Phương hướng và giải pháp chủ yếu thúc đẩy xuất khẩu hàng thuỷ sản vào thị trường Mỹ


 PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tên đề tài:

Phương hướng và gii pháp thúc đẩy xut khu hàng thu sn ca Ngành thu sn Vit nam vào th trường M .

2. Tính cấp thiết của đề tài:

+ Mặt hàng thuỷ sản là một trong những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng và chiếm một tỷ trọng lớn trong số các mặt hàng đang xuất khẩu vào thị trường Mỹ.

+ Hiệp định thương mại Việt mỹ đã có hiệu lực, tạo ra cơ hội rất lớn cho việc xuất khẩu hàng hoá của Việt nam sang thị trường Mỹ nói chung và với mặt hàng thuỷ sản nói riêng.

+Thị trường Mỹ là một thị trường lớn nhưng còn rất mới đối với các doanh nghiệp của Việt nam. Thị trường này có những đặc thù riêng đòi hỏi phải có những nghiên cứu toàn diện.

+ Ngành thuỷ sản đang trong quá trình đầu tư để trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn. Hàng thuỷ sản trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực với kim ngạch xuất khẩu đạt được năm 2001 là 1760 triệu USD.  Định hướng phát triển xuất khẩu của ngành giai đoạn 2000-2010 đặt ra mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu  3,5 tỷ USD trong đó kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ chiếm tỷ trọng  25-28% trong tổng số kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản. Điều đó đòi hỏi phải nghiên cứu để tìm ra phương hướng và giải  pháp thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường này.

3. Mục đích nghiên cứu của đề tài

+ Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về xuất khẩu .

+ Phân tích thực trạng tình hình xuất khẩu mặt hàng thuỷ sản của ngành thuỷ sản Việt nam vào  thị trường Mỹ .

 +Căn cứ vào cơ sở lý luận và kết quả phân tích, đánh giá thực trạng xuất khẩu mặt hàng thuỷ sản của ngành thuỷ sản Việt nam vào thị trường Mỹ, định hướng phát triển của ngành thuỷ sản để đề xuất phương hướng và giải pháp  nhằm thúc đẩy xuất khẩu  thuỷ sản vào thị trường này .

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cu ca đề tài:

 Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn về xuất khẩu mặt hàng thuỷ sản của  ngành thuỷ sản Việt nam vào  thị trường Mỹ.

– Phm vi nghiên cu ca đề tài:

Đề tài nghiên cứu các hoạt động xuất khẩu hàng thuỷ sản của ngành thuỷ sản Việt nam vào thị trường Mỹ với thời gian nghiên cứu từ năm 1994 tới nay.

5. Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những vấn đề đặt ra, luận văn đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, vận dụng trong môi trường thực tế, hiện tại và kết hợp với các phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích, điều tra, tổng hợp, hệ thống,… để luận giải, khái quát và phân tích thực tiễn theo mục đích của đề tài.

6. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn bao gồm ba chương như sau:

Chương mt: Những vấn đề  cơ bản về xuất khẩu hàng thuỷ sản vào thị trường Mỹ.

     Chương hai: Thực trạng xuất khẩu hàng thuỷ sản của ngành thuỷ sản Việt nam vào thị trường Mỹ.

     Chương ba: Phương hướng và giải pháp chủ yếu thúc đẩy xuất khẩu hàng thuỷ sản của ngành thuỷ sảnViệt nam vào  thị trường Mỹ.


 CHƯƠNG MỘT:

 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU HÀNG

  THUỶ SẢN VÀO  THỊ TRƯỜNG MỸ.

1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ

 

1.1.1 Khái niệm xuất khẩu.

Xuất khẩu là việc bán hàng hoá hoặc dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Cơ sở của hoạt động xuất khẩu  là hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá( bao gồm cả hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình ) trong nước. Khi sản xuất phát triển và trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia có lợi , hoạt động này mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới của quốc gia hoặc thị trường nội địa và khu chế xuất ở trong nước.

Xuất khẩu là một hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương, nó đã xuất hiện từ lâu đời và ngày càng phát triển. từ hình thức cơ bản đầu tiên là trao đổi hàng hoá giữa các nước, cho đến nay nó đã rất phát triển  và được thể hiện thông qua nhiều hình thức. hoạt động xuất khẩu ngày nay diễn ra trên phạm vi toàn cầu, trong tất cả các nghành, các lĩnh vực của nền kinh tế, không chỉ là hàng hoá hữu hình mà cả hàng hoá vô hình với tỷ trọng ngày càng lớn.

1.1.2  Lợi ích  của xuất khẩu.

Xuất khẩu hàng hoá  là một hoạt động nằm trong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá của một qúa trình tái sản xuất hàng hoá mở rộng, mục đích liên kết sản xuất với tiêu dùng của nước này với nước khác. Hoạt động đó không chỉ diễn ra giữa các cá thể riêng biệt , mà là có sự tham ra của toàn bộ hệ thống kinh tế với sự điều hành của nhà nước. Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế.Xuất khẩu hàng hoá có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Nền sản xuất xã hội của một nước phát triển như thế nào  phụ thuộc rất lớn vào hoạt  động xuất khẩu. Thông qua xuất khẩu có thể làm gia tăng ngoại tệ thu được, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu ngân sách, kích thích đổi mới công nghệ, cải biến cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm và nâng cao mức sống của người dân. Đối với những nước có trình độ kinh tế còn thấp như nước ta, những nhân tố tiềm năng là tài nguyên thiên nhiên và lao động, còn những yếu tố thiếu hụt như vốn, thị trường và khả năng quản lý. Chiến lược hướng về xuất khẩu thực chất là giải pháp mở của nền kinh tế nhằm tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, kết hợp chúng với tiềm năng trong nước về lao động và tài nguyên thiên nhiên dể tạo ra sự tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế, góp phần rút ngắn khoảng cách với nước giầu. Xuất khẩu có một vai trò quan trọng

+ Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu và tích luỹ phát triển sản xuất, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo nàn và chậm phát triển của nước ta. để thực hiện đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì trước mắt chúng ta phải nhập khẩu một số lượng lớn máy móc thiết bị hiện đại từ bên ngoài, nhằm trang bị  cho nền sản xuất. Nguồn vốn để nhập khẩu thường dựa vào các nguồn chủ yếu là: đi vay, viện trợ, đầu tư nước ngoài và xuất khẩu. Nguồn vốn vay rồi cũng phải trả, còn viện trợ và đầu tư nước ngoài thì có hạn, hơn nước các nguồn này thường bị phụ thuộc vào nước ngoài. Vì vậy, nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu chính là xuất khẩu. Thực tế là nước nào gia tăng được xuất khẩu thì nhập khẩu theo đó sẽ tăng theo . Ngược lại, nếu nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu làm cho thâm hụt cán cân thương mại quá lớn có thể ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế quốc dân.

Trong tương lai, nguồn vốn bên ngoài sẽ tăng nhưng mọi cơ hội đầu tư, vay nợ từ nước ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ có được khi các chủ đầu tư và các nguồn cho vay thấy được khả  năng xuất khẩu – nguồn vốn vay duy nhất để trả nợ thành hiện thực.

+ Xuất khẩu đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển:

Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh mẽ. Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá phù hợp với xu hướng phát triển cuả kinh tế thế giới là tất yếu đối với nước ta.

Ngày nay, đa số các nước đều lấy nhu cầu thị trường thế giới để tổ chức sản xuất. Điều đó có tác động tích cực tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh tế phát triển. Sự tác động này được thể hiện:

– Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi. Chẳng hạn, khi phát triển xuất khẩu sẽ tạo cơ hội đầy đủ cho việc phát triển ngành sản xuất nguyên vật liệu như bông, đay,… . Sự phát triển ngành chế biến thực phẩm( gạo, cà phê…) có thể kéo theo các ngành công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ nó.

– Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển và ổn định.

Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước.

+ Xuất khẩu có vai trò tích cực đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất.

Hoạt động xuất khẩu là hoạt động kinh doanh trên phạm vi thị trường thế giới, một thị trường mà sự cạnh tranh ngày càng diễn ra ác liệt. Sự tồn tại và phát triển hàng hoá xuất khẩu  phụ thuộc rất lớn vào chất lượng và giá cả; do đó phụ thuộc rất lớn vào công nghệ sản xuất ra chúng. Điều này thúc đẩy các doanh nghiệp sản xuất trong nước phải luôn luôn đổi mới, luôn cải tiến thiết bị, máy móc nhằm nâng cao chất lượng sản xuất. Mặt khác, xuất khẩu trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh quyết liệt còn đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao tay nghề, trình độ của người lao động.

+ Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân.

Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm rất nhiều mặt. Trước hết thông qua hoạt động xuất khẩu, với nhiều công đoạn khác nhau đã thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập tương đối cao, tăng giá trị ngày công lao động, tăng thu nhập Quốc dân.

Xuất khẩu còn tạo nguồn vốn để nhập khẩu hàng hoá tiêu dùng thiết yếu, phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động.

+ Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta:

 Đẩy mạnh xuất khẩu có vai trò tăng cương sự hợp tác Quốc tế với các nước, nâng cao địa vị và vai trò của nước ta trên trường Quốc tế…, xuất khẩu và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quỹ tín dụng, đầu tư, mở rộng vận tải Quốc tế… . Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại mà chúng tâ kể trên lại tạo tiền đề cho việc mở rộng xuất khẩu.

Có thể nói xuất khẩu không chỉ đóng vai trò chất xúc tác hỗ trợ phát triển kinh tế, mà nó còn cùng với hoạt động nhập khẩu như là yếu tố bên trong trực tiếp tham gia vào việc giải quyết những vấn đề thuộc nội bộ nền kinh tế như: vốn, lao động, kỹ thuật, nguồn tiêu thụ, thị trường,… . Đối với nước ta, hướng mạnh về xuất khẩu là một trong những mục tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế đối ngoại, được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hoá đất nước, qua đó có thể tranh thủ đón bắt thời cơ, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, rút ngắn sự chênh lệch về trình độ phát triển của Việt nam so với thế giới. Kinh nghiệm cho thấy bất cứ một nước nào và trong một thời kỳ nào đẩy mạnh xuất khẩu thì nền kinh tế nước đó trong thời gian này có tốc độ phát triển cao.

1.1.3 Nhiệm vụ của xuất khẩu

1.2. HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG THUỶ SẢN CỦA NGÀNH THUỶ SẢN VIỆT NAM.

1.2.1 Ngành thuỷ sản trong hệ thống các Ngành của nền kinh tế Quốc dân

 

Nền kinh tế Quốc dân là một hệ thống thống nhất bao gồm nhiều ngành kinh tế. Các ngành kinh tế ra đời và phát triển trong nền kinh tế Quốc dân là do sự phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất. Thuỷ sản là một ngành kinh tế có một vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Nghị Quyết Ban chấp hành Trung ương 5 khoá VII đã xác định “ xây dựng ngành thuỷ sản thành ngành kinh tế mũi nhọn…”. Cho đến nay ngành thuỷ sản đã có cả một quá trình  phát triển. Với  tư cách là một ngành kinh tế, Ngành thuỷ sản có hệ thống tổ chức, có cơ cấu kinh tế,  có tiềm năng phát triển, đã và đang  có những  đóng góp  nhất định vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế  Quốc dân.

1.2.1.1 Hệ thống bộ máy tổ chức của ngành thuỷ sản:

Bộ Thuỷ sản là cơ quan quản lý nhà nước trung ương của ngành thuỷ sản Việt Nam. Bộ trưởng thuỷ sản là thành viên của Chính phủ. Giúp việc cho bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước có các Thứ trưởng và các cơ quan tham mưu: Vụ nghề cá, Cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Vụ Kế hoạch và Đầu tư, Vụ Tổ chức cán bộ và lao động, Vụ Khoa học Công nghệ, Vụ phát chế, Vụ Tài chính Kế toán, Vụ Hợp tác Quốc tế, Văn phòng Bộ, Thanh tra Bộ.

Cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản và hệ thốn 31 chi cục tại các địa phương có nhiệm vụ tham mưu xây dựng chính sách, trực tiếp chỉ đạo và thanh tra công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản.

Trung tâm kiểm tra chất lượng và vệ sinh thuỷ sản (NAFIQACEN), gồm Văn phòng Trung tâm và 6 chi nhành trọng điểm nghề cá thực hiện chức năng là cơ quan thẩm quyền của Việt Nam về kiểm soát, bảo đảm an toàn vệ sinh chất lượng sản phẩm thuỷ sản.

Trung tâm khuyến ngư Trung ương, có Văn phòng đai diện tại thành phố Hồ Chí Minh và hệ thống các Trung tâm khuyến ngư, khuyến nông tại các tỉnh,thành phố trong cả nước thực hiện chuyển giao kinh nghiệm, kỹ thuật, công nghệ, phổ biến thông tin giúp nông ngư dân phát triển sản xuất thuỷ sản tại mọi địa phương, mọi thành phần kinh tế. Tại các tỉnh ven biển, cơ quan quản lý thuỷ sản địa phương và các Sở Thuỷ sản trực thuộc UBND tỉnh, thành phố, chịu sự quản lý chuyên ngành của Bộ Thuỷ sản.

Tại các tỉnh không có biển, cơ quan quản lý thuỷ sản được đặt trong Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Trường Đại học Thuỷ Sản – Nha Trang, Khoa Thuỷ sản (Đại học Cần Thơ, Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh), các trường Trung học Thuỷ sản 1,2 và 4 tại các đơn vị chịu trách nhiệm chính đào tạo nguồn nhân lực cho ngành.

Trong hệ thống bộ máy của ngành thuỷ sản còn có các cơ quan khoa học và các cơ quan thông tin, báo chí. Các tổ chức chính trị xã hội và nghề nghiệp có vai trò quan trọng trong tổ chức, động viên lao động nghề cá, các doanh nghiệp phát triển sản xuất – kinh doanh, đồng thời tham gia vào công tác quản lý Nhà nước của ngành. Các tổ chức đó là:

– Công đoàn Thuỷ sản Việt Nam với 67.000 đoàn viên.

– Hội nghề cá Việt Nam

– Hội hiệp chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam.

1.2.1.2.Tiềm năng phát triển của ngành thuỷ sản Việt nam

 *Tim năng  t nhiên

 Nước ta trải dài trên 13 độ vĩ bắc kề sát biển đông, bờ biển dài từ Móng cái ( Quảng ninh) tới Hà tiên ( Kiên giang) dài 3260 Km, với 112 cửa sông lạch. Theo tuyên bố của chính phủ nước CHXHCN Việt nam năm 1997, biển nước ta gồm nội hải, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, cả quần đảo Trương sa và Hoàng sa và hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ. Riêng vùng đặc quyền kinh tế đã có diện tích gần 1 triệu Km2, gấp 3 lần diện tích đất liền. Bên cạnh đó, Biển đông của ta là một vùng biển mở, thông với Đại Tây dương ( ở nam Thái Bình dương) và ấn Độ dương (qua eo Malacca). Phần thềm lục địa phía Tây và Tây nam nối liền đất liền của nước ta.

Môi trường nước mn xa b ; bao gồm vùng nước ngoài khơi thuộc vùng đặc quyền kinh tế. Mặc dù chưa nghiên cứu kỹ về mặt nguồn lợi nhưng những năm gần đây ngư dân đã khai thác rất mạnh cả ở 4 vùng biển khơi ( Vịnh Bắc bộ, Duyên hải Trung bộ, Đông nam bộ, Tây nam bộ và Vịnh Thái lan).

Nhìn chung, nguồn lợi mang tính phân tán, quần tụ, dàn nhỏ nên rất khó tổ chức khai thác công nghiệp cho hiêu quả kinh tế cao. Thêm vào đó khí hậu thuỷ văn của vùng biển này rất khắc nghiệt, nhiều dông bão làm cho quá trình khai thác gặp rất nhiều rủi ro và tăng thêm chi phí sản xuất.

Môi trường nước mặn gần bờ là vùng nước sinh thái quan trọng nhất đối với các loại thuỷ sinh vật vì nó có nguồn thức ăn cao cấp nhất do có các cửa sông, lạch đem lại phù sa và các chất vô cơ, hữu cơ hoà tan làm thức ăn tốt cho các sinh vật bậc thấp và đến lượt mình các sinh vật bậc thấp là thức ăn cho tôm cá. Vì vậy vùng này trở thành bãi sinh sản, cư trú và phát triển của nhiều loại thuỷ sản.

Vùng Đông và Tây nam bộ có sản lượng khai thác cao nhất, có khả năng đạt 67% sản lượng khai thác của Việt nam. Vịnh Bắc bộ với trên 3000 hòn đảo tạo nên nhiều bãi triều quanh đảo có thể nuôi các loại nhuyễn thể  có giá trị như trai ngọc, hầu, sò huyết, bào ngư…. Vịnh Bắc bộ có khu hệ cá nhiều nhưng có đến 10,7% số loài mang tính ốn đới và thích nước ấm.

Tuy nhiên, đặc tính nguồn lợi này gây khó khăn cho các nhà khai thác khi phải lựa chọn các thông số khai thác cho các ngư cụ sao cho vừa kinh tế và vừa tính chọn lọc cao nhất. Nghề khai thác của Việt nam là một nghề khai thác đa loài, đa ngư cụ. Khâu chế biến cũng gặp nhiều khó khăn vì sản lượng đánh bắt không nhiều và mất nhiều thời gian và công sức để phân loại trước khi chế biến.

Vùng nước gần bờ ở Vịnh Bắc bộ và Đông Tây nam bộ là vùng khai thác chủ yếu của nghề cá Việt nam, chiếm 70% lượng hải sản khai thác toàn vùng biển. Do đó , lượng hải sản vùng ven bờ bị khai thác quá mức cho phép, thậm chí cả cá thể chưa trưởng thành và đàn đi lẻ. Vấn đề đặt ra cho ngành thuỷ sảnViệt nam là phải hạn chế khai thác nguồn lợi này,  đồng thời cẩn trọng khi phát triển đội tàu đánh cá, dùng tàu chuyên dùng lớn, độc nghề và xây dựng các cơ sở sản xuất quy mô lớn sẽ không thích hợp. Vùng này chỉ thích hợp phát triển một cách hiệu quả là đa loài với quy mô tổ chức tương đối nhỏ.

Trên cơ sở các tài liệu đã có kết hợp với thực tiễn khai thác ở vùng biển khơi những năm gần đây có thể thấy rằng nguồn lợi khai thác thuỷ sản ở nước ta kể cả những vùng gần bờ và xa bờ nhìn chung mang những đặc điểm lớn sau đây: Nguồn lợi hải sản không giàu, mức phong phú trung bình, càng xa mật độ càng giảm, tài nguyên hải sản càng nghèo. Nguồn lợi đa loại, nhiều cá tạp không có chất lượng cao. Thực tế đánh bắt cho thấy ở miền Bắc chất lượng cá có thể xuất khẩu trong lượng khai thác ngoài khơi chỉ có thể đạt khoảng 5-155; ở vùng miền trung chỉ có một số loại cá nổ lớn và mực có thể xuất khẩu lớn; Đông và Tây nam bộ số lượng cá được đem xuất khẩu cũng chỉ có thể chiếm 205, trong khi đó lượng cá có thể dùng trực tiếp là thực phẩm cho nhu cầu trong nước chỉ đạt khaỏng 50% đối với vùng biển Bắc và Trung bộ và 40% đối với vùng biển Đông và Tây nam bộ. Lượng cá tạp chiếm khoảng 40%.

Môi trường nước l: bao gồm vùng nước cửa sông, ven biển và rừng ngập mặn, đầm phá. đây là nơi cư trú, sinh sản, sinh trưởng của nhiều loại tôm cá có giá trị kinh tế cao.

Các vùng nước lợ của nước ta, đặc biệt là những vùng rừng ngập mặn ven bờ đã bị lạm dụng quá mức cho việc nôi trồng thuỷ sản, co nhất là cho việc nuôi tôm.

Tổng diện tích nước lợ khoảng 619 nghìn ha, với nhiều loại thuỷ sản đặc sản có giá trị kinh tế cao như: tôm, rong, cá  nước mặn , nước  lợ,…. Đặc biệt rừng ngập mặn là nơi nuôi dưỡng chính cho ấu trùng giống hải sản. Tuy nhiên, theo  tổ chức FAO (1987)  thì diện tích rừng ngập mặn ven biển Việt nam giảm từ 400 nghì ha xuống 250 nghìn ha.

Do đó, để tăng diện tích nuôi trồng thuỷ sản ở môi trường nước này thì biện pháp hiệu quả nhất là lựa chọn những vùng nuôi thích hợp với kỹ thuật nuôi thâm canh, song với việc này cần có việc quy hoạch và chỉ đạo sản xuất.

Vùng nước lợ vừa có ý nghĩa sản xuất lớn, vừa  có ý nghĩa trong việc bảo vệ và tái tạo nguồn lợi. Đây là môi trường tốt cho việc phát triển nuôi dưỡng ấu trùng giống hải sản sao cho tương xứng với tiềm năng to lớn này như: phải quy hoạch cụ thể diện tích nuôi tròng và nâng cao kỹ thuật nuôi trồng,…

Khí hu thu văn: Biển Việt nam nằm ở vùng nhiẹt đới, tận cùng phía đông nam của lục địa Châu á. Nên khí hậu chịu ảnh hưởng của cả đai dương ( Thái Bình Dương) và lục địa biểu hiện đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Tác động của chế độ gió mùa cùng với sự chi phối của chế độ mưa nhiệt đới đã ảnh hưởng một cách phức tạp đến độ phân bổ , sự biến động nguồn lợi sinh vật biển tới trữ lượng và khả năng khai thác cá.

Ngun li thu sinh vt Vit nam: rất phong phú, đa dạng và nhiều laọi có giá trị kinh tế. Chỉ tính riêng các loại sinh vật biển, tự nhiên hải sản nước ta đã rất phong phú: Khu hệ cá rất phong phú và đa dạng với khoảng 2000 loài và đã kiểm định được 1700 loài. nhưng số cá kinh tế không nhiều chỉ khoảng 100 loài, trong đó có gần 50 loài có giá trị cao như: Thu, Nhụ, Song, Chim, Hồng…. Theo kết quả điều tra, Giáp xác có khoảng 1647 loài, trong đó tôm có vai trò quan trọng nhất với hơn 70 loài thuộc 6 họ (tôm he được coi là đặc sản quan trong nhất kể cả trữ lượng và giá trị kinh tế). Nhìn chung, sản lượng tôm khai thác ở vùng biển Đông và Tây nam bộ là chủ yếu. Còn Vịnh Bắc bộ chỉ chiếm 5-6% tổng số sản lượng. Nhuyễn thể có khoảng 2523 loài, giá trị kinh tế cao nhất là Mực ống và Mực nang và có sản lượng cao. Ngoài ra còn có các loại Nghêu,  Ngao, Điệp, Sò, Hải sâm,… có giá trị kinh tế cao. Rong có khoảng 600 loài, trong đó có Rong câu, Rong mơ, Tảo đang sử dụng trong một số lĩnh vực thuộc ngành công nghiệp. Nhìn chung nguồn lợi hải sản Việt nam có nhiều loài có giá trị kinh tế cao như : tôm, cá, cua, đồi môi, tạo,… tạo điều kiện thuận lợi cho việc đa dạng hoá cơ cấu sản phẩm. Tuy nhiên, một số loài mang tính chất ven biển chiếm trên 65%, sống rải rác, phân tán và có đặc điểm chung là kích cơ nhỏ, cá tạp nhiều, biến động theo mùa và mật độ không cao, do đó để phát triển ngành thuỷ sản cần phải quy hoạch lại vùng khai thác sao cho có hiệu quả nhất.

V tui và độ sinh trưởng: chu kỳ sinh sống của các loài cá biển Việt nam tương đối ngắn và thường từ 3-4 năm, nên các đàn thường được bổ sung xung quanh bảo đảm duy trì một cách bình thường. Tốc độ sinh trưởng tương đối nhanh, ở vào những năm đầu, năm thứ hai giảm dần và năm thứ ba giảm rõ rệt. Do vòng đời ngắn, tốc độ sinh trưởng lại nhanh như vậy nên chiều dài của các loại cá kinh tế ở biển nước ta hầu hết chỉ 15-20cm , cỡ lớn nhất đạt 75-80cm. Đặc điểm hải sản nước ta có độ tuổi ngắn nhưng tốc độ sinh trưởng lại tương đối nhanh, do đó vẫn bảo đảm duy trì một cách bình thường và đáp ứng nhu cầu khai thác phù hợp. Trữ lượng thuỷ sản của Việt nam vẫn cho phép khai thác từ 1-1,2 triệu tấn/ năm mà vẫn bảo đảm tái tạo tự nhiên nguồn lợi thuỷ sản.

Tổng hợp kết quả của công trình nghiên cứu điều tra khoa học nguồn lợi sinh vật biển Việt nam,chúng ta có thể đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác nguồn hải sản của Việt nam như sau: trữ lượng nguồn lợi hải sản 3-3,5 triệu tấn. Khả năng khai thác 1,5-1,6 triệu tấn trong đó tầng mặt (51-52%), tầng đáy (48-49%), khả năng khai thác tối đa mà vẫn bảo đảm tái tạo tự nhiên nguồn lợi là 1,0 – 1,3 triệu tấn/ năm. Sản lượng khai thác có hiệu quả  khoảng 1 triệu tấn/ năm và sản lượng gia tăng 0,5-0,5 triệu tấn.

Tuy nhiên, trữ lượng hải sản là có hạn, vì vậy muốn tăng sản lượng khai thác thuỷ sản của Việt nam thì cần phải tăng cường công tác nuôi trồng thuỷ sản, cần quy hoạch, khoanh vùng vùng khai thác hải sản , khai thác đúng mùa vụ khi sinh vật biển đã trưởng thành, đồng thời chú ý đến công tác bảo vệ và tái tạo nguồn lợi sinh vật biển.

* V lao động:

Lao động nghề cá của Việt nam có số lượng đông đảo, thông minh, khéo tay, chăm chỉ, có thể tiếp thu nhanh chóng và áp dụng sáng tạo công nghệ tiến. Giá cả sức lao động của Việt nam trong lĩnh vực thuỷ sản tương đối thấp so với khu vực và trên thế giới. Đây là một lợi thế cạnh tranh trong quá trình hội nhập. Tuy nhiên, lao đông thuỷ sản chủ yếu là lao động giản đơn, trình độ văn hoá thấp và phần lớn chưa được đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu phát triển mới. Do đó, để nâng cao sản lượng khai thác thuỷ sản thì việc nâng cao trình độ của ngư dân là thiết yếu. Năm 1995 lao động nghề cá là 3,02 triệu người đến năn 1999 là 3,38 triệu người, đến năm 2001 là 3,54 triệu người. đây chưa kể những hộ, những người nuôi trồng có quy mô nhỏ xen canh ở đồng ruộng.

Tính trong toàn ngành mới có 90 tiễn sỹ, 4200 cán bộ đại học, 14000 cán bộ kỹ thuật chuyên ngành, 5000 cán bộ trung cấp. Giá cả sức lao động trong ngành thuỷ sản của Việt nam còn rất rẻ so với thế giới cũng như khu vực.

* Tàu thuyn và các ngư c

Tàu thuyển đánh cá chủ yếu là vỏ gỗ, các loại tàu có thép, xi măng lớp thép, composite chiếm tỷ trọng không đáng kể. Trong giai đoạn 1990-2000, số lượng tàu máy công suất lớn tăng nhanh. Năm 1998 số lượng thuyền máy là71.767 chiếc, chiếm 82,4% tàu thuyền, tăng 60% so với năm 1990; tàu thủ công là 15.338 chiếc giảm đi 50% so với năm 1990. Đến năm 2000 số lượng tàu thuyền tăng lên 73.397 chiếc so với năm 1990. Tổng công suất tàu thuyền máy tăng nhanh hơn số lượng tàu. Năm 1998 tổng công suất đạt 2,43 triệu CV tăng gấp 3 lần so với năm 1991, đến năm 2001 tổng công suất đã tăng lên 3,21 triệu CV.

Chủng loại tàu thuyền máy thay đổi theo xu hướng giảm tỷ lệ tàu nhỏ, tăng tỷ lệ tàu lớn khai thác xa bờ do nguồn lợi ven bờ giảm. Năm 1997, Nhà nước đã đầu tư 400 tỷ đồng bằng vốn tín dụng ưu đãi để đóng và cải hoán tàu đánh bắt xa bờ. Số tàu được cải hoán và đóng mới trong năm lần lượt là 322 và 14, vốn giải ngân đạt 335,9 tỷ đồng đạt 84,2% vốn kế hoạch. Năm 1998 Nhà nước tiếp tục đầu tư 500 tỷ đồng để đóng mới 430 tàu và đã có 103 tàu đi vào sản xuất.

Ngư cụ nghề cá nước ta rất phong phú về chủng loại như: lưới lê, lưới kéo, mành vó…. các loại ngư cụ là cơ sở xác định loại nghề cá ở Việt nam. Theo thống kê chưa đầy đủ Việt nam có hơn 20 loại nghề khác nhau, xếp theo các loại họ nghề chủ yếu sau: Họ lưới rê chiếm 34,4%, họ lưới kéo chiếm 26,2%, họ câu chiếm 13,4%, họ ngư cụ cố định ( chủ yếu là nghề lưới đáy, thường ở các cửa sông) chiếm 7,1%, họ mành vó chiếm 5,6%, họ lưới vây chiếm 4,3%, các nghề khác chiếm 9%. Họ lưới kéo chiếm tỷ trọng cao nhất ở các tỉnh Nam bộ (38,1%) trong đó Bến tre, Trà vinh , Sóc trăng chiếm tỷ trọng cao nhất là 47%;  Kiên giang chiếm 41,5%;  Bà Rịa – Vũng Tàu chiếm 38,5%. Điều này phù hợp với nguồn lợi của vùng biển Nam bộ vì trữ lượng cá đáy chiếm một tỷ trọng cao, khoảng 65% tổng trữ lượng của vùng. Họ lưới lê chiếm một tỷ trọng cao ở các tỉnh Bắc bộ chiếm 60%, Bắc Trung bộ 42% phù hợp với nguồn lợi ở Vịnh Bắc bộ cá nổi chiếm 61,3% trữ lượng của vùng. Tuy nhiên, tỷ lệ lưới đáy cao ở một số tỉnh là chưa phù hợp, gây tác động xấu đến bảo vệ nguồn lợi vì đánh bắt không có chọn lọc, bắt cả đàn cá chưa trưởng thành, thường hay vào vùng cửa sông kiếm ăn.

 CHƯƠNG BA:

 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG THUỶ SẢN VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ.

3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH THUỶ SẢN GIAI ĐOẠN 2000-2010

Thuỷ sản là một trong 15 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt nam và đã được xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Vì vậy chúng ta đang rất cần có những định hướng và giải pháp có hiệu quả để thúc đẩu xuất khẩu. Định hướng phát triển của ngành thuỷ sản Việt nam giai đoạn 2001-2010 được thể hiện trong chiến lược xuất khẩu thuỷ sản Việt nam giai đoạn 2001-2010. Trong chiến lược đó những quan điểm, mục tiêu và phương  hướng đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản được thể hiện, cụ thể là:

3.1.1 Các quan điểm về đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản của Việt nam

– Xuất khẩu thuỷ sản tiếp tục là mũi nhọn trong phát triển kinh tế thuỷ sản, trước hết là kinh tế biển, có vai trò và vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế của đất nước, nâng cao thu nhập và và giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống của nhân dân vùng biển.

–  Xuất khẩu thuỷ sản phải chuyển từ kinh tế khai thác tài nguyên và kinh tế thương mại là chủ yếu sang kinh tế khai thác lao động kỹ thuật công nghệ là chủ yếu, chuẩn bị điều kiện tiến tới kinh tế khai thác trí tuệ và khoa học những năm sau năm 2010.

– Xuất khẩu và chế biến thuỷ sản phải gắn mật thiết và trực tiếp thúc đẩy sự phát triển của khai thác,  nuôi trông thuỷ sản, trên cơ sở cơ cấu kinh tế hợp lý với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, tạo tích luỹ lớn để tái sản xuất mở rộng, nhanh chóng tiến hành công nhiệp hoá và hiện đại hoá ngành thuỷ sản. Thực hiện song song  các mục tiêu : phát triển năng lực sản xuất, tái tạo và phát triển nguồn lợi, bảo vệ môi trường, tái tạo và phát triển sức lao động nghề cá.

– Xuất khẩu thuỷ sản phải đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với đổi mới công nghệ, kỹ thuật và trang thiết bị, phối hợp hài hoà với phát triển sản xuất cho nhu cầu xuất khẩu tại chỗ và tiêu dùng nội địa, mở rộng nhập khẩu bổ sung nguyên liệu cho xuất khẩu.

– Phát triển xuất khẩu và chế biến thuỷ sản  phải dựa trên thực hiện chiến lược con người, đổi mới tổ chức quản lý, chuyển hẳn từ quản lý chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân sang quản lý chủ yếu bằng tri thức khoa học.

3.1.2 Những phương hướng phát triển xuất khẩu thuỷ sản của ngành trong những năm tới.

– Tiếp tục phát huy thế mạnh của Biển, các vùng nước ngọt, lợ, tiềm lực lao động kết hợp với việc phát triển nông lâm thuỷ sản và du lịch để phát triển sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh công nhiệp hoá, hiện đại hoá, từng bước đưa ngành thuỷ sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân.

– Tăng cường khả năng cạnh tranh, mở rộng và đi từng bước vững chắc trong hội nhập khu vực và Quốc tế. Trên cơ sở đó tăng nhanh giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản, nhằm tăng cường tích luỹ nội bộ, mở rộng năng lực sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cải thiện đời sống người lao động nghề cá làm nghĩa vụ nộp ngân sách ngày càng tăng;

– Phát triển mạnh mẽ nuôi trồng thuỷ sản, đối với cơ cấu nghề khai thác hải sản ven bờ, tăng cường công tác khai thác xa bờ, góp phần làm thay đổi cơ cấu hàng thuỷ sản xuất khẩu và cải thiện đời sống của xã hội nông thôn vùng ven biển.

– Áp dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ thích hợp vào phát triển sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm và mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm thuỷ sản.

– Thúc đẩy công tác bảo vệ nguồn lợi, bảo vệ môi trường, duy trì cân bằng sinh thái ở những vùng nuôi, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường nuôi, đông thời có biện pháp hữu hiệu phòng dịch bệnh trong nuôi trông thuỷ sản, bảo đảm hàng thuỷ sản xuất khẩu có chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu của những thị trường khó tính như EU, Nhật Bản, Mỹ,…

– Tập trung vật tư, tiền vốn để xây dựng vật chất kỹ thuật của ngành, ưu tiên vào những vùng trọng điểm, đồng thời đưa nhanh các công trình dự án vào sản xuất, bảo đảm hiệu quả đầu tư.

– Sử dụng có hiệu quả viện trợ và hoạt động hợp tác Quốc tế, thu hút các hoạt động có vốn đầu tư trực tiếp, đặc biệt trong nuôi trồng thuỷ sản và chế biến các sản phẩm có giá trị thương mại cao.

– Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới bộ máy tổ chức, sắp xếp lại cán bộ để đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn mới.

3.1.3 Mục tiêu phát triển xuất khẩu thuỷ sản của Việt nam đến năm 2010.

* Mc tiêu dài hn

Với tiềm năng to lớn sẵn có, và xu hướng phát triển xuất khẩu thuỷ sản thế giới ngày càng tăng, Ngành thuỷ sản đặt ra mục tiêu xuất khẩu thuỷ sản đến năm 2010 như sau:

– Không ngừng tăng phần đóng góp của ngành thuỷ sản vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước bằng việc tăng cường xuất khẩu, gia tăng thu nhập ngoại tệ và nâng cao vị thế của thuỷ sản Việt nam trên trường Quốc tế, giải quyết được nhiều công ăn việc làm và nâng cao thu nhập, mức sống của các cộng đồng dân cư sống dựa vào nghề cá.

– Tăng mức cung cấp sản phẩm thuỷ sản cho các thị trường và tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân có thể tiếp cận và tiêu dùng sản phẩm thuỷ sản dễ dàng.

– Đưa Ngành thuỷ sản trở thành một ngành kinh tế được công nghiệp hoá và hiện đại hoá với khoa học và kỹ thuật tiên tiến, nhằm không ngừng tạo ra hiệu quả kinh tế cao, không những phát huy những lợi thế so sánh mà còn góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.

– Xây dựng một ngành thuỷ sản được quản lý tốt nhằm đạt được sự phát triển ổn định, bền vững cho hiện nay và trong tương lai. Đó cũng là tiền đề, động lực để nâng cao khả năng cạnh tranh của thuỷ sản xuất khẩu.

* Mc tiêu ngn hn

Ngành cần tập trung thực hiện các mục tiêu chủ yếu sau:

– Gắn chế biến xuất khẩu với sản xuất nguyên liệu, tạo cơ sở vững chắc cho sản xuất hàng hoá quy mô lớn, giảm giá thành nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh.

– Giữ vững và phát triển thị trường tại các khu vực chính trên thế giới, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt 2 tỷ USD vào năm 2002 và 3,5 tỷUSD vào năm 2010.

– Phát huy lợi thế kinh tế biển bằng cách khai thác hợp lý nguồn tài nguyên, phấn đấu đưa tỷ trọng ngành thuỷ sản trong GDP lên 2,5-3% và bảo đảm tốc độ tăng tổng sản lượng bình quân của Ngành 4,5-5,1%năm

– Không tăng sản lượng khai thác nhiều trong giai đoạn 2000-2010, giữ mức tăng từ 1,2-1,4 triệu tấn ( trong đó khai thác cá, tôm, mực khoảng 1,3 triệu tấn, nhuyễn thể 100.000 tấn). Tăng nhanh sản lượng nuôi trồng thuỷ sản từ 10-13%/năm.

– Số lao động trực tiếp và phục vụ nghề cá tăng trung bình 2,65%/năm; 3,55 triệu lao động vào năm 2002; 3,9 triệu vào năm 2005 và 4,4 triệu lao động vào năm 2010. Trong đó lao động nuôi trồng thuỷ sản và lao động chế biến thuỷ sản tăng gấp 2 lần.

3.2 PHƯƠNG HƯỚNG XUẤT KHẨU HÀNG THUỶ SẢN VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ

Chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu hàng thuỷ sản giai đoạn  2000 –2010  coi trọng và đánh giá cao tiềm năng xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ. Mục tiêu đặt ra là phải đạt được kim ngạch xuất khẩu trên 500 triệu USD vào năm 2002, 2005 đạt 600 triệu USD vào năm 2005, và 1 tỷ USD vào năm 2010, với tốc độ tăng trưởng bình quân 15%/ năm và kim kim ngạch xuất khẩu  vào thị trường Mỹ chiến từ 25-28% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của ngành.

Theo đánh giá của các nhà chuyên môn, và những phân tích về thực trạng xuất khẩu hàng thuỷ sản trong thời gian vừa qua trên các góc độ: kim ngạch xuất khẩu, tốc độ xuất khẩu, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, phương thức xuất khẩu và  hoạt động thâm nhập vào thị trường Mỹ của  ngành thuỷ sản trong thời gian vừa qua làm nổi bật nên tất cả những khó khăn thuận lợi, cơ hội và thách thức để tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường này. Những mục tiêu đặt ra là   là hoàn toàn có khả năng thực hiện được. Phương hướng thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ trong thời gian tới là:

– Tiếp tục đầu tư công nghệ nâng cao năng lực chế biến để có được những mặt hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng cao, khai thác được lợi thế về việc giảm thuế suất thuế nhập khẩu mà hiệp định thương mai Việt – Mỹ đã có hiệu lực mang lại. Đây là hướng rất quan trọng bởi lẽ những mặt hàng xuất khẩu thuỷ sản trong thời gian vừa qua kể cả trước và sau hiệp định thương mại Việt Mỹ hầu như là hàng sơ chế, hàng đông lạnh thuần tuý, nên chưa được hưởng lợi thế này.  Chỉ có đầu tư tạo ra những mặt hàng thuỷ sản chế biến sâu thì mới tiếp tục có chỗ đứng vững chăcs trên thị trường Mỹ và mới đặc trưng rõ nét của thương hiệu hàng thuỷ sản Việt nam. Từ đó mới tiến tới phân phố trực tiếp hàng thuỷ sản trên thị trường Mỹ.

– Song song với việc thay đổi cơ cấu và giá trị hàng thuỷ sản xuất khẩu sang Mỹ để được hưởng ưu đãi về thuế, các doanh nghiệp cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện tiêu chuẩn HACCP có hiệu quả để thuận lợi trong việc đưa hàng thuỷ sản vào Mỹ, thông qua việc thương xuyên tổ chức theo dõi hệ thống kiểm soát vệ sinh và môi trường nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thuỷ sản nhập khẩu của Mỹ.

– Theo dõi thường xuyên nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng thuỷ sản của người Mỹ để kịp thời phát hiện ra những cơ hội mới, nhanh chóng đưa hàng thuỷ sản thích hợp vào chiếm lĩnh thị trường. Cụ thể là tăng cường phát triển nuôi cá rô phi để có nguyên liệu chế biến cung cấp cho thị trường Mỹ vì mặt hàng này đang tăng về nhu cầu và phâng lớn phải nhập khẩu  được nhập khẩu.

– Ngành thuỷ sản cần phải có những biện pháp khuyến khích đầu từ vào lĩnh vực nuôi trồng và chế biéen thuỷ sản xuất khẩu từ phía các dối tác Mỹ để giúp hàng thuỷ sản thâm nhập vào Mỹ vượt qua các rào cản phức tạp của kỹ thuật vào thị trường này.

– Thay đổi cách thức thâm nhập thị trường  Mỹ thông qua việc tận dụng đội ngũ đông đảo Việt kiều, Hoa kiều để đưa hàng vào thị trường Mỹ

3.3 GIẢI PHÁP PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG THUỶ SẢN VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ.

3.3.1  Giải pháp tăng cường nghiên cứu thị trường Mỹ

Phân tích những đặc điển của thị trường thuỷ sản Mỹ cùng với xen xét thực trang hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Ngành thuỷ sản Việt nam trong thời gian qua vào thị trường này đã cho thấy có rất nhiều những khó khăn để thúc đẩy xuất khẩu hàng thuỷ sản tăng nhanh về kim ngạch và tốc độ. Một trong những khó khăn hàng đầu được phản ánh từ phía  các doanh nghiệp, đó là khả năng hiểu biết về thị trường Mỹ còn hạn chế. Muốn đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ thì trước hết phải tăng cường khả năng hiểu biết về thị trường Mỹ trên các vấn đề sau đây:

+ Nghiên cứu nắm vững luật pháp của Mỹ có liên quan đến hoạt động nhập khẩu hàng thuỷ sản. Thực tế cho thấy hệ thống luật pháp của Mỹ là rất phức tạp và chặt chẽ. Ngoài hệ thống luật pháp liên bang thì mỗi bang lại có sự khác biệt đáng kể về luật lệ. Tổng cộng 50 bang của Hoa kỳ có tới trên 2700 chính quyền địa phương các cấp, các cơ quan này đều có các quy định riêng của họ. các yêu cầu này thường không thống nhất với nhau. Vì vậy không thể tuy tiện áp dụng quy định của Bang này ở một Bang khác. Các doanh nghiệp, hiểu rõ và đầy đủ hệ thống pháp luật của Mỹ liên quan đến hoạt động xuất khẩu của mình như: các thủ tục hải quan, biểu thuế quan nhập khẩu, luật trách nhiệm sản phẩm, luật chống phá giá, vấn đề bảo hộ và sở hữu trí tuệ, vấn đề ghi xuất sứ hàng hoá hay lập hoá đơưn thương mai,… tất cả đều có các quy định nghiêm ngặt và buộc phải tuân thủ chặt chẽ. đặc biệt cần nghiên cứu kỹ quy định luật của Mỹ về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thuỷ sản- luật thực phẩm nêu trong chương 1,2,3. Để hiểu rõ hệ thống pháp luật của Mỹ các doanh nghiệp có thể tiếp cận với các nguồn thông tin khác nhau, chẳng hạn như thông qua các đối tác Hoa Kỳ yêu cầu họ cung cấp các quy định về đóng gói, về vệ sinh an toàn thực phẩm, về trình tự kiểm tra của FDA đối với hàng thuỷ sản nhập khẩu vào Mỹ. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có thể tìm hiểu thông qua các tổ chức như Bộ thuỷ sản, Bộ thương mại, Phòng thương mại và công nghiệp Việt nam, Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sảnViệt nam, các nhà môi giới hải quan Mỹ, cơ quan thương vụ Mỹ tại Việt nam

+ Nắm thông tin về thuế nhập khẩu đối với hàng thuỷ sản của Mỹ, thuế suất có thể thay đổi từng năm, thuế suất được giảm nhiều khi hàng thuỷ sản xuất khẩu cóị giá trị gia tăng lớn.

+ Nắm thông tin về đối thủ cạnh tranh, hàng thuỷ sản của ngành thuỷ sản Việt nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ đang chịu sự cạnh tranh râts lớn từ các đối thủ đã được chỉ ra khi phân tích ở chương 2 cần lưu ý rằng những đối thủ này có nhiều điểm tương đồng về điều kiện sản xuất, xuất khẩu với Việt nam và họ đã có  một thời gian dài thâm nhập, phát triển tại thị trường Mỹ, họ có  mạng lưới phân phối hàng thuỷ sản hiệu quả, đặc biệt các đối thủ đó thực hiện các liên kết hỗ trợ rất tốt giữa doanh nghiệp và chính phủ trong việc xúc tiến đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Mỹ, và thu hút đầu tư,  liên  kết với các đối tác Mỹ cả trong khai thác, chế biến và xuất khẩu thuỷ sản.

+ Năm vững  thông tin cụ thể về mặt hàng xuất khẩu thông qua cách thức, tổ chức tham quan, tham dự hội chợ hàng thuỷ sản có sự hỗ trợ của nhà nước; nắm bắt thông tin qua hiệp hội chế biến xuất khẩu thuỷ sản Việt nam; qua trung tâm phát triển ngoại thương của tỉnh, thành phố, Qua phòng thương mại và công nghiệp Việt nam.Ngoài ra, nắm các thông tin về hàng thuỷ sản từ nước Mỹ thông qua mạng Internet.

3.3.2  Giải pháp tăng cường hoạt động xúc tiến xuất khẩu vào thị trường Mỹ.

Trên cơ sở nghiêu cứu và nắm vững thị trường thuỷ sản của Mỹ,muốn thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường này, đòi hỏi phải thực hiện giải pháp tăng cường xúc tiến xuất khẩu g. Tăng cướng xúc tiến xuất khẩu cần phải được thực hiện cả ở tầm vĩ mô và cả ở tầm vi mô.

* Đối vi xúc tiến xut khu tm vĩ mô.

Bộ thuỷ sản cần phải phối hợp với cục xúc tiến thương mại thuộc Bộ thương mại xây dựng chiến lược  xúc tiến ở tầm vĩ mô phù hợp với đậc diểm tính chất của thị trường Mỹ. Sự phối hợp này thông qua việc giúp các doanh nghiệp tiếp cận với thị trường mỹ qua các cuộc khảo sát thị trường, tham gia hội chợ hàng thuỷ sản, thông qu việc tiếp xúc với các doanh nghiệp của Mỹ,…

Bộ thuỷ sản xây dựng trang Web với thiết kế hợp lý khoa học để giới thiệu tiềm năng của ngành thuỷ sản việt nam; tính cạnh tranh của sản phẩm thuỷ sản Việt nam, hoạt động thương mại; các cơ hội thương mại và đầu tư ; cơ chế thủ tục đầu tư; xuất  nhập khẩu thuỷ sản, đặc biệt là các sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị hiếu của thị trường mỹ.

Bộ thuỷ sản, phối hợp tổng cục du lịch và Bộ văn hoá thông tin, tổng cục hàng không Việt nam để giới thiệu văn hoá ẩm thực việt nam.

Bộ thuỷ sản cần phối hợp với Bộ ngoại giao để giao nhiệm vụ cho các sứ quán của Việt nam đóng ở Mỹ tham gia cung cấp thông tin về thị trường mỹ và tìm kiếm đối tác.

Xây dựng phương án thuê kho hoặc đầu tư xây dựng kho đông lạnh tại thị trường Mỹ để giúp doanh nghiệp từng bước tiến tới phân phối trực tiếp hàng thuỷ sản trên thị trường này.

Tổ chức các hội thảo khoa học quốc tế về giống, nuôi trồng, chế biến thuỷ sản nhiệt đới, tìm kiếm các cơ hội để thu hút các doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào nuôi trồng, chế biến thuỷ sản.

* Xúc tiến xut khu tm vi mô

Các doanh nghiệp của Việt nam xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường mỹ có thể lựa chọn tổ chức xúc tiến trực thông qua khảo sát và tìm kiếm khách hàng trên thị trường Mỹ, tham gia hội chợ triển lãm. Để ttỏ chức xúc tiến trực tiếp có hiệu quả cần phải chuẩn bị chu đáo cụ thể: tham khảo ý kiến của hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản (VASEP), của tham tán thượng mại của Việt nam tại Mỹ, của các khách hàng quen trước khi qua Mỹ. Tổ chức chu đáo cho chuyến đi từ lập lịch trình tiếp xúc tham quan, đến chuẩn bị catalogue giới thiệu sản phẩm, kế hoạch tiếp xúc với các đối tác phải thật chi tiết.

Các doanh nghiệp Việt nam xuất khẩu thuỷ sản có thể tiếp thị thông qua mạng Internet bằng 2 cách:

 Xây dựng trang Web của công ty với thiết kế khoa học và gây được ấn tượng; tiến tới việc xuất khẩu thuỷ sản qua mạng.

Các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản của Việt nam tuy vào sự tăng trưởng của quy mô kinh doanh của doanh nghiệp có thể lựa chọn tiếp thị thông qua việc xây dựng bộ phận đại diện thương mại của công ty tại thị trường Mỹ. Trước mắt có thể góp vốn để hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt nam mở văn phòng đại diện tại Mỹ và doanh nghiệp dựa vào văn phòng này để nắm thông tin về thị trường và tiến hành xúc tiến thương mại. Khi doanh nghiệp xuất khẩu đạt doanh số lớn trên 30 triêu USD/ năm sẽ mở thêm văn phòng hoặc chi nhánh tại các thành phố lớn của Mỹ để đẩy mạnh xúc tiến bán hàng.

Các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản cần tiến đến xây dựng và củng cố thương hiệu sản phẩm của mình trên thị trường Mỹ. Điều này cần tập trung vào nâng cao chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, cần phải có được các mặt hàng thuỷ sản phù hợp với nhu cầu của thị trường Mỹ để sản phẩm của doanh nghiệp có đặc trưng riêng. Xây dựng thương hiệu thuỷ sản của mình có uy tín trên thị trường Mỹ là phương tiện tiếp thị hữu hiệu giúp duy trì và phát triển thị trường.

3.3.3 Giải pháp nâng cao tính cạnh tranh của mặt hàng thuỷ sản .

Chất lượng, giá cả là những yếu tố quan trọng nhất để tiếp tục duy trì được tốc độ xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ. Những phân tích ở chương 2 đã cho thấy tính cạnh tranh của hàng thuỷ sản của Việt nam chưa phải là cao: còn xuất khẩu thô, chua tạo lập được thói qen tiêu dùng, giá thành sản phẩm cao. Giải quyết những vấn đề này trong thời gian tới cần phải thực hiện tốt các vấn đề sau đây:

3.3.3.1 Nâng cao tính cạnh tranh về chất lượng:

+ Bắt buộc các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản phải đạt được tiêu chuẩn HACCP, khuyến kích xây dựng tiêu chuẩn ISO 9000. Đa số thị trường nhập khẩu thuỷ sản lớn của Việt nam, trong đó có thị trường Mỹ đù đòi hỏi HACCP giống như giấy thông hành bắt buộc khi muốn đưa hàng thuỷ sản vào thị trường Mỹ, Ngoài ra với hệ thống HACCP sẽ cho phép các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản thường xuyên ngăn ngưà va xử lý kịp thời những mối nguy đáng kể xâm nhập vào sản phẩm, từ khâu nguyên liệu đầu vào đến khẩu cuối cùng. Khi xây dựng tiêu chuẩn HACCP và thực hiện chương trình này có hiệu quả đòi hỏi các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản phải có các điều kiện sau đây:

Doanh nghiệp phải có chương trình sản xuất ổn định và phải kiểm soát được quá trình đó; toàn bộ nhân viên tham gia trong hệ thống HACCP phải được đào tạo; doanh nghiệp phải có riêng hệ thống tài liệu và dữ liệu để bảo đảm cung cấp và phân tích thông tin chính xác; chất lượng sản phẩm phải ổn định và đồng nhất, các thiết bị đo lường kiểm tra chính xác; có hệ thống kịp thời phát hiện mầm bệnh và mối nguy có liên quan đến chế biến thực phẩm. Tuy nhiên khi đã xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn HACCP được rồi thì doanh nghiệp cần phải tins tới xây dựng tiêu chuẩn ISO 9000. Bởi vì tiêu chuẩn HACCP không nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng cho nên nó không đề cập đến việc duy trì cơ sở hạ tầng cho việc kinh doanh thuỷ sản. Trong khi đó tiêu chuẩn ISO 9000 không chỉ quan tâm tới quá trình kiểm soát quá trình chế biến thuỷ sản, mà còn quan tâm tới cả cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động kinh doanh, đến nhu cầu và yêu cầu của người tiêu dùng và hiệu quả kinh doanh xuất khẩu.

+ Nâng cao tỷ trọng hàng thuỷ sản chế biến: Hàng thuỷ sản chế biến  xuất khẩu vào thị trường Mỹ nếu tăng được  tỷ trọng chẳng những thu được nhiều ngoại tệ hơn, sử dụng nhân công lao động rẻ, khai thác được lợi thế về thuế nhập khẩu mà hiệp định thương mại Việt – Mỹ mang lại, mà còn cho phép bảo quản chất lượng tốt hơn. Muốn sử dụng giải pháp này cần phải nghiên cứu kỹ thị hiếu tiêu dùng của người dân Mỹ,  thực hiện liên doanh, liên kết với các công ty Mỹ để họ bao tiêu sản phẩm.

+ Hoàn thiện hệ thống kiểm tra chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm quốc gia. Một thực tế hiện nay cho thấy tồn tại một thực trạng là có qua nhiều các cơ quan thực hiện thanh tra – kiểm tra nhà nước về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm: Trung tâm y tế dự phòng, Trung tâm tiêu chuẩn- đo lường-chất lượng sản phẩm khu vực hoặc chi cục tiêu chuẩn -đo lường-chất lượng; Trung tâm kiểm tra chất lượng và vệ sinh thuỷ sản (NAFIQACEN); Chi cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản; Chi cục thú y… Sự quản lý chồng chéo, phân đoạn trong công tác kiểm tra, thanh tra và quản lý nhà nước về chất lượng gây khó khăn và tốn kém cho doanh nghiệp xuất khẩu.

Bộ thuỷ sản và các cơ quan ban ngành hoàn chỉnh lại hệ thống văn bản pháp quy về quản lý chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm trên cơ sở các văn bản hiện hành và nghiên cứu quy định của các nước về vấn đề này để xây dựng các tiêu chuẩn mạng tính hội nhập, đảm bảo cho sản phẩm thuỷ sản đạt tiêu chuẩn Quốc gia cũng đạt tiêu chuẩn Quốc tế. Bộ thuỷ sản thay mặt chính phủ cần phải nỗ lực làm sao ký được hiệp định tránh kiểm tra hai lần  thuỷ sản xuất khẩu với cơ qua FDA Hoa kỳ để khi hàng thuỷ sản xuất khẩu đã lấy được giấy chứng nhận của (NAFIQACEN) thì khi nhập khẩu vào Mỹ không phải giám định lại.

3.3.3.2 Nâng cao tính cạnh tranh về giá của hàng thuỷ sản xuất khẩu.

Trong thời gian vừa qua xuất khẩu thuỷ sản nói chung và xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ nói riêng đứng trước một khó khăn phổ biến là các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu đều khó khăn về nguyên liêu đầu vào so với công suất thiết kế của nhà máy, cho nên phải tranh giành thu mua nguyên liệu với giá cao dẫn tới giá xuất khẩu thuỷ sản chưa mang tính cạnh tranh cao. Để thuỷ sản xuất khẩu cạnh tranh được về giá phải tâp trung vào giải quyết tốt các vấn đề sau :

+ Giảm tổn thất trong khâu thu hoạch ( đánh bắt và nuôi trông). Theo thống kê của bộ thuỷ sản tổn thất trong khâu thu hoạch thuỷ sản chiếm từ 20 – 30% tổng sản lượng thuỷ sản. Những nguyên nhân dẫn đến tổn thất là do việc đánh bắt ở nhiều nơi không khoa học; phương tiện bảo quản huỷ sản phục vụ đánh bắt xa bờ kém dẫ đến thuỷ sản hư thối phải loại bỏ; tận dụng phế liệu thuỷ sản chưa tốt,… Tất cả những nguyên nhân trên dẫn đến giá thành đánh bắt thuỷ sản cao. Muốn giảm tổn thất trong khâu thu hoạch cần đầu tư đồng bộ: đánh bắt, hậu cần cho đánh bắt, chế biến, bảo quản thuỷ sản đánh bắt xa bờ. Khuyến khích và phổ biến công nghệ tận dụng các phế phẩm từ thuỷ sản để làm nước mắm, thức ăn gia xúc, phân bón,… nhờ đó mà giảm giá thành sản phẩm. Thể chế hoá bằng luật nghiêm cấm đánh bắt thuỷ sản gây hại cho môi trường.

+ Tổ chức tốt công tác hậu cần cho hoạt động đánh bắt xa bờ.

+ Tổ chức tốt các trung tâm giống quốc gia để tránh hiện tượng giống thuỷ sản tốt nhưng khan hiếm đã đẩy giá lên cao hoặc giống xấu dẫn đến năng suất nuôi trồng thấp.

+ Lập ngân hàng thuỷ sản có các chi nhánh tại các trung tâm thuỷ sản lớn của Nhà nước để phục vụ cho tất cả các khâu kinh doanh thuỷ sản tránh được hiện tượng phổ biến hiện nay là thiếu vốn.

+ Nâng cao năng suất đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản, hiện nay việc đánh bắt và nuôi trồng nhìn chung là kỹ thuật lạc hậu, áp dụng phương pháp quảng canh là chủ yếu làm cho năng suất thấp ảnh hưởng đế giá thành xuất khâủ, cho nên công nghiệp hoá sản xuất và nuôi trồng thuỷ sản, áp dụng công nghệ tiên tiến sẽ góp phần nâng cao năng suất và giảm thiểu rủi ro do môi trường thời tiết, khí hậu thay đổi, giảm chi phí sản xuất kinh doanh thuỷ sản.

+ Đơn giản hoá thuỷ tục hành chính liên quan đến kiểm tra, kiểm soát thuỷ sản xuất khẩu để giảm được chi phí kinh doanh xuất khẩu.

 

3.3.4  Giải pháp ổn định kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản

Muốn thúc đấy xuất khẩu thuỷ sản của Ngành thuỷ sản Việt nam nói chung và đặc biệt là xuất khẩu hàng thuỷ sản vào thị trương Mỹ rất cần thiết phải có giải pháp làm giảm đi những yếu tố bất ổn định ảnh hưởng đến sự tăng trưởng xuất khẩu thuỷ sản. Ổn định kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản bao hàm tạo lập và ổn định môi trường kinh doanh và ổn định và phát triển nguyên liệu đầu vào cho hoạt động chế biến xuất khẩu. Điều này được giải quyết thông  qua thực hiện những giải pháp cụ thể sau đây:

+ Nhanh chóng xây dựng và phê chuẩn luật thuỷ sản.  Ngành thuỷ sản phải xúc tiến nhanh xây dựng dự thảo luật thuỷ sản để trình Quốc hội  thông qua nhằm ổn định môi trường kinh doanh thuỷ sản, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động đầu tư kinh doanh thuỷ sản, tạo cơ sở thực hiện kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh thuỷ sản và xử lý lý các trường hợp vi phạm pháp luật có liên quan đến thuỷ sản.

+ Xây dựng chiến lược giống thuỷ sản ở tầm Quốc gia

Mặc dù từ năm 1996 Bộ thuỷ sản đã có quyết định về việc quy hoạch sắp xếp lại cơ sở giống nuôi thuỷ sản thời kỳ 1996-2000, trong đó có 6 trung tâm giống quốc gia nước ngọt thuộc các viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản, 10 trại giống cấp một thuỷ sản nước ngọt, 3 trung tâm giống quốc gia hải sản, nhưng trên thực tế các trung tâm này chưa được đầu tư xây dựng để thực hiện chức năng của hệ thống giống Quốc gia. Tôm là mặt hàng xuất khẩu chủ lực chiếm gần 50% kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ nhưng việc quy hoạch hệ thống trại sản xuất giống chưa được triển khai, các trại sản xuất mtôm giống tập trung ở miền trung do đó vận chuyển tôm giống đi các tỉnh Miền tây Nam Bộ và chuyển tôm giống ra các tỉnh phía Bắc làm tăng chi phí, chất lượng tôm giống bị ảnh hưởng và đặc biệt là không bảo đảm thời vụ nuôi.

Vấn đề giải quyết tôm bố mẹ thành thục, có chất lượng cho các cơ sở sản xuất giống nhân tạo là vấn đề bức xúc vẫn chưa có giải pháp hiệu quả. Giá cả tôm mẹ biến động rất lớn từ vài trăm ngàn đồng /1 con, có lúc lên 10 triệu đồng /1 con.

Việc nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất giống cá biển còn chậm, đến nay nuôi biển vẫn phải dựa vào giống tự nhiên.

Cần thết đển giải quyết những bất cập đó cần phải xây dựng chiến lược giống thuỷ sản ở tầm Quốc gia để định hướng phát triển thuỷ sản theo hướng có hiệu quả nhất; phát triển giống phù hợp với điều kiện quy hoạch lãnh thể, giảm thiểu tính tuỳ tiện trong sử dụng giống, kiểm soát dịch bệnh và phòng chống dịch bênh trong nuôi trồng thuỷ sản, đảm bảo tạo ra nguồn nguyên liệu nuôi trồng thuỷ sản ổn định cung cấp cho hoạt động xuất khẩu.

+ Xây dựng chiến lược nguồn nguyên liệu thuỷ sản bền vững. Hiện nay xuất khẩu vào thị trường Mỹ, nhiều doanh nghiệp chế biến hàng xuất khẩu không thể đáp ứng các đơn đặt hàng lớn từ phía đối tác Mỹ vì thiếu nguyên liệu, hoặc có nguyên liệu nhưng giá cao do phải cạnh tranh trong thu mua lớn. Muốn xây dựng chiến lược nguồn nguyên liệu thuỷ sản bền vững cần áp dụng các biện pháp:

– Tiếp tục hoàn chỉnh chương trình đánh bắt xa bờ, nhưng chú ý tính đồng bộ của việc thực hiện chương trình này: không chỉ đầu tư vào tàu có khả năng đánh bắt xa bờ, mà còn phải đầu tư đồng bộ cho tàu có khả năng chế biến và bảo quản thuỷ sản xa bờ.

– Lập bản đồ quy hoạch vùng nuôi trồng thuỷ sản để hướng dẫn ngư dân chuyển đổi có khoa học sản xuất nông nghiệp sang nuôi trồng thuỷ sản. Tránh tình trạnh như hiện nay, nuôi trồng thuỷ sản mang tính tự phát cao, thiếu sự chỉ đạo, hướng dẫn của nhà nước khiến người dân đầu tư lớn, nhưng tỷ lệ thất bại cũng rất nhiều, dẫn đến thiếu nguyên liệu mở rộng thị trường xuất khẩu.

–  Bộ thuỷ sản cần phải lấy một phần ngân sách nghiên cứu khoa học và công nghệ dành cho ngành để in các tài liệu khuyến ngư phát không hoặc bán rẻ cho ngư dân nuôi trồng thuỷ sản: những tài liệu này chứa đựng những thông tin phổ biến về các loại giống thuỷ sản phù hợp, có hiệu quả; cách nuôi trồng chúng; những kinh nghiệm phòng bệnh và chữa bệnh cho các loại thuỷ sản.

– Xây dựng chiến lược nhập khẩu nguyên liệu thuỷ sản từ nước ngoài để chế biến hàng xuất khẩu. Nguồn nguyên liệu thuỷ sản có được từ việc tăng cường và phát triển nuôi trồng và khai thác thuỷ sản .  Tuy nhiên, thực tế vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ và ồn định nguyên liệu đầu vào cho chế biến xuất khẩu thuỷ sản. Hiện nay nhà nước vẫn giữ mức thuế nhập khẩu nguyên liêu thuỷ sản rất cao( 30% ), vì vẫn cho rằng nhập khẩu thuỷ sản nguyên liệu dẫn đến làm suy yếu ngành sản xuất thuỷ sản nước nhà. Nhưng cần phải khuyến khích nhập khẩu thuỷ sản nguyên liệu vì : một mặt giải quyết tình trạng thiếu nguyên liệu cho chế biến, mặt khác kích thích Ngành thuỷ sản phải nỗ lực tìm biện pháp tăng tính cạnh tranh, giảm giá thành. Nhập khẩu nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu thuỷ sản cần thực hiện đồng bộ  các biện pháp: Giảm thuế nhập khẩu xuống còn 0% -5%( tuỳ từng loại ); Thể chế hoá quy định nhập khẩu nguyên liệu thuỷ sản  trong luật thuỷ sản; Tiêu chuẩn hoá các các quy định về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các nguyên liệu thuỷ sản nhập khẩu; Xây dựng quy chế kiểm tra kiểm soát  đối với nhập khẩu nguyên liệu thuỷ sản .

– Có chính sách ưu đãi đầu tư nước ngoài cho phát triển  cơ sở cung cấp giống và nuôi trồng thuỷ sản. Ngành công nghiệp thuỷ sản Việt nam có trình độ phát triển công nghệ sản xuất giống, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến đi sau hàng chục năm so với các quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới. Cho nên muốn giảm bớt yếu tố tự nhiên, tự phát trong sản xuất thuỷ sản thì cần phải có quy chế đặc biệt ưu đãi về: thuế sử dụng tài nguyên mặt nước, VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp và nhiều các ưu đãi khác.

+ Xây dựng hệ thống kho thuỷ sản quốc gia tại những trung tâm lớn vềđánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản. Phải tiến hành xây dựng ngay hệ thống kho thuỷ sản Quốc gia tại Đà Nẵng, Quảng ninh, thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện các hoạt động quan trọng như: tham gia ổn định giá thuỷ sản xuất khẩu tránh tình trạng doanh nghiệp bán thấp hơn giá thành khi giá thuỷ sản thế giới xuống thấp; giúp các doanh nghiệp ổn định nguồn hàng thực hiện các hợp đồng lớn; nhận giữ hàng thuỷ sản của các doanh nghiệp; tiến tới chở thành chợ xuất khẩu thuỷ sản để là nơi môi giới khách hàng, cung cấp thông tin thị trường, tình hình cung cầu, giá cả thuỷ sản xuất khẩu, phục vụ cho đấu giá thuỷ sản; phối hợp cung cấp các dịch vụ giám định chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thuỷ sản xuất khẩu; thủ tục hải quan. Xây dựng kho với vốn đầu tư ban đầu bằng nguồn vốn ngân sách hoặc nguồn vố ODA, vốn cổ phần và kho phải hoạt động theo chế độ hạch toán độc lập.


3.3.5  Giải pháp hoàn thiện phương thức xuất khẩu hàng thuỷ sản

Trực trạng xuất  khẩu hàng thuỷ sản của Việt nam vào thị trường Mỹ trong thời gian vừa qua đã cho thấy gần như 100% các doanh nghiệp thuỷ sản Việt nam xuất khẩu theo giá FOB, cho nên toàn bộ việc giao hàng cho khách hàng là tại Việt nam, toàn bộ hoạt động phân phối bán hàng ở thị trường Mỹ là do đối tác năm giữ. Xuất khẩu thuần túy theo phương thức bán hàng qua trung gian như vậy về lâu dài khó duy trì và phát triển được một cách vững trắc tại thị trường Mỹ, khó có thể phát hiện được những nhu cầu mới để kịp thời đáp ứng, hiệu quả từ hoạt động xuất khẩu sẽ không cao. Cần phải hoàn thiện phương thức xuất khẩu theo hướng từng bước tiến tới xuất khẩu trực tiếp, từng bước tiến tới phân phối thuỷ sản trực tiếp tại thị trường Mỹ. Để thực hiện được giải pháp này đòi hỏi các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản phải chủ động nghiên cứu và nắm vững hệ thống phân phối hàng thuỷ  sản trên thị trường Mỹ, nghiên cứu kinh nghiệm của các nước  đã rất thành công khi xuất khẩu hàng thuỷ sản vào thị trườn mỹ như ; Canada, Thái lan, Chile, Trung quốc.  Đặc biệt cần phải tận dụng được đông đảo đội ngũ những người Việt kiều,  Hoa kiều để đưa hàng thuỷ sản vào thị trường Mỹ. Bên cạnh đó, cần phải có sự tài trợ một phần của Nhà nước, hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản xây dựng hoặc thuê mướn lâu dài kho bãi ở thị trường mỹ để tổ chức tham gia bán buôn ở nước này, tổ chức hội nghị khách hàng mua thuỷ sản xuất khẩu tại Mỹ.

 

3.3.6 Giải pháp hỗ trợ từ phía Nhà nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản.

Có thể nói, Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển thuỷ sản nói chung và đặc biệt là phát triển xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ. Việt nam có nền kinh tế chưa phát triển do đó sự phát triển Ngành thuỷ sản mang nhiều yếu tố tự phát thiếu ổn định, chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro. để hướng nền thuỷ sản như thế tiếp cận với thị trường thuỷ sản thế giới nói chung và thị trường mỹ nói riêng có hiệu quả thì vai trò của Nhà nước là rất quan trọng: nhà nước vừa đóng vai trò của nhạc trưởng điều tiết ngành thuỷ sản phát triển đúng hướng vừa đongs vai trò là nhà thương thuyết để tạo môi trường xuất khẩu thuỷ sản thuận lợi, là nhà can thiệp tạo ra động lực hỗ trợ các nhà kinh doanh thuỷ sản xuất khẩu. Trong những khó khăn hiên nay khi đưa hàng thuỷ sản vào thị trường Mỹ có những khó khăn nằm ngoài khả năng của doanh nghiệp mà doanh nghiệp không thể tự khắc phục được. Nổi cộm hiện nay đó là Việc ngày 5/10/2001 Hạ nghị viện Mỹ thông qua dự luật HR2964 chỉ cho phép sử dụng tên casfish cho riêng các loài cá nheo thuộc họ Ictaluridae ( cá tra, cá basa của Việt nam thuộc họ Pangasiidae) ngày 25/10/2001, Thượng viện Mỹ thông qua điều luật bổ sung cho dự luật HR2330 phân bổ ngân sách nông nghiệp cho năm tài chính 2002, quy định cơ quan quản lý dược phẩm và thực phẩm Hoa Kỳ( FDA ) không được dùng ngân sách cấp để làm thủ tục cho phép nhập khẩu các loài cá mang tên Catfish nếu chúng không thuộc họ Ictaluridae. Ngày 13/5/2002, Tổng thống Mỹ phê chuẩn đạo luật An ninh trang trại và đầu tư nông thôn HR2646, trong đó cấm hoàn toàn việc dùng tên Catfish trong dán nhãn, quảng cáo sản phẩm làm từ các loài cá không thuộc họ Ictalusidae, thời kỳ áp dụng 5 măm và có thể kéo dài. Ngày 28/6 /2002 vừa qua hiệp hội cá nheo Mỹ (CFA) đã kiện Việt nam bán phá giá cá tra và cá basa vào thị trường Mỹ. Tất cả những diễn biến đó đã gây bất lợi cho việc xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ nói chung và đối với riêng mặt hàng cá tra và cá basa nói riêng. Những khó khăn đó cho thấy thâm nhập vào thị trường Mỹ hoàn toàn không đơn giản khi lượng hàng thuỷ sản của chúng ta còn ít trên thị trường thì mọi vấn đề không có gì đáng nói. nhưng khi đã chiếm thị phần khá hơn, với lượng hàng và giá trị tăng nhanh hẳn sẽ xẩy ra các tranh chấp thương mại. Những khó khăn này rất cần cần có sự trợ giúp từ phía chính phủ. đặc biệt là từ Bộ thuỷ sản, Bộ ngoại giao, và Bộ thương mại, cầ phải nỗ lực giải quyết tranh chấp tránh cho phía Hoa kỳ áp dụng luật chống phá giá đối với hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt nam vào Mỹ. Ngoài ra, những yếu kém về hiểu biết thị trường, về khả năng tiếp thị cũng rất cần thiết có sự trợ giúp từ phía chính phủ và nhà nước.

Như vậy, giải pháp hỗ trợ từ phía nhà nước không hẳn chỉ từ cơ chế chính sách mà còn cả vấn đề đầu tư nâng cao năng lực cho ngành thuỷ sản, hỗ trợ thông tin, trợ giúp về mặt pháp lý, cố gắng thúc đẩy cả hai phía thực hiện nghiêm chỉnh những cam kết trong hiệp định thương mại Việt  Mỹ.

 


 KẾT LUẬN

Thuỷ sản là ngành kinh tế mang lại hiệu quả xuất khẩu cao, với tốc độ phát triển nhanh, ngành đã đưa nền kinh tế Việt nam hội nhập với kinh tế thế giới và khu vực.  Đóng góp vào những thành tích to lớn trong hoạt động xuất khẩu thuỷ sản  thời gian vừa qua một phần dưạ vào những nỗ lực to lớn của Ngành khi thâm nhập và đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trương Mỹ. Bên cạnh những thành công như tốc độ tăng trưởng cao, nhiều mặt hàng đã tìm được chỗ đứng vững chắc, bước đầu các doanh nghiệp đã chủ động nghiên cứu nắm vững thị trường này. Thì vần còn chứa đứng nhiều những yếu tố bất ổn định, thiếu tính bền vững, đe doạ đến kim ngạch và tốc độ tăng xuất khẩu, bởi vì đây là một thị trường quá rộng và lớn, lại cách xa Việt nam,  quy chế quản lý nhập khẩu, ngoài thuế còn cả một hàng rào kỹ thuật phức tạp cản trở việc thâm nhập thuỷ sản từ bên ngoài, phải đối mặt với các đối thủ cạnh tranh đã có chỗ đứng lâu dài thên thị trường. Việc nghiên cứu  phương hướng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu thuỷ  sản vào thị trường Mỹ có một ý nghĩa thực tiễn cao. Thị trường Mỹ có những thuận lợi và khó khắn riêng;  những nhân tố ảnh hưởng cũng đa dạng và mang tính đặc thù. Tuy nhiên, nó cũng có những bất lợi giống với  thúc đẩy xuất khẩu vào các thị trường khác như: yếu tố về cơ chế quản lý nhà nước, sự phát triển còn mạng yếu tố tự phát, thiếu sự đầu tư đồng bộ, tính cạnh tranh của thuỷ sản Việt nam chưa cao, trong khi đó nhiều đối thủ xuất khẩu khác trên thế giới đã có một nền công nghiệp thuỷ sản hoàn chỉnh, có bề dầy kinh nghiêm trong chiếm lĩnh thị trường.

Thúc đẩy xuất khẩu vào thị trường Mỹ chỉ có thể thành công khi thực hiện được các giải pháp đồng bộ ở các cấp, các ngành, sự nỗ lực của doanh nghiệp và sự hỗ trợ toàn diện của Nhà nước. Song song với việc không ngừng tìm hiểu về thị trường Mỹ, đẩy mạnh hoạt động tiếp thị, nghiên cứu và khai thác có hiệu  quả những cơ hội của hiệp định thương mại Việt Mỹ đã được thông qua .

Những phân tích đánh giá và đề xuất phương hướng giải pháp của đề tài hy vọng sẽ góp một phần nào đó  vào nỗ lực của ngành thuỷ sản trong việc tiếp tục duy trì, ổn định về tốc độ phát triển và giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ của Việt nam trong giai đoạn tới.

 


 TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội ngành thuỷ sản 2000-2010

2. Đề án phát triển xuất khẩu ở Việt Nam 2000 – 2010 của Bộ Thương mại.

3. Quyết định 224/1999/QĐ-TTg ngày 08/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình nuôi trồng thuỷ sản thời kỳ 1999 – 2010.

4. Quyết định 103/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 25/08/2000 về một số chính sách phát triển giống thuỷ sản.

5. Báo cáo về tình hình nuôi trồng thuỷ sản và kế hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản các tỉnh ven biển giai đoạn 2001-2005.

6. Báo cáo tổng kết năm 1997, 1998, 1999, 2000, 2001 của Bộ Thuỷ sản.

7. Báo cáo tổng kết Nafiqacen 1998, 1999, 2000, 2001.

8. Thông tin khoa học và công nghệ thuỷ sản. Các số ra trong năm 2000 và 2001.

9. Thông tin Thương mại – Thuỷ sản do Trung tâm Thông tin Khoa học kỹ huật và Kinh tế thuỷ sản thực hiện. Các số năm 2000 và 2001.

10. Thông tin chuyên đề do Trung tâm Thông tin Khoa học kỹ huật và Kinh tế thuỷ sản phát hành 4kỳ/năm những số trong năm 2000 và 2001.

11. Tạp chí Thương mại Thuỷ sản – các số trong năm 2000 và 2001 và tháng 8 năm 2002.

12. Võ Thị Thanh Thu –  Những giải pháp về thị trường cho xuất khẩu thuỷ sản của Việt nam – Nhà xuất bản thống kê năm 2002.

13. Hà Xuân Thông  – Cơ sở lý luận  chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong ngành thuỷ sản – Nhà xuất bản Nông nghiệp.

  1. PGS,PTS  Nguyễn duy Bột- Thương mại quốc tế – Đại học kinh tế quốc dân Hà nội – NXB Giáo dục 1997.
  2. PGS ,TS Đặng Đình Đàovà PGS, TS Hoàng Đức Thân- Giáo trình – Kinh tế thương mại –Nhà xuất bản thông kê năm 2001

16. PGS, PTS Trần Minh Đạo- Đại học kinh tế Quốc dân Hà nội- Giáo trình Marketing- NXB thống kê năm 1998.

17. PGS, TS Hoàng Minh Đường và TS Nguyễn Thừa Lộc – Đại học kinh tế Quốc dân Hà nội – Giáo trình Quản trị doanh nghiệp Thương mại – Nhà xuất bản Giáo dục- 2000

18. Garry D.Smith- Danny R.Arnold – Bobby G.Bizzell Chiến lược và sách lược kinh doanh  Bùi Văn Đông dịch – NXB Thống kê 1997.

19. Ian Chaston – Marketing định hướng vào khách hàng -người dịch TS Vũ Trọng Hùng và TS  Phan Đình Quyền- NXB Đồng nai –1999

20. James M.Comer- Quản trị bán hàng- Người dịch Nguyễn Thị Hiệp Thương và Nguyễn Thị Quyên- NXB Thống kê 1995

21.    PTS Nguyễn Viết Lâm- Đại học kinh tế Quốc dân -Hà nội – Giáo trình nghiên cứu marketing – nhà xuất bản Giáo dục – 1999.

22. Niên giáp thống kê các năm 1995-2001

23.  Philip Kotler-  Marketing căn bản – NXB Thông kê 1997

24. TS Nguyễn Xuân Quang -Đại học kinh tế Quốc dân Hà nội – Giáo trình Marketing Thương mại – NXB Thống kê – Hà nội, 1999.

25. TS Nguyễn Xuân Quang và TS Nguyễn Thừa Lộc – Đại học kinh tế Quốc dân Hà nội – Giáo trình Quản trị doanh nghiệp thương mại NXB Thống kê Hà nội, 1999.

MC LC

phần mở đầu……………………………………………………………………………….. 1

Chương một:………………………………………………………………………………… 3

Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu hàng……………………………………….. 3

thuỷ sản vào  thị trường Mỹ………………………………………………………….. 3

1.1. Khái quát chung về xuất khẩu hàng hoá………………………………….. 3

1.1.1 Khái niệm xuất khẩu……………………………………………………….. 3

1.1.2  Lợi ích  của xuất khẩu…………………………………………………….. 3

1.2. hoạt động xuất khẩu hàng thuỷ sản của ngành thuỷ sản Việt nam. 5

1.2.1 Ngành thuỷ sản trong hệ thống các Ngành của nền kinh tế Quốc dân 5

1.2.1.1 Hệ thống bộ máy tổ chức của ngành thuỷ sản:………………. 5

1.2.1.2.Tiềm năng phát triển của ngành thuỷ sản Việt nam………… 6

1.2.1.3 Sản xuất của ngành………………………………………………….. 11

1.2.1.4 Những đóng góp của ngành thuỷ sản đối với nền kinh tế Quốc dân       13

1.2.2. Nội dung hoạt động xuất khẩu thuỷ sản…………………………… 14

1.2.3.Tổ chức, quản lý hoạt động xuất khẩu thuỷ sản…………………. 14

1.3. Thị trường mỹ và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu hàng thuỷ sản vào thị trường mỹ…………………………………………………………………………… 14

1.3.1. Thị trường Mỹ………………………………………………………….. 14

1.3.1.1. Đặc điểm về kinh tế………………………………………………… 14

1.3.1.2. Đặc điểm về chính trị………………………………………………. 15

1.3.1.3. Đặc điểm về luật pháp…………………………………………….. 17

1.3.1.4. Đặc điểm về văn hoá và con người……………………………. 17

1.3.2. Thị trường thuỷ sản Mỹ……………………………………………… 18

1.3.2.1. Tình hình khai thác và nuôi trồng thuỷ sản của Mỹ…….. 19

1.3.2.3. Chế biến thuỷ sản…………………………………………………… 23

1.3.2.4. Xuất nhập khẩu thuỷ sản………………………………………… 24

1.3.2.5. Nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng thuỷ sản của thị trường Mỹ 31

1.3.2.5 Hệ thống phân phối thuỷ sản của Mỹ…………………………. 32

1.3.2.6. Quy chế quản lý nhập khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ. 32

1.3.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ…………………………………………………………………………….. 33

1.3.3.1 Những nhân tố tác động thuận lợi………………………………. 33

1.3.3.2 Những nhân tố tác động không thuận lợi…………………….. 34

Chương hai:……………………………………………………………………………….. 36

Thực trạng xuất khẩu hàng thuỷ sản của……………………………………… 36

ngành thuỷ sản Việt nam vào thị trường Mỹ…………………………………. 36

2.1. Hàng thuỷ sản trong hệ thống các mặt hàng xuất khẩu  chủ lực… 36

2.1.1 Thị trường xuất khẩu thuỷ sản của Việt nam…………………….. 36

2.1.1.1 Thị trường Mỹ………………………………………………………… 36

2.1.1.2 Thị trường Nhật Bản………………………………………………… 37

2.1.1.3 Thị trường EU…………………………………………………………. 37

2.1.1.4 Thị trường Trung Quốc…………………………………………….. 38

2.1.1.5 Thị trường các nước châu Á khác……………………………….. 39

2.1.2 Kim ngạch xuất khẩu hàng thuỷ sản của Việt nam……………… 40

2.1.3 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu…………………………………………….. 41

2.1.4.Giá xuất khẩu  hàng thuỷ sản………………………………………….. 44

2.2 Thực trạng xuất khẩu hàng thuỷ sản vào thị trường Mỹ trong thời gian vừa qua.        45

2.2.1. Kim ngạch xuất khẩu…………………………………………………….. 45

2.2.2.Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu…………………………………………….. 47

2.2.4. Phương thức xuất khẩu………………………………………………….. 49

2.2.5. Khả năng cạnh tranh…………………………………………………….. 49

2.2.6. Hoạt động của ngành thuỷ sản Việt nam trong việc thúc đẩy xuất khẩu vào thị trường Mỹ…………………………………………………………………………….. 51

2.3 những kết luận rút ra qua việc nghiên cứu thực trạng xuất khẩu hàng thuỷ sản  của việt nam vào  thị trường Mỹ…………………………………………………………….. 51

2.3.1 Những ưu điểm……………………………………………………………… 51

2.3.2 Những vấn đề tồn tại và nguyên nhân………………………………. 52

Chương ba:………………………………………………………………………………… 56

Phương hướng và giải pháp chủ yếu thúc đẩy xuất khẩu hàng thuỷ sản vào thị trường Mỹ…………………………………………………………………………………………….. 56

3.1 Định hướng phát triển của ngành thuỷ sản giai đoạn 2000-2010… 56

3.1.1 Các quan điểm về đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản của Việt nam 56

3.1.2 Những phương hướng phát triển xuất khẩu thuỷ sản của ngành trong những năm tới……………………………………………………………………………………….. 56

3.1.3 Mục tiêu phát triển xuất khẩu thuỷ sản của Việt nam đến năm 2010. 57

3.2 Phương hướng xuất khẩu hàng thuỷ sản vào thị trường Mỹ………. 58

3.3 Giải pháp pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thuỷ sản vào thị trường Mỹ.     59

3.3.1  Giải pháp tăng cường nghiên cứu thị trường Mỹ……………….. 59

3.3.2  Giải pháp tăng cường hoạt động xúc tiến xuất khẩu vào thị trường Mỹ.     60

3.3.3 Giải pháp nâng cao tính cạnh tranh của mặt hàng thuỷ sản … 61

3.3.3.1 Nâng cao tính cạnh tranh về chất lượng:……………………… 61

3.3.3.2 Nâng cao tính cạnh tranh về giá của hàng thuỷ sản xuất khẩu.    63

3.3.4  Giải pháp ổn định kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản……………. 63

3.3.5  Giải pháp hoàn thiện phương thức xuất khẩu hàng thuỷ sản. 66

3.3.6 Giải pháp hỗ trợ từ phía Nhà nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản……………………………………………………………………………………………. 66

Kết luận……………………………………………………………………………………… 68

Tài liệu tham khảo……………………………………………………………………… 69

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s