quản lý hiện đại để giúp Công ty và các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả trong môi trường đó.

      – Phải có các chính sách về xuất nhập khẩu nhất quán, ổn định để các hoạt động của Công ty không bị xáo trộn và giữ được chữ tín với bạn hàng.

      – Nhà nước tiến tới ban hành một luật Công ty chung cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế  để taọ ra sự bình đẳng trong kinh doanh. Đồng thời có chính sách, chế độ đối xử không phân biệt với mọi thành phần kinh tế. Không nên chỉ ưu tiên khuyến khích mọi thành phần trong nền kinh tế làm ăn có hiệu quả. Nhà nước cần có xu hướng giảm thuế suất để hướng tới việc tham gia vào các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực để tạo điều kiện cho PACKEXPORT  cũng như các Công ty khác mở rộng hoạt động kinh doanh. Đồng thời cần hạn chế đến mức tối thiểu việc áp dụng các biện pháp phi thuế quan như giấy phép, hạn nghạch theo xu hướng chung của thế giới.

      – Nhà nước cần có hướng chỉ đạo để ngân hàng Nhà nước và ngân hàng Thương mại có thể đứng ra bảo lãnh cho Công ty vay những khoản tiền lớn từ các hãng sản xuất nước ngoài dưới dạng trả chậm với mức lãi suất ưu đãi. Điều này sẽ giúp Công ty hoạt động tốt hơn mà không cần vay tiền ngân hàng.

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s