Phân tích hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn tại Ngân Hàng Xuất Nhập Khẩu Chi nhánh Cần Thơ


I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

   Trong quá trình hội nhập, cả đất nước ta bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mọi thành phần kinh tế đều ra sức đầu tư và phát huy nguồn lực của mình nhằm tạo sự phát triển bền vững. Ngân hàng cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Một khi nền kinh tế phát triển thì vai trò của Ngân hàng càng trở nên quan trọng, và với chức năng là mạch máu lưu thông nền kinh tế càng được thể hiện rõ nét. Với phương châm “Đi vay để cho vay“, các Ngân hàng luôn  phát huy nội lực cũng như tranh thủ những thời cơ trong mọi hoạt động để đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàng, tạo ra lợi nhuận cho mình. Ngoài việc trang bị cơ sở vật chất hiện đại, vị trí giao dịch thuận lợi, còn đòi hỏi trình độ của nhân viên, chất lượng sản phẩm, dịch vụ…Và thực sự Ngân hàng nào cũng ý thức rõ được điều này.

  Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam nói chung và Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Chi nhánh Cần Thơ (được gọi tắt là Eximbank Cần Thơ hay EIB Cần Thơ) nói riêng đã và đang khẳng định lại vị thế của mình. Thế mạnh của Ngân hàng là tài trợ xuất nhập khẩu, kinh doanh ngoại tệ,… Rút kinh nghiệm từ những bài học trước đây, mọi kế hoạch đề ra và đưa vào áp dụng đều được xem xét và đánh giá cụ thể bằng những chuẩn mực nhằm hạn chế thấp nhất những rủi ro. Và trong những năm gần đây, Eximbank Cần Thơ được đánh giá là Ngân hàng hoạt động có hiệu quả, luôn vượt chỉ tiêu kế hoạch do Ngân hàng Hội sở giao, đặc biệt là công tác huy động vốn và sử dụng vốn.

  Nguồn vốn của Ngân hàng ngoài nguồn vốn từ Hội sở điều chuyển xuống thì còn có nguồn vốn chi nhánh huy động tại chỗ. Ở địa bàn thành phố Cần Thơ, người dân còn sống thiên về nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, đời sống còn thấp. Mặt khác dân chúng vẫn chưa nhận thức hết vai trò của Ngân hàng nên Ngân hàng rất khó khăn để huy động được nguồn vốn nhàn rỗi của dân chúng. Thêm vào đó là sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng trên địa bàn buộc Ngân hàng phải nỗ lực rất lớn mới có thể hoạt động hiệu quả được. Và kết quả là nguồn vốn huy động tăng lên từng năm, hoạt động tín dụng được đánh giá là có hiệu quả, đặc biệt là năm 2005 đã có sự tăng trưởng đột biến. Nhưng xét về tổng quát thì hiệu quả hoạt động vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của Ngân hàng.

 Để hiểu rõ hơn về công tác huy động vốn, tình hình sử dụng vốn của Chi  nhánh cũng như những nguyên nhân tác động đến chúng, tôi đã quyết định chọn đề tài “ Phân tích hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn tại Ngân Hàng Xuất Nhập Khẩu Chi nhánh Cần Thơ” làm luận văn tốt nghiệp.

 II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

 Tôi tiến hành tính toán những số liệu từ bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh qua 3 năm (2003 – 2005) để phân tích và đánh giá từ khái quát đến cụ thể tình hình huy động vốn và sử dụng vốn. Từ đó rút ra những mặt tích cực cũng như hạn chế để Ngân hàng có những kế hoạch, chiến lược phù hợp trong thời gian tới. Do đó đề tài hướng đến các vấn đề chủ yếu sau:

–          Phân tích tình hình huy động vốn và sử dụng vốn.

–                      Dựa vào các chỉ tiêu huy động vốn và sử dụng vốn để đánh giá tình hình huy động và sử dụng vốn của Ngân hàng.

–                      Đề ra biện pháp khắc phục nhằm không ngừng nâng cao hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn.

III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

     Trong tiến trình thực hiện đề tài, tôi sử dụng những phương pháp sau:

     – Phương pháp thu thập dữ liệu:

     + Thu thập những số liệu thực tế, trực tiếp có liên quan đến phân tích tình hình huy động vốn của Ngân hàng qua 3 năm (2003-2005).

  • · Bảng cân đối kế toán
  • · Bảng báo cáo kết quả kinh doanh
  • · Tham khảo văn bản Nhà nước về những qui định của Ngân hàng.

+ Thu thập những thông tin phụ trợ cho đề tài từ các báo, tạp chí, các trang Web…

– Phương pháp sử dụng và phân tích các chỉ số tài chính để đánh giá hiệu quả.

– Tiếp thu tham khảo những ý kiến của nhân viên các phòng ban trong và ngoài Ngân hàng có  liên quan.

     Những thông tin, dữ liệu sau khi đã thu thập được sẽ tiến hành thống kê, tính toán và lấy chênh lệch qua các kỳ để so sánh theo phương pháp số tương đối, số tuyệt đối… để đánh giá và làm rõ vấn đề cần nghiên cứu.

IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Đối với hoạt động của Ngân hàng thì rất phong phú và đa dạng, tham gia trong nhiều lĩnh vực kinh doanh. Nhưng do hạn chế về thời gian, không gian cũng như kinh nghiệm thực tế, tôi không nghiên cứu và phân tích chi tiết từng nghiệp vụ cụ thể mà  xuất phát từ nhu cầu không ngừng nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn, đề tài được viết trên phương diện từ phân tích tổng quát đến cụ thể hoạt động huy động vốn, sử dụng vốn và những nhân tố khách quan, chủ quan tác động đến Ngân hàng qua 3 năm gần đây (2003-2005) ở phòng Kế toán Ngân hàng Eximbank chi nhánh Cần Thơ.

        Cụ thể phần sử dụng vốn, Ngân hàng chủ yếu sử dụng vốn điều chuyển và vốn huy động tại chỗ để cho vay nên tôi tập trung vào phân tích và đánh giá hoạt động sử dụng vốn bao hàm hoạt động cho vay của Ngân hàng.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

–—&––

 I. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM).

Ngân hàng thương mại ra đời và phát triển gắn liền với nền sản xuất  hàng hoá, nó kinh doanh loại hàng hoá rất đặc biệt đó là “tiền tệ”. Thực tế các NHTM kinh doanh “quyền sử dụng vốn tiền tệ”. Nghĩa là các NHTM nhận tiền gửi của công chúng, của các tổ chức kinh tế xã hội. Sử dụng số tiền đó cho vay và làm phương tiện thanh toán với những điều kiện ràng buộc là phải hoàn lại vốn gốc và lãi nhất định theo thời hạn đã thoả thuận.

 Theo pháp lệnh “các tổ chức tín dụng ”(1990) của Việt Nam thì NHTM được định nghĩa như sau:

 “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu  là thường xuyên nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.

II. CÁC NGUỒN VỐN CỦA NHTM

   1.Vốn tự có:

 Vốn tự có hay còn gọi là vốn chủ sở hữu của ngân hàng là bao gồm giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số nguồn vốn khác của ngân hàng theo quy định của ngân hàng Trung ương.

       1.1. Vốn điều lệ:

 Là số vốn được ghi trong điều lệ hoạt động của NHTM. Vốn điều lệ của ngân hàng là do các chủ sở hữu ngân hàng đóng góp vốn điều chuyển …Mức vốn điều lệ và phương thức đóng góp vốn điều lệ của mỗi ngân hàng được ghi trong điều lệ hoạt động của từng ngân hàng và được ngân hàng Trung ương phê duyệt. Mức vốn điều lệ của mỗi ngân hàng phụ thuộc vào mức góp vốn của các chủ sở hữu ngân hàng, song nhìn chung không được thấp hơn mức vốn pháp định mà Chính phủ quy định. Trong quá trình hoạt động của các NHTM có thể tăng thêm vốn điều lệ của mình nhưng phải được sự đồng ý chấp nhận của ngân hàng Trung ương.

    1.2. Các quỹ dự trữ:

 Các quỹ dự trữ của NHTM được hình thành và tạo lập trong quá trình hoạt động của ngân hàng nhằm sử dụng cho có mục đích nhất định.

Theo quy định của luật các tổ chức tín dụng, hàng năm tổ chức tín dụng phải trích từ lợi nhuận sau thuế để lập và duy trì các quỹ sau:

– Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ được trích hàng năm theo tỷ lệ 5% trên lợi nhuận ròng. Mức tối đa của quỹ do chính phủ quy định.

   – Các quỹ khác: Quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ phát triển nghiệp vụ ngân hàng…các quỹ quỹ này cũng được trích lập sử dụng theo quy định của pháp luật.

Các quỹ dự trữ sau khi đã được trích lập các NHTM được sử dụng theo mục đích lập quỹ. Tuy nhiên, khi số tiền của quỹ chưa sử dụng đến thì các NHTM có thể tạm thời huy động theo nguyên tắc hoàn trả làm nguồn vốn kinh doanh.

        1.3. Các nguồn vốn khác:

      Một số nguồn vốn khác được coi như vốn tự có của ngân hàng, bao gồm:            – Lợi nhuận giữ lại

–  Thu nhập lớn hơn chi phí

–  Khấu hao tài sản cố định

   2. Nguồn vốn huy động

2.1.           Tiền gửi của các tổ chức kinh tế:

   Là số tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của họ được gửi tại ngân hàng. Nó bao gồm một bộ phận vốn tiền tạm thời nhàn rỗi được giải phóng ra khỏi quá trình luân chuyển vốn nhưng chưa có nhu cầu sử dụng hoặc sử dụng cho những mục tiêu định sẵn vào một thời điểm nhất định (Các quỹ: đầu tư phát triển, quỹ dự trữ tài chính, quỹ phúc lợi khen thưởng…)

2.1.1.     Tiền gửi không kỳ hạn:

Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà khi gửi vào, khách hàng gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào mà không cần phải báo trước cho ngân hàng và ngân hàng phải thỏa mãn yêu cầu đó của khách hàng.

  Mục đích của loại tiền gửi này là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản, thực hiện các khoản chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như các khoản thanh toán trong tiêu dùng của cá nhân đồng thời hạn chế được chi phí tổ chức thanh toán, bảo quản tiền và vận chuyển tiền. Đối với ngân hàng, loại tiền gửi này thường có sự dao động lớn vì người gửi tiền có thể gửi tiền và rút ra bất cứ lúc nào, do đó Ngân hàng chỉ có thể sử dụng tỷ lệ nhất định để cho vay nên Ngân hàng thường áp dụng lãi suất thấp cho loại tiền gửi này.

2.1.2       Tiền gửi có kỳ hạn:

 là loại tiền mà khi khách hàng gửi tiền vào có sự thỏa thuận về thời hạn rút ra giữa ngân hàng và khách hàng.

Theo nguyên tắc, đối với loại tiền gửi này, người gửi tiền chỉ được rút ra khi đến hạn. Tuy nhiên, trên thực tế do áp lực cạnh tranh mà ngân hàng cho phép khách hàng rút trước kỳ hạn. Trong trường hợp này, người gửi không được hưởng lãi như tiền gửi có kỳ hạn mà sẽ được áp dụng với lãi suất không kỳ hạn nếu rút ra truớc khi đáo hạn.

 Khác với tiền gửi thanh toán, tiền gửi định kỳ là tiền gửi tạm thời chưa sử dụng hoặc tiền để dành của cá nhân, vì mục đích gửi tiền vào Ngân hàng là nhằm mục đích kiếm lợi tức. Đối với ngân hàng, tiền gửi định kỳ là nguồn vốn ổn định trong kinh doanh, do đó lãi suất mà Ngân hàng áp dụng cho loại tiền gửi này cao hơn lãi suất tiền gửi thanh toán không kỳ hạn. Mặt khác để khuyến khích khách hàng gửi tiền theo định kỳ dài hạn, thông thường Ngân hàng áp dụng lãi suất cao đối với các khoản tiền gửi dài hạn (vì tiền gửi định kỳ giúp ngân hàng có thể sử dụng vốn đó để kinh doanh qua việc cho vay trung, dài hạn, mua sắm các thiết bị cũng như đầu tư vào một số lĩnh vực….)

2.2.           Tiền gửi tiết kiệm:

 là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác định trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật và bảo hiểm tiền gửi.

 2.2.1. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn:

là loại tiền gửi không có thời hạn đáo hạn mà người gửi muốn rút ra phải thông báo cho Ngân hàng biết trước một thời gian. Tuy nhiên, ngày nay các Ngân hàng cho phép khách hàng rút ra không cần báo trước. Tiền gửi này chủ yếu là tiền gửi của dân cư, các tổ chức kinh tế và Chính phủ. Nhưng do nhu cầu chi tiêu không xác định được trước nên khách hàng chỉ gửi tiền không kỳ hạn nghĩa là có thể rút ra bất cứ lúc nào. Do đó Ngân hàng không chủ động được nguồn vốn nên loại tiền gửi này có mức lãi suất thấp.

2.2.2. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn:

   Người ký thác tiền này ở Ngân hàng để sử dụng vào mục đích nhất định như mua sắm nhà cửa, trang trải chi phí học tập cho con cái… Ngân hàng thường cấp thêm tín dụng để bù đắp thêm phần thiếu hụt khi sử dụng vào mục đích của người gửi tiền tiết kiệm.

     Về nguyên tắc, khách hàng chỉ được rút tiền khi đáo hạn. Nếu rút vốn trước hạn thì phải được chấp nhận của lãnh đạo ngân hàng và hưởng lãi suất không kỳ hạn.

   Về hình thức, theo truyền thống, người gửi tiền được cấp một sổ gọi là sổ tiết kiệm, trên sổ này ghi rõ tất cả các khoản tiền gửi vào rút ra và lãi suất. Mỗi lần gửi tiền hoặc rút tiền, khách hàng phải xuất trình sổ tiết kiệm cho ngân hàng để ngân hàng ghi bút toán. Ngày nay, nhiều ngân hàng đã bỏ sổ tiết kiệm, thay vào đó cung cấp cho khách hàng bảng kê lúc gửi tiền đầu tiên và theo định kỳ hàng tháng để phản ánh tất cả các số phát sinh.

    Việc huy động vốn tiền gửi của khách hàng không những đem lại cho ngân hàng một nguồn vốn với chi phí thấp để kinh doanh, mà còn giúp cho ngân hàng có thể nắm bắt được thông tin, tư liệu chính xác về tình hình tài chính của các tổ chức kinh tế và cá nhân có quan hệ tín dụng với ngân hàng, tạo điều kiện cho ngân hàng có căn cứ để quy định mức vốn để đầu tư cho vay đối với những khách hàng đó. Vốn tiền mà ngân hàng huy động được trên các khoản tiền gửi của khách hàng còn là cơ sở cho các tổ chức thanh tra, kiểm toán thực hiện được nhiệm vụ nhanh chóng, chính xác phát hiện kịp thời tham ô, trốn thuế, lừa đảo của các doanh nghiệp làm ăn không chính đáng, xử lý kịp thời những kẻ vi phạm pháp luật.

——–&—–—

I. KẾT LUẬN:

Nền kinh tế Việt Nam được bạn bè quốc tế đánh giá là đang trên tốc độ phát triển nhanh, trong đó có đóng góp không nhỏ của ngành ngân hàng, nhất là các ngân hàng thương mại cổ phần.

 Là một ngân hàng thuơng mại cổ phần, với phương châm kinh doanh là “đi vay để cho vay”, EIB Cần Thơ từ khi thành lập chi nhánh đến nay mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng Ngân hàng đã đạt được những thành tựu đáng kể, ngày càng phát huy uy tín, từng bước hoàn thiện mình, tiếp tục phát triển, hướng tới  trở thành Ngân hàng bán lẻ hàng đầu. Để thực hiện mục tiêu kinh doanh, vừa phục vụ sản xuất kinh doanh vừa đảm bảo có lợi nhuận, trong thời gian qua Chi nhánh đã tích cực thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư để đáp ứng nhu cầu vay vốn của cá nhân, doanh nghiệp trên địa bàn. Các hình thức huy động vốn đã được Ngân hàng áp dụng khá linh hoạt và nguồn vốn đã không ngừng tăng lên cùng với sự đa dạng trong phương thức huy động vốn. Ngân hàng được đánh giá là hoạt động khá hiệu quả, thực sự tạo niềm tin nơi khách hàng. Bên cạnh đó, Chi nhánh cũng chú trọng công tác tín dụng, công tác thu hồi nợ, xử lý kịp thời những món vay quá hạn thể hiện tỷ lệ nợ quá hạn đã giảm qua các năm.

Đạt được những kết quả trên là nhờ sự đóng góp tích cực của cán bộ nhân viên trong Ngân hàng. Một tập thể đoàn kết, ý thức trách nhiệm và quyết tâm tạo nên sức mạnh tổng hợp để hoàn thành tốt công việc được giao.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì Ngân hàng còn có khá nhiều mặt hạn chế trong công tác huy động vốn nhàn rỗi trong dân chúng vì chưa phát huy hết khả năng của mình tại địa bàn tiềm năng này.

 Trong những năm tới đây, khi Việt Nam gia nhập vào tổ chức thương mại WTO, cơ hội là rất lớn mà thử thách cũng không ít. Vì thế, Ngân hàng cần tận dụng những nguồn lực sẵn có, tìm kiếm và phát huy những cơ hội mới để khẳng định vị trí trong lòng khách hàng và vững vàng, tự tin bước vào hội nhập kinh tế thế giới.

 

II. KIẾN NGHỊ

Hoạt động tiền tệ tín dụng ở bất kỳ tổ chức kinh tế hay cá nhân nào dù đang ở trong thời kỳ hưng thịnh đều không thể tránh khỏi những thiếu sót. Qua quá trình thực tập tại Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam chi nhánh Cần Thơ, tôi có một vài ý kiến mang tính chất tham khảo sau:

Đối với Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Chi nhánh Cần Thơ:

     + Nâng cao chất lượng dịch vụ chuyên nghiệp hơn phù hợp với xu hướng mới, đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng.

     + Tăng cường công tác quảng cáo, tiếp thị, khuyếch trương thương hiệu, tạo ấn tượng tốt, niềm tin nơi khách hàng.

     + Đào tạo đội ngũ nhân viên có trình độ, năng lực để thựuc hiện tôt việc gioa dịch một cửa.

     + Cần có chính sách ưu đãi với những khách hàng có tiền gửi tại Ngân hàng, như vay lại vốn của Ngân hàng thì được hưởng lãi suất ưu đãi hơn.

     + Nhanh chóng di dời trụ sở ra cơ sở mới để thuận tiện hơn trong hoạt động kinh doanh.

     + Xây dựng biểu lãi suất hấp dẫn, đồng thời đa dạng hoá hơn nữa các phương thức huy động vốn và sử dụng vốn.

     + Mở rộng mạng lưới hoạt động bằng cách mỏ các phòng giao dịch, và tăng cường các máy rút tiền tự động để đẩy mạnh hoạt động thẻ trên địa bàn, nâng cao năng lực cạnh tranh.

     + Đẩy mạnh mối quan hệ với các Ngân hàng bạn, để huy động vốn ở thị trường này.

+ Có những chính sách ưu đãi đối với khách hàng truyền thống, từ đó tạo sức hút các đối tượng có quan hệ với những khách hàng truyền thống.

Đối với Ngân hàng Nhà nước:

        + Ngày càng phát triển mạnh hơn, có khả năng hoạch định chính sách công cụ tốt, đủ sức điều tiết thị trường tiền tệ và thị trường hối đoái đạt được các mục tiêu mong muốn. Giữ vững ổn định tiền tệ với mức lạm phát thấp, ổn định tỷ giá hối đoái với mức khuyến khích xuất khẩu.

        + Cần có những chủ trương nhằm mang lại sự bình đẳng cho các loại hình Ngân hàng trong hoạt động kinh doanh vận động theo cơ chế thị trường với sức cạnh tranh ngày càng dữ dội.

–         Đối với Nhà nước:

       Không ngừng ban hành, sữa đổi các quy chế, chỉ thị sâu sắc đến từng hệ thống Ngân hàng. Đổi mới và hoàn thiện luật Ngân hàng, luật thương mại, cũng như các luật đầu tư nước ngoài sao cho thông thoáng hơn tạo tiền đề để cho sự phát triển kinh tế đất nước.

Tuyên truyền, vận động và giải thích để người dân có thói quen gửi tiền vào Ngân hàng. Tạo điều kiện thuận lợi để người dân sử dụng ngày càng phổ biến hơn các công cụ thanh toán qua Ngân hàng.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

–—––

  1. 1.      Ths Thái Văn Đại. Năm 2005. Giáo trình Nghiệp Vụ Ngân hàng. Đại học Cần Thơ.
  2. 2.      Nguyễn Thanh Nguyệt. Năm 2005. Giáo trình Quản trị Ngân hàng. Đại học Cần Thơ.
  3. 3.      Lê Văn TưLê Tùng VânLê Hải Nam. Năm 2002. Tiền tệ Ngân hàng – Thị trường tài chính. Nhà xuất bản Tài Chính.
  4. 4.      TS Ngô văn Quế. 2003. Quản lý và phát triển Tài chính – Tiền tệ – Tín dụng Ngân hàng. Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật.
  5. 5.      Tạp chí Tài chính tiền tệ số 5, ngày 1/3/2006.
  6. 6.      Tạp chí Ngân hàng số 2/2005.
  7. 7.      Tạp chí Ngân hàng số 4/2006.
  8. 8.      Các trang Webhttp://www.Eximbank.com.vn

                                   http://www.vnn.vn

                                              http://www.mof.gov.vn

                                   http://www.saigontimes.com.vn

  1. 9.      Bảng cân đối kế toán, bảng chi phí, thu nhập năm từ 2003 – 2005 của Ngân hàng XNK Chi nhánh Cần Thơ.
  2. 10.  Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh qua 3 năm 2003 – 2005 của Ngân hàng XNK Chi nhánh Cần Thơ.

           

——›&š——

:1′>��C��xL�/M�              82

3.3.1.4. Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước trong việc thực hiện chính sách quản lý ngoại hối                                                       83

3.3.1.5. Mở rộng và nâng cao hiệu quả quan hệ kinh tế đối ngoại    83

3.3.2. Với Ngân hàng Nhà nước                                                  83

3.3.2.1. Hoàn thiện và phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng                                                                                          83

3.3.2.2. Xây dựng cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với thị trường                                                                                          84

Kết luận                                                                                      85

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s