Phân tích hoạt động tín dụng và các biện pháp mở rộng tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Châu Thành – Đồng Tháp


PHẦN MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết hình thành đề tài:

Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đang là một xu hướng tất yếu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nhiều quốc gia với mong muốn cải thiện và tăng trưởng kinh tế đất nước. Việt Nam cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó vì ngay khi chuyển hướng sang nền kinh tế đổi mới, chúng ta đã chọn con đường mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại với tinh thần đa phương hoá, đa dạng hoá. Trên cơ sở đó, chúng ta cũng tự đặt ra cho mình con đường hội nhập kinh tế thế giới. Vì vai trò là mạch máu của nền kinh tế, ngành ngân hàng nước ta cũng không nằm ngoài quá trình đó, nhằm trang bị cho mình năng lực để đủ sức cạnh tranh với các đối thủ sẽ gia nhập vào nền kinh tế nước ta càng đông đảo (hiện nay có khoảng gần 70 chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã có mặt tại Việt Nam, chủ yếu là của Singapo, Trung Quốc). Tuy nhiên hoạt động của các ngân hàng thương mại Nhà nước chủ yếu vẫn là huy động vốn và cho vay, các sản phẩm dịch vụ được đưa ra và được thi trường chấp nhận vẫn còn manh mún, thiếu hấp dẫn và tiện lợi, chưa năng động vẫn còn tồn tại trong các ngân hàng thương mại.

Thực tế những năm gần đây, thị trường dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thẻ, thanh toán, chuyển tiền đã phát triển nhanh chóng, tốc độ tăng vượt bậc so với dự đoán của nhiều người. Vì vậy, việc xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng cần phải quan tâm nhiều hơn nữa đến việc mở rộng các hình thức tín dụng.

Hoạt động của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường là hoạt động kinh doanh với mục đích là lợi nhuận, ổn định nền kinh tế – xã hội… Muốn thu được lợi nhuận cao thì vấn đề then chốt là quản lý tốt các khoản mục tài sản có, nhất là khoản mục cho vay và đầu tư, cũng như các hoạt động trung gian khác. Tuy nhiên, muốn tăng lợi nhuận thì ngân hàng cũng cần phải tăng thu nhập bằng cách mở rộng tín dụng, tăng cường đầu tư và đa dạng hoá các hoạt động dịch vụ ngân hàng.

Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Châu Thành là một trong khoảng 1.800 chi nhánh của ngân hàng nông nghiệp Việt Nam đang hoạt động khắp trên mọi miền đất nước, đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và các ban ngành đoàn thể, đặc biệt là với hội nông dân đã nhanh chóng tuyên truyền, tạo điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ về vốn cho nhiều hộ nông dân thoát nghèo, vươn lên khá giàu, gắn kết việc xác định mục tiêu sản xuất kinh doanh với việc xây dựng và phát triển cộng đồng dân cư trong việc phát triển nông nghiệp – nông thôn và đô thị mới một cách sáng tạo, hiệu quả.

Với thực trạng như trên, ngành ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam nói chung cũng như ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Châu Thành nói riêng phải đối mặt với những thách thức to lớn, đó là sự cạnh tranh quyết liệt trong hoạt động kinh doanh tiền tệ. Với huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp hiện nay, sự có mặt của nhiều ngân hàng thương mại khác trên địa bàn như: Ngân hàng công thương, Ngân hàng phát triển nhà ĐBSCL, Ngân hàng Phương Nam… Đòi hỏi ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Châu Thành phải có định hướng phát triển hoạt động kinh doanh cho riêng mình nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.

Chúng ta không thể không khẳng định là nhờ vốn tín dụng ngân hàng mà ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Châu Thành đã đánh thức tiềm năng kinh tế, khơi dậy động lực phát triển kinh tế hộ nông dân, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi…Như vậy, hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng nói chung và của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Châu Thành nói riêng là hoạt động chủ yếu nhất, vì vậy chúng ta cần tận dụng được ưu điểm này để mở rộng nó theo chiều hướng tốt nhất cho cả người cho vay lẫn người đi vay. Vì vậy, việc “Phân tích hoạt động tín dụng và các biện pháp mở rộng tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Châu Thành – Đồng Tháp” là đề tài mà em đã chọn để  viết luận văn tốt nghiệp, nhằm tìm hiểu và đóng góp một phần nhỏ ý kiến cá nhân của mình trong hoạt động tín dụng của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Châu Thành.

2. Mục tiêu nghiên cứu:

Luận văn này chủ yếu là tập trung nghiên cứu và phân tích thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Châu Thành trong những năm qua để tổng kết lại và rút ra những gì đã đạt được, những vấn đề còn tồn đọng lại, chưa được giải quyết thoả đáng, phù hợp với xu thế phát triển chung của nền kinh tế nói chung và của ngành ngân hàng nói riêng, mà cụ thể là của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Châu Thành trong hoạt động tín dụng, để trên cơ sở đó, đưa ra một số biện pháp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng.

3. Phương pháp nghiên cứu:

            Luận văn này được hoàn thành dựa trên cơ sở những kiến thức đã học ở trường và từ thực tế trong thời gian thực tập tại ngân hàng, và đã sử dụng các phương pháp phân tích chủ yếu sau:

– Thu thập số liệu từ các báo cáo và những tài liệu có liên quan của ngân hàng, và các thông tin từ báo, đài, mạng internet.

– Nghiên cứu dựa vào thảo luận và trao đổi ý kiến với các anh chị, cô, chú trong cơ quan thực tập và với các bạn sinh viên cùng thực tập.

– Sử dụng phương pháp phân tích thống kê và so sánh sự biến động số liệu qua các năm.

– Dùng các phần mềm tin học ứng dụng: word, exel để trình bày và tính toán trong nghiên cứu và phân tích.

4. Giới hạn đề tài:

Do lĩnh vực hoạt động của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn khá đa dạng và phong phú, đồng thời do thời gian và kiến thức của em đã tiếp thu được còn hạn chế, vì thế em không thể phân tích sâu sắc tất cả các hoạt động của ngân hàng. Nên phạm vi đề tài chỉ tập trung vào việc phân tích tình hình hoạt động tín dụng của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Châu Thành qua ba năm gần đây nhất, và đưa ra các biện pháp nhằm mở rộng tín dụng tại ngân hàng.

PHẦN NỘI DUNG CHÍNH

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

I. Lý thuyết về tín dụng và hệ thống tín dụng:

1. Khái niệm tín dụng:

Tín dụng ra đời cùng với sự xuất hiện tiền tệ. Khi một chủ thể kinh tế cần một lượng hàng hoá cho nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất trong khi chưa có tiền hoặc số tiền không đủ để đáp ứng cho nhu cầu thì có thể sử dụng hình thức vay mượn để đáp ứng cho nhu cầu đó. Có hai cách vay mượn: vay chính loại hàng hoá đang có nhu cầu hoặc vay tiền để mua loại hàng hoá đó. Quan hệ vay mượn như vậy gọi là quan hệ tín dụng.

Tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng, số vốn đó sẽ được hoàn lại vào một ngày xác định trong tương lai. Có thể định nghĩa quan hệ tín dụng một cách đầy đủ như sau: Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.

1.1. Những đặc trưng của quan hệ tín dụng:

– Thứ nhất là quan hệ chuyển nhượng mang tính chất tạm thời.

– Thứ hai là tín dụng có tính hoàn trả.

– Thứ ba là quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở tin tưởng giữa người đi vay và người cho vay.

1.2. Cơ sở khách quan của quan hệ tín dụng:

Cơ sở khách quan của sự ra đời và phát triển quan hệ tín dụng là mâu thuẫn vốn có của quá trình tuần hoàn vốn tiền tệ trong xã hội, đó là: Cùng một lúc có chủ thể kinh tế tạm thời dư thừa một khoản vốn tiền tệ trong khi các chủ thể kinh tế khác lại có nhu cầu  cần bổ sung vốn. Nếu tình trạng này không được giải quyết thì quá trình sản xuất có thể bị ngưng trệ ở chủ thể này trong khi vốn đang nằm im ở các chủ thể khác. Kết quả là nguồn lực của xã hội không được sử dụng một cách có hiệu quả nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục.

Tình trạng thừa thiếu vốn so với nhu cầu xảy ra thường xuyên trong quá trình hoạt động các chủ thể kinh tế trong xã hội xuất phát từ sự không ăn khớp giữa thu nhập và chi tiêu về thời gian cũng như khối lượng.

– Sự không trùng khớp giữa thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình.

Các nguồn thu nhập của hộ gia đình bao gồm: tiền lương định kỳ, các khoản  biếu tặng, thừa kế, lãi đầu tư… Nhu cầu chi tiêu bao gồm: chi tiêu thường xuyên cho nhu cầu sinh hoạt, chi không thường xuyên do những nhu cấu đột xuất. Thông thường, thời gian và khối lượng nguồn thu nhập không trùng hợp với nhu cầu chi tiêu dẫn đến hiện tượng thừa tiền tạm thời vào thời gian này và tạm thời thiếu tiền vào thời gian khác. Hiện tượng khách quan này đòi hỏi các chủ thể này phải thực hiện hành vi vay mượn để giải quyết có hiệu quả nhất sự thiếu trùng khớp tạm thời giữa thu nhập và chi tiêu. Xét trên phạm vi toàn xã hội, hộ gia đình luôn là chủ thể cung ứng vốn tạm thời nhàn rỗi cho các chủ thể khác thông qua bộ phận tiết kiệm.

– Sự không trùng khớp giữa thu nhập và chi tiêu trong quá trình kinh doanh của các chủ thể sản xuất kinh doanh.

Một chu kì kinh doanh có thể được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn dự trữ, sản xuất và tiêu thụ với đặc điểm khác nhau về thu nhập và chi tiêu làm cho một doanh nghiệp có thể thừa vốn ở giai đoạn này nhưng lại trở thành chủ thể thiếu vốn ở giai đoạn khác. Trong giai đoạn dự trữ, Doanh nghiệp có nhu cầu chi tiêu mua sắm rất lớn nhưng lại chưa có thu nhập. Đây là giai đoạn doanh nghiệp phải đi vay để bổ sung nhu cầu vốn cho các khoản chi mua nguyên vật liệu mua sắm máy móc thiết bị, thuê công nhân. Nhu cầu đi vay giảm xuống khi doanh nghiệp bước vào quá trình sản xuất. Trong giai đoạn này, nhu cầu chi tiêu chỉ nhằm mục đích bảo dưỡng máy móc, quản lí qui trình sản xuất. Giai đoạn tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn có thu nhập lớn hơn chi tiêu và doanh nghiệp thường đóng vai trò cho vay trong giai đoạn này. Vốn nhàn rỗi ở các doanh nghiệp thể hiện dưới dạng quỹ khấu hao chưa dùng đến, hoặc do chênh lệch về số lượng và thời gian tiêu thụ sản phẩm và thời gian mua nguyên liệu, do những khoản phải trả nhưng chưa đến kỳ trả, và các khoản phải nộp nhưng chưa đến kỳ nộp. Đặc điểm vốn nhàn rỗi của doanh nghiệp là rất ngắn hạn, về mặt dài hạn doanh nghiệp luôn luôn là chủ thể có nhu cầu bổ sung vốn.

– Sự không trùng khớp giữa thu và chi ngân sách nhà nước.

Nguồn thu ngân sách Nhà nước chủ yếu được hình thành từ thuế, các nghĩa vụ đóng góp khác hoặc từ nguồn thu bán tài sản của Nhà nước thường mang tính chất định kì theo tháng, quý. Trong khi đó các nhu cầu chi tiêu của  ngân sách lại diễn ra thường xuyên cho các mục đích: chi quản lí hành chính, chi phúc lợi, chi đầu tư cho các công trình trọng điểm. Do đó, Nhà nước cũng có nhu cầu vay vốn khi thiếu hụt và là nguồn cung ứng vốn khi ngân sách dư thừa tạm thời, trường hợp phổ biến là thu ngân sách không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu và ngân sách rơi vào tình trạng bội chi đòi hỏi phải có nguồn vốn tiết kiệm đáp ứng.

Các khoản vốn nhàn rỗi tạm thời cũng như những nhu cầu vốn phát sinh rất đa dạng về thời gian, số lượng, yêu cầu tính lỏng, mức rủi ro. Sự phát triển các hình thức tín dụng phong phú cho phép thoả mãn yêu cầu chuyển nhượng vốn phức tạp này. Bằng cách đó, tín dụng thực chất là chiếc cầu nối liền nhu cầu tiết kiệm với nhu cầu đầu tư của xã hội.

1.3. Sự phát triển của tín dụng:

– Từ tín dụng thương mại đến tín dụng ngân hàng

– Từ tín dụng nặng lãi đến tín dụng thị trường có cạnh tranh hoàn hảo

– Từ tín dụng ngân hàng đến thị trường tài chính

– Từ tín dụng nội địa đến tín dụng quốc tế

2. Các hình thức tín dụng:

2.1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng:

– Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng và thường được sử dụng để cho vay thiếu hụt lưu động tạm thời của các doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt của cá nhân.

– Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng và được sử dụng để cung cấp vốn cho các doanh nghiệp vào các vấn đề như: xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.

– Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn giữa hai kỳ hạn trên, loại tín dụng này được cung cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh.

ác đ�/ ���L�?Lu:

 + Giá trị vật tư, hàng hóa, máy móc, thiết bị và các khoản chi phí để khách hàng thực hiện các dự án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống và đầu tư phát triển.

III. MỤC ĐÍCH CHO VAY:

Phương châm chính của Ngân hàng là” đi vay để cho vay”, nên muốn hoạt động cho vay đạt hiệu quả thì trước hết hoạt động cho vay phải gắn liền với chu kỳ sản xuất kinh doanh…, giúp người vay khai thác được hết khả năng sản xuất. Hoạt động cho vay giúp người đi vay bổ sung vào nguồn vốn tạm thời thiếu hụt, tiếp cận và áp dụng các cơ sở vật chất hiện đại, góp phần đưa sản xuất nông nghiệp phát triển và xây dựng nông thôn giàu mạnh, đưa đất nước ngày cáng phát triển.

PHẦN KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

1. KẾT LUẬN:

Để hoạt động của ngân hàng ngày càng phát triển và trở thành nơi tin cậy của các doanh nghiệp cũng như của cộng đồng dân cư, đặc biệt hơn nữa trong cơ chế thị trường hiện nay, khả năng cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng đang cùng hoạt động trên địa bàn cũng là một trong những vấn đề cần phải quan tâm. Với thực tế trên địa bàn huyện Châu Thành rộng lớn và còn dầy tiềm năng chưa đánh giá hết thì việc mở rộng và nâng cao chất lượng về hoạt động tín dụng là điều rất cần thiết. Hiện tại một số ngân hàng thương mại đang hoạt động trên địa bàn huyện cũng chưa triển khai hết các hoạt động dịch vụ , một phần lớn dân cư và cơ sở sản xuất, kinh doanh vừa và nhỏ chưa tiếp nhận đựơc hiệu quả cũng như lợi ích của các hoạt động do ngân hàng mang lại, ngay cả trong hoạt động dịch vụ của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Châu Thành cũng chưa phát huy hết khả năng và nội lực. Vì vậy, Nhận thức về việc nâng cao mức thu dịch vụ trong tổng nguồn thu của ngân hàng cũng đồng nghĩa với việc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trong giai đoạn hiện nay là rất đúng lúc và đúng hướng phát triển chung của nền kinh tế nước ta.

Bên cạnh đó, hoạt động của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Châu Thành luôn được sự lãnh, chỉ đạo của ngân hàng cấp trên, Huyện Uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND huyện Châu Thành, và sự phối hợp, kết hợp với các ban ngành đoàn thể có liên quan trong việc tháo gỡ những khó khăn cho các thành phần kinh tế đang hoạt động trên địa bàn. Tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư tín dụng được mở rộng, có hiệu quả, phục vụ cho sự phát triên kinh tế – xã hội của địa phương. Nắm bắt được thế mạnh của địa phương, hoạt động của ngân hàng đã xác định được mục tiêu trước mắt và lâu dài của ngành là tập trung ưu tiên phục vụ cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn, kết hợp với đầu tư xây dựng phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng gắn với thuỷ lợi hoá nông nghiệp.

Như vậy, trong ba năm qua, ngân hàng luôn thực hiện tốt phương châm an toàn để phát triển, thực hiện nghiêm ngặt công tác kiểm tra hoạt động tín dụng, tiến hành phân loại các khoản vay có vấn đề, để có biện pháp xử lý, thu hồi thích hợp, tuân thủ nghiêm ngặt 5 tiêu chí: “trung thực, kỷ cương, sáng tạo, chất lượng, hiệu quả”, vì vậy tốc độ tăng trưởng tín dụng trong ba năm qua luôn tăng cao, chất lượng tốt, đảm bảo khả năng sinh lợi và giảm thiểu rủi ro. Đồng thời hoạt động tín dụng luôn thực hiện theo nguyên tắc thoả mãn nhu cầu về vốn của khách hàng, là nơi đáng tin cậy, và luôn mang phồn thịnh đến với khách hàng, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế nông thôn.

Tuy nhiên, hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng chứa đựng những rủi ro khó lường. Để có thể giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh thì ngân hàng cần phải khắc phục được nguyên nhân làm phát sinh nợ quá hạn, điều này ngân hàng có thể thực hiện được nhằm củng cố và tiếp tục mở rộng tín dụng không chỉ trong nông nghiệp, nông thôn, mà còn đối với mọi thành phần khác trong xã hội.

2. KIẾN NGHỊ:

– Về phía các cơ quan Nhà nước, các ban ngành có liên quan:

+ Chính quyền địa phương cần quan tâm hơn nữa công tác tuyên truyền quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người nông dân để họ biết và nhận thức được đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình khi vay vốn ngân hàng.

+ Cần có kế hoạch và giải pháp hỗ trợ đầu tư cụ thể như: quy hoạch vùng chuyên canh trồng các loại cây, con giống và các làng nghề truyền thống… để người sản xuất yên tâm đầu tư, và sản xuất đạt hiệu quả cao.

– Về phía ngân hàng:

+ Ngân hàng cần có kế hoạch triển khai việc lắp đặt một số máy rút tiền tự động, sử dụng thẻ ATM trong thời gian sớm nhất, vì cho đến nay, một số vùng lân cận đã sử dụng hình thức rút tiền này. Ưu điểm của hình thức này là nhanh chóng, tiện lợi, tính an toàn cao, phù hợp với xu thế phát triển chung của nền kinh tế. Từ đó ngân hàng có thể nâng cao mức thu dịch vụ, mở rộng hệ thống tín dụng.

+ Nếu cần thì ngân hàng có thể mở thêm chi nhánh cấp dưới hoặc phòng giao dịch tại một trong các địa phương như: Tân Phú, Phú Long, Tân Phú Trung, bởi vì tiềm năng tín dụng tại các địa phương này còn chưa khai thác hết và khả năng mở rộng các làng nghề truyền thống ở nơi đây là rất cao, và hiện tại thì ngân hàng chỉ có một điểm hoạt động trên địa bàn huyện. Như vậy, cần phải mở rộng mạng lưới giao dịch trên địa bàn là điều cần thiết hiện nay.

+ Về nhân sự, nếu có đủ điều kiện mở rộng mạng lưới giao dịch thì ngân hàng có thể phân công, bố trí hoặc tăng thêm số lượng cán bộ làm công tác tín dụng một cách phù hợp để tránh tình trạng quá tải, gây ảnh hưởng không tốt trong hoạt động tín dụng như phát sinh rủi ro tín dụng của ngân hàng… Tuy nhiên, cán bộ tín dụng được bố trí phải là những người có phẩm chất dạo đức tốt, trung thực, có trình độ chuyên môn, không ngại khó khăn với công việc và địa bàn mà mình phụ trách, đặc biệt là phải yêu nghề và hiểu rõ thực tế, nhằm mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội.

Tài liệu tham khảo

1. Sổ tay tín dụng. Sử dụng cho toàn hệ thống ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

2. Cẩm nang tín dụng – Nhà xuất bản Hà Nội, 2002.

3. Giáo trình lý thuyết Tiền tệ & Ngân hàng – TS.Ngô Hướng, ThS.Tô Kim Ngọc – NXB Thống kê, 2001.

4. Tín dụng ngân hàng – PGS.TS.Nguyễn Đăng Dờn, TS.Hoàng Đức, TS.Trần Huy Hoàng, TS.Trần Xuân Hương, ThS. Nguyễn Quốc Anh – NXB Thống kê – Trường Đại học kinh tế TPHCM.

5. Các văn bản về hoạt động tín dụng

6. Các báo cáo tổng kết của ngân hàng trong những năm gần đây.

7. Các trang wed về thông tin kinh tế

http://www.Agribank.com

http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/2006/07/593287/

http://www.cpv.org.vn/chuyende/nnnn/

8. Tạp chí ngân hàng – 10/2005

9.Tạp chí công nghệ ngân hàng – Trường Đại học ngân hàng Thành Phố Hồ Chí Minh (Tháng 7 – 8/2005)

10. Tạp chí công nghệ ngân hàng – Trường Đại học ngân hàng Thành Phố Hồ Chí Minh (Tháng 01 – 02/2006)

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s