Đề tài thạc sĩ: Tăng cường huy động vốn tại công ty cổ phần Viglacera Hà Nội


MỞ ĐẦU

  1. 1.     Tính cấp thiết của đề tài:

Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi theo hướng kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập kinh tế khu vực cũng như toàn cầu. Hệ thống doanh nghiệp không ngừng được đổi mới và phát triển theo hướng đa dạng hóa các loại hình doanh nghiệp, loại hình công ty và hình thức sở hữu. Với trên 30 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, đến nay Viglacera đã trở thành một Tổng công ty hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng và đầu tư kinh doanh hạ tầng công nghiệp và dân dụng. Các sản phẩm của Viglacera không những nổi tiếng ở trong nước mà đã đi đến nhiều Quốc gia trên thế giới. Viglacera còn được biết đến là một Tổng công ty mạnh trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp và khu đô thị.

Công ty cổ phần Viglacera Hà Nội là một trong 31 đơn vị thành viên của Tổng công ty Viglacera, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng, gạch trang trí. Đặc trưng của ngành vật liệu xây dựng là một ngành kinh tế thâm hụt vốn, các tài sản của nó là những tài sản nặng vốn và chi phí cố định của ngành khá cao.

Để đảm bảo cho sự ra đời, tồn tại và phát triển, doanh nghiệp phải có các yếu tố cơ bản cho việc thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Các yếu tố chính của các hoạt động sản xuất kinh doanh đó là: Vốn, lao động và tài nguyên. Trong đó: Vốn là yếu tố quan trọng nhất của quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp. Khi một doanh nghiệp hạn chế về vốn sẽ dẫn đến hạn chế về khả năng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tăng cường năng lực công nghệ…và sẽ dẫn đến hạn chế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Việc gia nhập nền kinh tế thị trường đã và đang đặt ra nhiều thách thức cho doanh nghiệp.

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, tác giả đã lựa chọn đề tài: Tăng cường huy động vốn tại công ty cổ phần Viglacera Hà Nộilàm nội dung nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình.

  1. 2.     Mục đích nghiên cứu của đề tài:

–               Nghiên cứu cơ sở lý luận vốn, nguồn vốn và phương thức huy động vốn kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

–               Phân tích đánh giá thực trạng huy động vốn của Công ty những năm qua, làm rõ những thành công và hạn chế hoạt động huy động vốn của Công ty cổ phần Viglacera Hà Nội.

–               Từ đó đề xuất giải pháp tăng cường huy động vốn của Công ty cổ phần Viglacera Hà Nội.

  1. 3.     Đối tượng phạm vi nghiên cứu:

–               Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và thực tiễn về vốn, nguồn vốn, phương thức huy động và thực trạng huy động vốn của công ty cổ phần Viglacera Hà Nội.

–               Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Hoạt động huy động vốn tại Công ty cổ phần Viglacera.

  1. 4.     Phương pháp nghiên cứu:

Sử dụng các phương pháp nghiên cứu thống kê, so sánh, điều tra, phân tích đánh giá tổng hợp, hệ thống hóa để đánh giá thực trạng huy động vốn tại Công ty cổ phần Viglacera Hà Nội.

  1. 5.     Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo; luận văn được kết cấu theo 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động huy động vốn trong doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng huy động vốn của công ty cổ phần Viglacera Hà Nội.

Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động vốn cho công ty cổ phần Viglacera Hà Nội.


Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động huy động vốn trong doanh nghiệp

1.1.   Vốn trong doanh nghiệp

1.1.1.        Khái niệm vốn

Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường được hiểu là một tổ chức kinh tế, có đủ tư cách pháp nhân được tổ chức ra để thực hiện kinh doanh trên một lĩnh vực nhất định với mục đích công ích hoặc thu lợi nhuận.

Để đảm bảo cho sự ra đời, tồn tại và phát triển, doanh nghiệp phải có các yếu tố cơ bản cho việc thực hiện các hoạt động kinh doanh. Các yếu tố chính của các hoạt động kinh doanh đó là: Vốn, lao động và tài nguyên. Trong đó, vốn là yếu tố quan trọng nhất của quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp. Vốn luôn là yếu tố cơ bản, cần thiết, không thể thiếu đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp luôn phải đối mặt với các câu hỏi về nguồn tài trợ lấy từ đâu, cách thức huy động như thế nào, chi phí phải trả bao nhiêu…Vốn được coi là nhân tố đầu tiên khởi động toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thành lập và tiến hành các hoạt động sản xuất – kinh doanh.

Vốn trong doanh nghiệp có thể được hiểu chính là biểu hiện bằng giá trị của các tài sản trong doanh nghiệp và các tài sản đó phải được sử dụng nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận.

1.1.2.        Đặc trưng nguồn vốn trong doanh nghiệp

Một là, vốn phải đại diện cho một lượng tài sản (nguyên liệu, máy móc thiết bị, chất xám, thông tin…). Tài sản ở tạng thái tĩnh chỉ là vốn tiềm năng, tài sản hoạt động mới là vốn kinh doanh, điều này có nghĩa là: Vốn là một bộ phận của tài sản, nhưng không phải toàn bộ tài sản là vốn. Nói cách khác vốn chính là biểu hiện về mặt giá trị của những tài sản hữu hình và tài sản vô hình.

Hai là, vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng được. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải cần vốn nhưng vốn phải được tích tụ, huy động đủ đảm bảo cho yêu cầu sản xuất kinh doanh, đặc biệt vốn lớn sẽ thực hiện được các chiến lược phát triển sâu rộng nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.

Ba là, vốn phải được gắn với chủ sở hữu nhất định. Nghĩa là vốn phải có chủ mới đảm bảo quản lý và chi tiêu hợp lý, có hiệu quả. Việc phân định rõ chủ sở hữu thực sự về vốn đang là vấn đề quan tâm nhằm tăng cường thu hút vốn nhàn rỗi từ dân cư, các tổ chức trong và ngoài nước vào các hoạt động đầu tư.

Bốn là, vốn được quan niệm là hàng hóa đặc biệt, tức là có giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị của hàng hóa vốn chính là giá trị của bản thân nó, còn giá trị sử dụng của nó là thông qua mua bán trên thị trường mà thực chất là mua quyền sử dụng vốn, sau quá trình sử dụng hàng hóa vốn sẽ tạo ra một giá trị sử dụng lớn hơn.

Năm là, vốn phải được vận động sinh lời. Vốn được biểu hiện bằng tiền, nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn, để tiền biến thành vốn thì đồng tiền đó phải được vận động sinh lời. Đồng tiền sau quá trình chuyển hóa vận động trở về nơi xuất phát sẽ mang lại giá trị lớn hơn. Đó là nguyên lý của đầu tư, sử dụng và bảo toàn vốn. Vì vậy, đồng tiền bị ứ đọng, tài nguyên, sức lao động, tài sản cất giữ…không được sử dụng thì chỉ là những đồng vốn “chết”. Nhận thức được vấn đề này các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để cho đồng vốn sinh lời và tránh ứ đọng.

Sáu là, vốn có giá trị về mặt thời gian. Trong nền kinh tế thị trường vốn gắn với những thời gian nhất định, sức mua của đồng tiền ở những thời điểm khác nhau cũng sẽ khác nhau.

Tóm lại, việc hiểu đúng vấn đề về vốn trong nền kinh tế thị trường thông qua một số đặc trưng cơ bản về vốn giúp cho các doanh nghiệp khai thác triệt để, quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn huy động cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở đó bảo toàn và phát triển vốn, nâng cao lợi ích tối đa hóa lợi nhuận.

1.1.3.        Phân loại nguồn vốn trong doanh nghiệp

Dựa vào những tiêu thức phân loại khác nhau, nguồn vốn trong doanh nghiệp được phân chia thành các bộ phận khác nhau, một số cách phân loại phổ biến hiện nay gồm:

  • Căn cứ vào thời gian sử dụng: nguồn vốn được chia thành nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn.

–                     Vốn ngắn hạn: là vốn có thòi hạn dưới 1 năm. Bao gồm tín dụng thương mại, các khoản chiếm dụng về tiền lương, tiến thuế, tín dụng ngắn hạn ngân hàng và các khoản phải trả khác,…

–                     Vốn dài hạn: là vốn có thời hạn trên 1 năm. Bao gồm tín dụng ngân hàng dài hạn, phát hành trái phiếu, huy động vốn góp cổ phần, liên doanh, bổ sung từ lợi nhuận không chia,…

  • Căn cứ theo tính chất luân chuyển vốn: Vốn cố định, vốn lưu động.

–                     Vốn cố định: là phần vốn dùng để đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp. Đây là các tài sản có thời gian sử dụng dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản suất kinh doanh, thường có giá trị lớn.

–                     Vốn lưu động: là phần vốn dùng để đầu tư vào tài sản lưu động của doanh nghiệp. Tài sản lưu động là các tài sản có thời gian sử dụng ngắn, thường tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và có giá trị nhỏ.

  • Căn cứ vào quyền sở hữu đối với khoản vốn sử dụng: nguồn vốn được chia thành vốn chủ sở hữu và nợ.

–                     Vốn chủ sở hữu là vốn thuộc về các chủ sở hữu của doanh nghiệp. Gồm: vốn góp ban đầu, lợi nhuận không chia, vốn do phát hành cổ phiếu mới,…

–                     Nợ phải trả là thể hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán cho các tác nhân trong nền kinh tế trong quá trình kinh doanh bao gồm các khoản chiếm dụng và nợ vay.

1.2.   Các phương thức huy động vốn cho doanh nghiệp

Cách phân loại phổ biến hiện nay là chia nguồn vốn thành vốn chủ sở hữu và nợ. Vì nó cho phép doanh nghiệp xác định được cơ cấu vốn của mình đồng thời thuận lợi hơn trong xây dựng và lựa chọn phương thức huy động vốn và sử dụng vốn hiệu quả, đáp ứng được mục tiêu đề ra.

Các phương thức huy động vốn cho doanh nghiệp:

1.2.1.        Phương thức huy động nguồn vốn chủ sở hữu

1.2.1.1.Tăng vốn góp

Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ cũng có một số vốn nhất định. Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà có những hình thức khai thác làm tăng nguồn vốn góp ban đầu. Đối với DNNN, vốn góp ban đầu là vốn đầu tư của Nhà nước. Đối với công ty cổ phần, vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tố quyết định để hình thành công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị số cở phần mà họ nắm giữ. Tuy nhiên, có nhiều dạng công ty cổ phần nên cách thức huy động vốn cũng khác nhau. Trong loại hình các doanh nghiệp khác như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài các nguồn vốn góp cũng bao gồm: vốn có thể do chủ đầu tư bỏ ra, vốn do các bên tham gia, các đối tác góp…Tỷ lệ và quy mô góp vốn của các bên tham gia công ty phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như đặc điểm ngành nghề kinh doanh, cơ cấu liên doanh giữa các bên…

1.2.1.2.Tăng nguồn vốn từ lợi nhuận không chia

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi để tăng nguồn vốn hoạt động. Nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi nhuận được sử dụng tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Tự tài trợ bằng lợi nhuận không chia – nguồn vốn nội bộ là một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp, vì doanh nghiệp giảm được chi phí, giảm được sự phụ thuộc bên ngoài. Để có nguồn vốn này thì các doanh nghiệp phải đặt ra mục tiêu có một khối lượng lợi nhuận đủ lớn để bù đắp chi phí đã bỏ ra, từ đó mới tự đáp ứng được nhu cầu vốn tự bổ sung của doanh nghiệp.

Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện được nếu như doanh nghiệp đã, đang hoạt động có lợi nhuận, được phép tiếp tục đầu tư. Với các doanh nghiệp Nhà nước, việc tái đầu tư phụ thuộc vào khả năng sinh lời của doanh nghiệp và chính sách khuyến khích tái đầu tư của Nhà nước. Đối với các công ty cổ phần thì việc để lại lợi nhuận liên quan đến một số yếu tố rất nhạy cảm. Khi doanh nghiệp quyết định để lại một phần lợi nhuận trong năm cho tái đầu tư, có nghĩa doanh nghiệp không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần, các cổ đông không được nhận tiền lãi cổ phần (cổ tức) nhưng thay vào đó, họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của công ty. Như vậy, giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ. Điều này khuyến khích cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài, nhưng về trước mắt dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu do cổ đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn. Nếu tỷ lệ chi trả cổ tức thấp, hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì giá cổ phiếu có thể bị giảm.

1.2.1.3.Tăng vốn góp bằng phát hành cổ phiếu mới

Trong quá trình hoạt động sản xuất – kinh doanh thì doanh nghiệp có thể tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành cổ phiếu mới. Cổ phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với vốn của tổ chức phát hành. Việc phát hành cổ phiếu được thực hiện ở các công ty cổ phần. Phát hành cổ phiếu là hoạt động tài trợ dài hạn của doanh nghiệp, bao gồm có phát hành cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. Doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong hai công cụ trên hoặc phối hợp cả hai để đem lại hiệu quả tốt nhất cho doanh nghiệp.

1.2.2.        Phương thức huy động vốn từ bên ngoài doanh nghiệp

Ngoài việc tăng vốn từ nguồn vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp có thể sử dụng nợ từ các nguồn: tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại, phát hành trái phiếu, huy động vốn từ thị trường tài chính,…

Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Để huy động được vốn từ các thị trường này, doanh nghiệp cần thông qua các trung gian tài chính.

1.2.2.1.Phương thức huy động vốn từ các trung gian tài chính

Trung gian tài chính đảm nhiệm chức năng trung chuyển tư bản giữa các chủ thể tiết kiệm và những người sử dụng vốn. Các trung gian tài chính không chỉ phục vụ như những người hỗ trợ giữa các chủ thể tiết kiệm và những người sử dụng vốn mà còn tập trung những khoản tiết kiệm của nhiều người, nhiều doanh nghiệp và nhiều tổ chức trong nền kinh tế, tạo thành những nguồn tài chính có quy mô lớn. Đây là một trong những nguồn huy động vốn cơ bản của doanh nghiệp.

Các trung gian tài chính có thể được phân chia thành một số loại như sau:

  • Ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại là loại định chế tài chính lớn nhất trong các trung gian tài chính. Các ngân hàng thương mại là nơi nhận tiền gửi thông qua việc mở các tài khoản tiết kiệm và tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, thực hiện các nghiệp vụ tài trợ, bảo lãnh, thanh toán phục vụ các doanh nghiệp và cá nhân. Ngân hàng sử dụng phần lớn lượng tiền huy động được để đầu tư vào các loại chứng khoán có tính thanh khoản cao như công trái quốc gia, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công ty,…Duy trì một lượng tiền mặt ở mức đủ để bảo đảm thanh khoản, thực hiện các giao dịch cho các doanh nghiệp và cá nhân vay.

Có một thực tế là để huy động vốn từ việc vay ngân hàng, doanh nghiệp cần phải có tài sản hoặc các loại giấy tờ có giá trị khác để thế chấp. Điều này sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thêm vào đó, việc huy động vốn từ ngân hàng cũng không linh hoạt bằng một số định chế tài chính khác như các công ty đầu tư mạo hiểm, hoặc các công ty cho thuê tài chính.

  • Hiệp hội tiết kiệm và cho vay: Là loại trung gian tài chính chuyên thu hút tiền gửi tiết kiệm của các cá nhân để cho vay dài hạn nhằm tài trợ mua nhà ở, bất động sản hoặc các loại hàng hóa tiêu dùng lâu bền. Tuy nhiên, các hoạt động tài trợ của hiệp hội này thường được cho vay dưới hình thức cầm cố.

Chính hình thức cho vay này sẽ gây ra một số khó khăn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì các doanh nghiệp này thường không có nhiều tài sản để thế chấp.

  • Ngân hàng tiết kiệm tương hỗ: Là loại trung gian tài chính có rất nhiều đặc điểm tương đồng với các hiệp hội tiết kiệm và cho vay. Ngân hàng thu hút tiền gửi của công chúng và chủ yếu cho các doanh nghiệp, các cá nhân vay để mua nhà và các loại bất động sản.
  • Hiệp hội tín dụng: Là một tổ chức hợp tác xã tín dụng, tổ chức liên kết các thành viên là những người trong cùng tổ chức nghề nghiệp hay tín ngưỡng. Nguồn ngân quỹ chủ yếu là tiền gửi của các thành viên, nguồn ngân quỹ này được sử dụng để cho vay trong nội bộ nhằm tài trợ mua xe, nhà ở và nhiều loại tài sản khác. Do đặc điểm của hiệp hội là chỉ cho vay trong nội bộ nên các doanh nghiệp  ngoài hiệp hội sẽ khó có cơ hội tiếp cận với nguồn vay này.
  • Quỹ trợ cấp và hưu bổng: Được thành lập để tạo nguồn thu nhập cho những người về hưu và không còn khả năng làm việc. Các quỹ này nhận tiền đóng góp của công nhân, của chủ doanh nghiệp và sử dụng nguồn ngân quỹ này đầu tư vào các loại trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc hay trái phiếu đô thị, đầu tư vào cổ phần, trái phiếu của các doanh nghiệp. Như vậy, doanh nghiệp có thể huy động vốn từ quỹ này bằng việc phát hành trái phiếu.
  • Công ty tài chính: Công ty tài chính phát hành các loại trái phiếu, cổ phiếu và vay tiền của các ngân hàng thương mại để tài trợ cho các doanh nghiệp và cá nhân vay. Những khoản cho vay của các công ty tài chính thường chủ yếu dành cho những khách hàng có mức độ rủi ro tín dụng cao, mà các ngân hàng thương mại thường từ chối cho vay. Để bù đắp cho mức độ rủi ro cao, lãi suất tài trợ của công ty tài chính thường cao hơn các định chế khác.

Ưu điểm của công ty tài chính là các doanh nghiệp có phương án kinh doanh với mức độ rủi ro cao vẫn có khả năng tiếp cận với nguồn vốn này trong khi các ngân hàng thương mại đã từ chối cho vay. Chính ở đặc điểm này đã khiến cho mức lãi suất khi huy động từ công ty tài chính cao hơn các định chế tài chính khác.

  • Quỹ hỗ tương: Là loại định chế tài chính chuyên tập hợp nguồn tài chính của những người tiết kiệm nhỏ và đầu tư vào các loại chứng khoán tùy theo mục tiêu và chính sách do quỹ đặt ra.

Một số quỹ có chính sách đầu tư vào những loại cổ phần của những công ty có mức tăng trưởng cao, song mức chia lợi tức hàng năm thấp nhưng đổi lại các chủ đầu tư hy vọng giá trị cổ phần của họ sẽ tăng nhanh chóng. Ngược lại, một số quỹ đầu tư vào những cổ phần được chia lợi tức cao, nhưng có mức lợi nhuận tiềm năng từ giá cổ phần tăng lên thấp. Nhiều quỹ đầu tư vào những cổ phần nước ngoài và nhiều quỹ phân tán danh mục đầu tư của họ vào các loại trái phiếu công ty, cổ phần công ty và công trái quốc gia.

Một đặc điểm của các quỹ hỗ tương là các quỹ này thường nắm giữ một phần giá trị của danh mục đầu tư dưới dạng tiền mặt. Có hai lý do cho sự tồn tại tiền mặt ở các quỹ này: Thứ nhất, quỹ luôn cần tiền mặt để bảo đảm khả năng thanh toán cho các chứng khoán do những người chủ quỹ bán lại cho quỹ. Thứ hai, là tiền thu được từ hoạt động kinh doanh chứng khoán của quỹ có thể chưa được đầu tư kịp thời. Đây cũng là một trong những lợi thế của các quỹ này khi các doanh nghiệp quyết định vay vốn từ loại hình này.

  • Công ty bảo hiểm: Có thể chia các công ty bảo hiểm thành hai loại: Bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm trách nhiệm và tài sản.

–        Các công ty bảo hiểm nhân thọ thu phí bảo hiểm hàng năm của những người được bảo hiểm và đầu tư vào những khoản tiền này vào các loại trái phiếu, cổ phiếu công ty, cho vay thế chấp tài sản hay tài sản hay tài trợ tín dụng tiêu dùng và thực hiện nhiều nhiệm vụ tài chính khác.

–        Các công ty bảo hiểm trách nhiệm và tài sản thu phí bảo hiểm của những người được bảo hiểm và những chủ sở hữu các loại tài sản được bảo hiểm. Một phần phí bảo hiểm được công ty đầu tư vào các loại chứng khoán công ty và trái phiếu do Chính phủ phát hành.

Một khó khăn của doanh nghiệp khi tiếp cận nguồn vốn này là cũng cần phải có tài sản hoặc các giấy tờ có giá trị để thế chấp.

  • Công ty thuê mua: Là loại định chế tài chính chuyên huy động các nguồn ngân quỹ trung – dài hạn từ công chúng đầu tư, từ các chủ thể tiết kiệm khác và từ các ngân hàng để tài trợ cho các hợp đồng thuê mua máy móc thiết bị của các doanh nghiệp.

Nguyên nhân chính thúc đẩy doanh nghiệp tiếp cận với hoạt động cho thuê tài chính là do nó có tính chất an toàn cao, tiện lợi và hiệu quả cho các bên giao dịch.  Thêm vào đó, việc cấp tín dụng dưới hình thức cho thuê tài chính không đòi hỏi sự bảo đảm tài sản có trước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận hình thức cấp tín dụng mới, giải tỏa được áp lực về tài sản bảo đảm nếu phải vay ở ngân hàng, hoặc các doanh nghiệp đang gặp khó khăn về thủ tục thế chấp tài sản để vay vốn ngân hàng.

1.2.2.2.Phương thức huy động vốn từ thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán là thị trường sử dụng các thông tin dữ liệu có liên quan đến mức sinh lời tiềm năng và coi đó như một chuẩn mực đầu tư, là cơ chế chuyên giao dịch các loại chứng khoán.

Trên thị trường chứng khoán, để huy động vốn doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu và cổ phiếu.

  • Phát hành trái phiếu

Trái phiếu của các doanh nghiệp khác nhau có những đặc điểm khác nhau và những đặc điểm  này chi phối giá trị của trái phiếu.

Ở Việt Nam, ngày 19/5/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định 52/2006/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Nghị định này ra đời đã mở ra một kênh mới để huy động vốn cho doanh nghiệp. Nghị định này có ưu điểm là tất cả các doanh nghiệp chỉ cần có thời gian hoạt động tối thiểu là 1 năm kể từ ngày doanh nghiệp chính thức đi vào hoạt động, có báo cáo tài chính của năm liền kề trước năm phát hành được kiểm toán và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh phải có lãi đều có quyền phát hành trái phiếu. Chính vì vậy, việc ban hành Nghị định đã khuyến khích các doanh nghiệp trực tiếp tham gia huy động vốn trên thị trường để phục vụ mục tiêu đầu tư phát triển của doanh nghiệp, kể cả mục tiêu tăng quy mô vốn tự có.

Nghị định này cũng quy định, riêng đối với các trái phiếu bổ sung vốn tự có do các tổ chức tín dụng thuộc sở hữu nhà nước và trái phiếu của các DNNN, phương án phát hành phải được Bộ Tài chính chấp nhận, còn lại chỉ cần các tổ chức và cá nhân có thẩm quyền thông qua và công bố công khai cho các nhà đầu tư biết.

Doanh nghiệp phát hành trái phiếu theo nguyên tắc tự vay, tự trả và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn vay. Số tiền thu được từ phát hành trái phiếu được sử dụng để thực hiện các dự án đầu tư; cơ cấu lại các khoản vay trung và dài hạn.

Để tăng sức hấp dẫn của đợt phát hành hoặc để giảm bớt gánh nặng trả nợ hàng năm của doanh nghiệp phát hành, doanh nghiệp phát hành cũng có thể ấn định mức lãi suất cuống phiếu cao hơn hoặc thấp hơn mức lãi suất mà thị trường đòi hỏi.

  • Phát hành cổ phiếu

Phát hành cổ phiếu là một phương thức huy động vốn dài hạn của doanh nghiệp.

Để phát hành cổ phiếu mới, doanh nghiệp cần phải tính đến các chí phí như: Chi phí in ấn, chi phí quảng cáo, hoa hồng… Các chi phí này nhiều khi chiếm tới 10% tổng giá trị phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp.

Khi quyết định phát hành cổ phiếu ra công chúng, các doanh nghiệp cũng cần tính đến nhu cầu trên thị trường chứng khoán, nếu không sẽ dễ rơi vào tình trạng tăng cung nhưng cầu về cổ phiếu không tăng sẽ dễ dẫn đến giá cổ phiếu giảm.

Ngoài ra, vấn đề chống thôn tính, bảo vệ công ty trước sự xâm thực bằng cổ phiếu của các công ty khác cũng là một khía cạnh đặc biệt. Huy động vốn qua phát hành cổ phiếu phải xét đến nguy cơ bị thôn tính. Do đó, phải tính đến tỷ lệ cổ phần tối thiểu cần duy trì để giữ vững quyền kiểm soát của công ty.

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Đề tài cao học và được gắn thẻ , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s