Phân tích hoạt động kinh doanh tại NHCT Kiên Giang


                               PHẦN I: MỞ ĐẦU

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Với xu thế hội nhập và cạnh tranh như hiện nay, các Ngân hàng Thương mại (NHTM) đã đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn tín dụng cho các ngành nghề trong nước nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế xã hội ngày càng cao. Để có nguồn vốn đủ đáp ứng cho nhu cầu ngày càng phát triển, các tổ chức tín dụng (TCTD) cần hoạt động kinh doanh có hiệu quả, đồng thời cũng phải đạt được mục tiêu kinh tế cho bản thân các TCTD đó. Như vậy hiệu quả kinh doanh của các TCTD không chỉ đơn thuần là hiệu quả về kinh tế mà còn là hiệu quả về mặt xã hội, khuyến khích đầu tư phát triển kinh tế vùng và đất nước.

Trong tiến trình phát triển kinh tế, cùng với hệ thống ngân hàng cả nước, Ngân hàng Công thương Kiên Giang (NHCT KG) cũng góp phần vào việc cung ứng vốn cho tỉnh nhà nhằm hỗ trợ các ngành kinh tế trong tỉnh phát triển. Tuy nhiên, sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng cũng ngày càng sôi nổi hơn. Vì vậy, các nhà quản lý cần có phương hướng và biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, đồng thời hạn chế rủi ro trong quá trình kinh doanh. Cũng như các Ngân hàng khác, NHCT Kiên Giang cũng cần phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh nhằm giúp doanh nghiệp tự đánh giá mình về thế mạnh, thế yếu để củng cố, phát huy, khắc phục, cải tiến quản lý. Kết quả phân tích là cơ sở để đưa ra những quyết định quản trị đúng đắn, giúp dự báo, đề phòng và hạn chế rủi ro bất định.

Kết quả kinh doanh là mục tiêu của mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ kinh doanh hoàn thành hay không hoàn thành kế hoạch đều phải xem xét đánh giá, phân tích nhằm tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích kết quả kinh doanh giúp nhà lãnh đạo có được các thông tin cần thiết để ra những quyết định sửa chữa điều chỉnh kịp thời nhằm đạt mục tiêu mong muốn trong quá trình điều hành các quá trình sản xuất kinh doanh. Đây cũng chính là lý do tôi quyết định chọn đề tài: “Phân tích hoạt động kinh doanh tại NHCT Kiên Giang để nghiên cứu.

II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

Trên cơ sở phân tích hoạt động kinh doanh trong ba năm gần đây giúp nhà lãnh đạo tìm ra được những biện pháp quản lý đúng đắn và kịp thời trong quá trình hoạt động kinh doanh. Do nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng là huy động vốn và cho vay, nên mục tiêu nghiên cứu hướng đến những vấn đề sau:

– Tình hình huy động vốn và sử dụng vốn

– Tình hình thu nợ và giải quyết nợ quá hạn

– Tình hình thu nhập, chi phí và lợi nhuận của Ngân hàng

– Dựa vào các chỉ tiêu kinh tế tài chính đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.

III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:           

+ Phương pháp thu thập dữ liệu:

   Thu thập những dữ liệu thực tế có liên quan đến việc phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong ba năm gần đây gồm:

– Bảng cân đối kế toán

– Kết quả hoạt động kinh doanh

– Những quy định trong hoạt động của ngân hàng

+  Phương pháp phân tích số liệu:

    Phân tích các chỉ tiêu kinh tế bằng phương pháp so sánh số tương đối, tuyệt đối kết hợp dùng đồ thị để biểu diễn những chỉ tiêu.

IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Do hạn chế về thời gian cũng như những kinh nghiệm thực tế, tôi không nghiên cứu phân tích chi tiết từng nghiệp vụ, hoạt động cụ thể mà chủ yếu chỉ nghiên cứu tình hình huy động vốn và cho vay của ngân hàng, đánh giá kết quả hoạt động trong ba năm gần nhất (2003, 2004, 2005) nhằm đề ra biện pháp và phương hướng hoạt động cho kỳ tiếp theo.

Tuy đã rất cố gắng để hoàn thiện luận văn nhưng đề tài còn những sai sót nhất định. Vì vậy rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô, Ban giám đốc cùng cán bộ công nhân viên trong NHCT Kiên Giang và các bạn sinh viên.

PHẦN II: NỘI DUNG

 

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

  1. I.       MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

1. Khái niệm phân tích hoạt động kinh doanh

Phân tích hoạt động kinh doanh là đi sâu nghiên cứu quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của quản lý kinh doanh, căn cứ vào các tài liệu hạch toán và các thông tin kinh tế khác, bằng những phương pháp nghiên cứu thích hợp, phân giải mối quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế nhằm làm rõ chất lượng của hoạt động kinh doanh, nguồn tiềm năng cần được khai thác, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp.

2. Đối tượng phân tích hoạt động kinh doanh

Đối tượng phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh với sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình và kết quả đó, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế.

3. Mục tiêu của phân tích hoạt động kinh doanh

– Là làm sao cho các con số trên các tài liệu hạch toán “biết nói” để người sử dụng chúng hiểu được tình hình và kết quả kinh doanh

– Phân tích hoạt động kinh doanh căn cứ vào các tài liệu của hạch toán nghiên cứu đánh giá, từ đó đưa ra các nhận xét, trên cơ sở nhận xét đúng đắn thì mới đưa ra giải pháp đúng đắn

– Vận dụng các phương pháp phân tích thích hợp để đưa ra kết luận sâu sắc sẽ là cơ sở để phát hiện và khai thác các khả năng tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh, đồng thời cũng là căn cứ để đưa ra các quyết định kinh doanh đúng đắn, biện pháp quan trọng trong việc phòng ngừa các rủi ro trong kinh doanh.


4. Khái niệm ngân hàng thương mại

NHTM ra đời và phát triển gắn liền với nền sản xuất hàng hóa, nó kinh doanh loại hàng hóa rất đặc biệt đó là “tiền tệ”. Thực tế các NHTM kinh doanh “quyền sử dụng vốn tiền tệ”. Nghĩa là NHTM nhận tiền gửi của công chúng, của các tổ chức kinh tế, xã hội và sử dụng số tiền đó để cho vay và làm phương tiện thanh toán với những điều kiện ràng buộc là phải hoàn trả lại vốn gốc và lãi nhất định theo thời hạn đã thỏa thuận.

Theo pháp lệnh “các TCTD” (1990) của Việt Nam thì NHTM được định nghĩa như sau:

“NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.

II. CÁC NGHỆP VỤ CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG

  1. Nghiệp vụ huy động vốn

Để đáp ứng nhu cầu về vốn cho sự phát triển của nền kinh tế thì việc tạo lập vốn là vấn đề quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Trong đó vốn tự có của các NHTM tham gia vào nguồn vốn cho vay chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ, mà nguồn vốn chủ yếu để cấp tín dụng vào nền kinh tế là nguồn vốn huy động, chiếm tỉ lệ lớn trong tổng nguồn vốn. Việc huy động được nhiều vốn vừa đem lại lợi nhuận, vừa mở rộng hoạt động của Ngân hàng.

1.1. Vốn tiền gửi

1.1.1. Tiền gửi của các tổ chức kinh tế

Đây là số tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của họ được gửi tại Ngân hàng. Nó bao gồm một bộ phận vốn tiền tạm thời được giải phóng khỏi quá trình luân chuyển vốn nhưng chưa có nhu cầu sử dụng hoặc sử dụng cho các mục tiêu định sẵn vào một thời điểm nhất định như: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự trữ tài chính, quỹ khen thưởng phúc lợi.

Các tổ chức kinh tế thường gửi tiền vào Ngân hàng dưới các hình thức sau:

a. Tiền gửi không kỳ hạn: Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà khi gửi vào khách hàng gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào mà không cần phải báo trước cho Ngân hàng và Ngân hàng phải thỏa mãn yêu cầu đó của khách hàng.

Khi gửi tiền, khách hàng được hưởng lãi suất, góp phần tăng lợi nhuận cho khách hàng nhưng khi có nhu cầu sử dụng thì họ lại chủ động rút ra. Mặt khác khách hàng còn được phép sử dụng tiền gửi để phục vụ cho việc thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng.

Tiền gửi không kỳ hạn là nguồn vốn không ổn định, khách hàng có thể gửi vào và rút ra bất kỳ lúc nào song giữa việc gửi tiền và rút tiền có sự chênh lệch về thời gian và số lượng nên các loại tài khoản này luôn có số dư, Ngân hàng có thể huy động số dư đó làm nguồn vốn tín dụng cho vay.

b.Tiền gửi có kỳ hạn:

Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà khi khách hàng gửi vào có sự thỏa thuận về thời gian rút ra giữa Ngân hàng và khách hàng.

Về nguyên tắc, người gửi tiền chỉ có thể rút tiền ra theo thời hạn đã thỏa thuận. Tuy nhiên, trên thực tế do yếu tố cạnh tranh, để thu hút tiền gửi các Ngân hàng thường cho phép khách hàng được rút tiền trước thời hạn nhưng không được hưởng lãi suất, hoặc chỉ được hưởng một mức lãi suất thấp hơn hoặc phải chịu một mức phí đối với khoản tiền gửi tiết kiệm rút trước thời hạn theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm (theo Quyết định 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13 tháng 9 năm 2004).

Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn mang tính ổn định. Ngân hàng có thể sử dụng loại tiền này một cách chủ động làm nguồn vốn kinh doanh. Vì vậy, để khuyến khích khách hàng gửi tiền, các NHTM thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau như: 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng… với mức lãi suất tương ứng theo nguyên tắc kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao.

1.1.2. Tiền gửi của dân cư:

Tiền gửi của dân cư là một bộ phận thu nhập bằng tiền của dân cư gửi tại Ngân hàng. Tiền gửi dân cư bao gồm:

Tiền gửi tiết kiệm: là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận gửi tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.

Đây là hình thức huy động truyền thống của Ngân hàng. Trong hình thức huy động này, người gửi tiền được cấp một thẻ tiết kiệm. Thẻ này được coi như giấy chứng nhận có tiền gửi vào quỹ tiết kiệm của Ngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm của dân cư cũng được chia thành 2 loại: tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn.

Thẻ tiết kiệm được xem là một chứng từ đảm bảo tiền gửi. Vì vậy, người gửi có thẻ tiết kiệm cũng có thể mang thẻ này đến Ngân hàng để cầm cố hoặc xin chiết khấu để vay tiền.

1.1.3. Vốn huy động thông qua các chứng từ có giá:

Giấy tờ có giá là chứng nhận của TCTD phát hành để huy động vốn, trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời gian nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa TCTD và người mua.

Đây là việc các NHTM phát hành các chứng từ như kỳ phiếu Ngân hàng có mục đích, trái phiếu Ngân hàng và chứng chỉ tiền gửi để huy động vốn ngắn hạn và dài hạn vào Ngân hàng.

Tại một số thời điểm đặc biệt, NHCT còn phát hành công cụ huy động đặc biệt như: tiết kiệm dự thưởng, kỳ phiếu dự thưởng, tiết kiệm lãi suất bậc thang, tiết kiệm kèm quà tặng khuyến mãi.

Việc phát hành các chứng từ có giá để huy động vốn chỉ được thực hiện sau khi đã tiến hành lên cân đối toàn hệ thống ngân hàng giữa nguồn vốn và sử dụng vốn. Khi khả năng nguồn vốn của toàn hệ thống không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng vốn của cả hệ thống, nếu được Thống đốc NHNN chấp nhận thì các NHTM mới được phép phát hành các chứng từ có giá để huy động vốn.

1.2. Các nguyên tắc quản lý tiền gửi của khách hàng:

–         Ngân hàng phải đảm bảo thanh toán kịp thời cho khách hàng. Theo đó Ngân hàng chỉ được sử dụng một tỷ lệ phần trăm tiền gửi nhất định để cho vay, số còn lại làm quỹ dự trữ đảm bảo thanh toán cho khách hàng.

–         Ngân hàng chỉ được thực hiện các khoản giao dịch trên tài khoản của khách hàng khi có lệnh của chủ tài khoản hoặc có sự uỷ nhiệm của chủ tài khoản. Ngoại trừ trường hợp khách hàng vi phạm luật chi trả và theo quy định của cơ quan có thẩm quyền về thực hiện các nghiệp vụ thanh toán thì khi đó Ngân hàng mới có quyền tự động trích các tài khoản tiền gửi của khách hàng để thực hiện các khoản thanh toán có liên quan.

–         Ngân hàng phải đảm bảo an toàn và bí mật cho chủ tài khoản

–         Ngân hàng phải có trách nhiệm kiểm soát các giấy tờ thanh toán của khách hàng, các chứng từ thanh toán phải được lập theo đúng quy định. Ngân hàng phải kiểm tra con dấu và chữ ký của khách hàng, nếu không phù hợp thì Ngân hàng có thể từ chối thanh toán.

–         Khi có các nghiệp vụ liên quan đến tài khoản của khách hàng thì Ngân hàng phải kịp thời gửi giấy báo có cho khách hàng. Cuối tháng, Ngân hàng phải gửi bản sao tài khoản hoặc giấy báo số dư cho khách hàng.

2. Nghiệp vụ tín dụng:

2.1. Khái niệm tín dụng:

Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế-xã hội. Ngày nay, tín dụng được hiểu theo những định nghĩa sau:

1/ Tín dụng là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định.

2/ Tín dụng là phạm trù kinh tế, phản ánh quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế hàng hóa.

3/ Tín dụng là một giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên (trái chủ-người cho vay) cấp tiền, hàng hóa, dịch vụ, chứng khoán… dựa vào lời hứa thanh toán lại trong tương lai của bên kia (thụ trái- người đi vay).

Như vậy, tín dụng có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau. Nhưng nội dung cơ bản của những định nghĩa này là thống nhất, đều phản ánh một bên là người cho vay, còn bên kia là người đi vay. Quan hệ giữa hai bên được ràng buộc bởi cơ chế tín dụng và pháp luật hiện tại.

2.2. Bản chất tín dụng:

Tín dụng thể hiện như một sự chuyển giao tạm thời quyền sử dụng một vật hoặc số tiền giữa người cho vay và người đi vay. Vì vậy, người ta có thể sử dụng được giá trị của hàng hóa trực tiếp hay gián tiếp thông qua trao đổi. Bản chất tín dụng thể hiện trong mối quan hệ kinh tế trong quá trình hoạt động của tín dụng và mối quan hệ của nó trong quá trình sản xuất.

2.3. Phân loại tín dụng:

Có rất nhiều cách phân loại tín dụng nhưng cách phổ biến nhất là phân loại theo thời gian. Căn cứ vào thời gian, tín dụng được chia thành ba loại:

Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn đến một năm
Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ trên một năm đến năm năm
Tín dụng dài hạn: có thời hạn trên năm năm

2.4. Nguyên tắc tín dụng:

Khi tham gia vào quan hệ tín dụng, các doanh nghiệp vay vốn và các Ngân hàng đều quán triệt các nguyên tắc. Các nguyên tắc tín dụng được hình thành từ bản chất của tín dụng, được khẳng định trong thực tiễn hoạt động của các Ngân hàng và được pháp lý hóa.

Trong kinh doanh tiền tệ, các Ngân hàng phải dựa trên các nguyên tắc này để xem xét xây dựng, thực hiện và xử lý những vấn đề liên quan đến tiền vay, khách hàng vay vốn phải tuân thủ và bị ràng buộc bởi các yêu cầu đặt ra theo xu hướng mà các nguyên tắc này đòi hỏi.

Nguyên tắc 1: Tiền vay được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng.

Nguyên tắc 2: Tiền vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn đã thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng.

2.5. Lãi suất tín dụng:

Lãi suất huy động vốn: Là loại lãi suất mà các tổ chức tín dụng sử dụng để huy động vốn cho các mục tiêu hoạt động kinh doanh của mình như: lãi suất tiền gửi không kỳ hạn, lãi suất tiền gửi có kỳ hạn.

PHẦN III: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

I. KẾT LUẬN:

Nền kinh tế của đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, kinh tế tăng trưởng khá nhanh, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đời sống nhân dân được cải thiện. Kết quả trên là do nỗ lực chung của các ngành, các cấp. Trong đó ngành Ngân hàng có những đóng góp tích cực cho quá trình đổi mới và phát triển kinh tế Việt Nam.

Vai trò của Ngân hàng ngày càng thể hiện rõ thông qua việc đáp ứng nhu cầu vốn rất lớn cho nền kinh tế. Một mặt Ngân hàng là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế, mặt khác Ngân hàng cũng góp phần vào việc tăng trưởng kinh tế xã hội của đất nước trên cơ sở các hoạt động kinh doanh có hiệu quả.

Cùng với xu thế chung của đất nước, NHCT KG đã tham gia vào việc tạo ra và cung cấp vốn cho các thành phần kinh tế trong khu vực tỉnh Kiên Giang. Trong thời gian qua Chi nhánh đã rất cố gắng trong việc huy động vốn nhưng với tình hình cạnh tranh gay gắt của các TCTD khác đã khiến cho nguồn vốn ba năm qua của Ngân hàng luôn giảm và phải nhận vốn điều hòa từ NHCT VN. Hơn nữa, chính sách đầu tư của các đơn vị kinh doanh đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động huy động vốn của Ngân hàng. Cụ thể như một số doanh nghiệp thay vì gửi tiền nay chuyển sang vay tiền. Do đó đã làm tăng chi phí và giảm hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng.

Bên cạnh việc huy động vốn gặp không ít khó khăn thì tình hình sử dụng vốn của Ngân hàng cũng không gặp nhiều thuận lợi. Cho vay doanh nghiệp Nhà nước đều có nhiều vướng mắc do phần lớn các doanh nghiệp Nhà nước đều có tình hình tài chính yếu. Một số doanh nghiệp Nhà nước không thuộc diện khuyến khích tiếp tục cho vay do đặc điểm khó khăn về ngành, về cơ chế chính sách. Tuy nhiên những doanh nghiệp đã có mối quan hệ từ lâu, có số dư nợ lớn thì việc rút dần dư nợ đang gặp trở ngại bởi lý do:

+ Ngừng cho vay thì doanh nghiệp không thể trả được nợ cũ và gần như không Ngân hàng Thương mại nào chấp nhận cho vay, doanh nghiệp không tìm được nguồn tài trợ khác.

+ Giảm dư nợ cho vay, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn về thiếu hụt vốn dẫn đến mất cân đối về tài chính.

Mặc dù, các phương diện hoạt động của Ngân hàng có những vướng mắc nhất định nhưng nhìn tổng thể thì Ngân hàng vẫn đạt được những kết quả khả quan được biểu hiện thông qua lợi nhuận ròng thu được. Lợi nhuận thu được qua ba năm có sự gia tăng chủ yếu là do thu lãi. Vì vậy, Ngân hàng cần phát triển hơn nữa các dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu nền kinh tế và góp phần tăng thêm thu nhập cho Ngân hàng. Song song đó ngân hàng cần cắt giảm các khoản chi phí như chi phí văn phòng phẩm, điện, nước… để nâng cao hơn nữa hoạt động kinh doanh của Chi nhánh.

Những khó khăn hiện tại là những khó khăn chung của nhiều TCTD trên địa bàn. Bằng những nỗ lực và phấn đấu không ngừng của toàn thể Ban giám đốc cùng cán bộ, công nhân viên Ngân hàng trong thời gian qua nhằm đạt được hiệu quả cao nhất, chúng ta hoàn toàn tin  tưởng rằng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng sẽ tiếp tục có những bước tiến khả quan trước thềm hội nhập kinh tế quốc tế.

II. KIẾN NGHỊ

  1. 1.      Về nghiệp vụ

+ Tổ chức mạng lưới phục vụ cho công tác huy động vốn thông qua việc tạo ấn tượng khác biệt sự khang trang, thoải mái và dễ gần tại nơi làm việc để cho khách hàng cảm thấy tin tưởng. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng phổ biến rộng rãi đến mọi thành phần kinh tế về các loại hình tiền gửi, dịch vụ và lợi ích mà nó đem lại cho khách hàng.

+ Mở rộng mạng lưới hoạt động nhằm chiếm thị phần và thu hút khách hàng như mở thêm các điểm giao dịch ở những nơi có kinh tế phát triển.

+ Cải cách việc thanh toán qua Ngân hàng, rút ngắn quy trình giao dịch khi khách hàng gửi tiền vào tài khoản, thanh toán nhanh chóng và thuận lợi hơn. Trang bị thêm máy rút tiền tự động ATM, phát hành thẻ, thẻ thanh toán, đẩy mạnh tốc độ dịch vụ chuyển tiền nhanh. Từ đó thu hút một khối lượng lớn tiền gửi thanh toán. Nhanh chóng hoàn tất chương trình hiện đại hóa Ngân hàng trong năm 2006 để đẩy nhanh tốc độ thanh toán và tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng nhiều tiện ích của Ngân hàng Công Thương Việt Nam.

+ Cần đẩy mạnh hơn nữa công tác thu hồi nợ, xử lý nợ quá hạn, đặc biệt là tích cực tác động, tranh thủ sự hỗ trợ của các cấp, các ngành ở địa phương cũng như Ngân hàng cấp trên trong công tác xử lý thu hồi nợ. Vì hiện nay dư nợ cho vay chưa hoặc không thu hồi được gốc và lãi của Chi nhánh còn chiếm tỉ trọng cao trong tổng nguồn vốn mà cụ thể là món vay đầu tư nhà máy chế biến nước dứa cô đặc thuộc Công ty Chế biến Thực phẩm Xuất khẩu Kiên Giang; Dự án cho vay vùng đệm U Minh Thượng hay nợ cho vay khắc phục hậu quả bảo số 5…việc thu hồi tốt các khoản nợ đến hạn cũng là một trong những nguồn vốn quan trọng để tiếp tục sử dụng vốn cho vay trong tương lai.

+ Định kỳ tổ chức tuyên truyền, quảng cáo, quảng bá sản phẩm, thương hiệu của Chi nhánh; tăng cường công tác tiếp thị những khách hàng mới, thực hiện tốt việc chăm sóc và duy trì khách hàng đã có quan hệ tiền gửi với Chi nhánh. Tăng chi phí khuyến mãi một cách hợp lý để thu hút nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội.

+ Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay, muốn tạo được sự khác biệt so với các Ngân hàng khác trên địa bàn trong việc thu hút lượng tiền gửi thì đòi hỏi phải nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tác phong giao dịch của nhân viên trực tiếp giao dịch, tiếp xúc với khách hàng. Muốn làm được việc này cần phải thường xuyên tuyên truyền, giáo dục cán bộ, công nhân viên trong Ngân hàng về phong cách bán hàng, thái độ phục vụ. Đặc biệt nên định kỳ hàng năm tổ chức mở lớp bồi dưỡng marketing căn bản cho toàn bộ cán bộ công nhân viên trong Chi nhánh, bên cạnh đó cũng cần phải có chế độ khen thưởng, khuyến khích vật chất lẫn tinh thần cho những cán bộ có thành tích xuất sắc trong công tác huy động vốn, ngược lại phải xử phạt nghiêm những trường hợp có thái độ giao dịch với khách hàng không niềm nở…

  1. 2.      Kiến nghị đối với Ngân hàng Công Thương Việt Nam

+ Đối với việc phát triển dịch vụ Ngân hàng, Chi nhánh đề nghị NHCT VN trang bị thêm các máy rút tiền để bố trí được nhiều nơi thuận tiện để phục vụ khách hàng nhằm tăng cường tính cạnh tranh. Việc này có thể tiết kiệm chi phí bằng cách trang bị máy có giá trị thấp như máy âm tường mà Ngân hàng Ngoại thương đang làm.

+ Thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo nghiệp vụ mang tính chuyên sâu, phát triển thêm nguồn nhân lực, bồi dưỡng nghiệp vụ cho các Chi nhánh. Những khoá huấn luyện đào tạo nên cho ứng dụng thực tế cao ngay trong chương trình giảng dạy. Nên có những khuyến khích để kích thích trách nhiệm và quyền lợi của cán bộ công nhân viên, từ đó có thể phát huy tính năng động sáng tạo trong công việc và nâng cao trách nhiệm của mỗi người.

+ Giao thêm quyền chủ động cho Giám đốc Chi nhánh trong việc xem xét quyết định hạn mức tín dụng cho mỗi khách hàng để Ngân hàng chủ động trong việc xác định mức lãi xuất, từ đó tạo tính chủ động trong hoạt động cho vay.

+ Cho phép Chi nhánh tự cân đối, linh hoạt về việc áp dụng lãi suất huy động để phù hợp với mặt bằng lãi suất huy động vốn của các Tổ chức tín dụng khác trên địa bàn.

+ Đẩy mạnh quá trình hiện đại hóa Ngân hàng, ứng dụng rộng rãi việc thanh toán điện tử; thẻ tín dụng; ATM; triển khai thực hiện cơ chế thanh toán và các phương thức thanh toán mới như: Dịch vụ gửi tiền tiết kiệm một nơi, lĩnh ở nhiều nơi; dịch vụ tài khoản điện tử; dịch vụ Ngân hàng tại nhà và các dịch vụ Ngân hàng điện tử khác nhằm đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng đảm bảo khả năng cạnh tranh với các Tổ chức tín dụng khác.

  1. 3.      Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước

+ Thực hiện kết nối hệ thống đặc biệt là thị trường thẻ. Hiện nay hệ thống thẻ chưa kết nối được với nhau, mạnh Ngân hàng nào Ngân hàng đó làm tuỳ theo khả năng về vốn đầu tư của mình. Thẻ ATM của Ngân hàng nào phát hành thì chi sử dụng được trong hệ thống máy ATM do Ngân hàng đó mà thôi và cũng không thể chuyển khoản cho người khác nếu không cùng mở tài khoản trong cùng một hệ thống Ngân hàng. Chính điều này đã làm các Ngân hàng lãng phí tiền đầu tư cho hệ thống máy ATM của mình thay vì có thể sử dụng chung một máy và tạo tiện ích cho người sử dụng.

+ Đưa trung tâm thông tin phòng chống rủi ro đi vào hoạt động một cách hiệu quả hơn nữa. Vì hiện nay hầu hết các Ngân hàng đều có quan hệ hợp tác với trung tâm phòng ngừa rủi ro của Ngân hàng Nhà nước, nhưng lại hời hợt vì vậy làm cho chất lượng hoạt động của trung tâm không cao, nguồn thông tin nhận được từ trung tâm hầu như không đủ, chậm chạp. Từ đó trung tâm cần có biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động và độ tin cậy thông qua việc quy định rõ ràng trách nhiệm của nguồn cung cấp cũng như nơi sử dụng thông tin.

+ Tham mưu, đề nghị Nhà nước cần sửa đổi bổ sung luật Ngân hàng Nhà nước và luật các Tổ chức tín dụng để phù hợp với pháp luật hiện hành cũng như phù hợp với tình hình hoạt động của các TCTD. Nhằm đảm bảo cho các TCTD hoạt động có hiêu quả hơn.

+ Kiến nghị với Nhà nước ổn định giá trị đồng tiền nội tệ. Vì lạm phát cao đồng tiền bị mất giá sẽ gây ảnh hưởng đến việc huy động tiền gửi vào Ngân hàng, người dân sẽ không gửi tiền vào Ngân hàng nữa hoặc rút ra để chuyển qua giữ đồng tiền của họ ở dạng như: vàng, ngoại tệ, tài sản khác…. Đồng tiền mất giá kéo theo Ngân hàng phải tăng lãi suất huy động để bù đắp phần trượt giá, lãi suất huy động cao làm cho lãi suất cho vay cũng sẽ tăng lên, khi đó các doanh nghiệp khó có thể vay Ngân hàng với lãi suất cao này. Kết quả là Ngân hàng bị ứ đọng vốn.

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s