carry trade


  1. I.         Tổng quan về carry trade.

 

I.1/ Khái niệm

          Carry trade là một hình thức phổ biến của các nhà đầu tư trên thị trường lợi dụng vào tính không cân đối của mức lãi suất toàn cầu mà thực hiện hoạt động  kinh doanh các công cụ tài chính, các nhà đầu tư sẽ thực hiện bán một giá trị chắc chắn ở hiện tại với một mức lãi suất tương đối thấp để đổi lấy một giá trị khác có mức lãi suất cao hơn. Cụ thể :

          Carry trade là một chiến lược kinh doanh tiền tệ, trong đó nhà đầu tư vay các công cụ tài chính với lãi suất thấp, sau đó dùng nó để đầu tư vào các công cụ tài chính có lãi suất cao hơn. Khi nhà đầu tư trả lãi suất thấp hơn cho công cụ tài chính mà họ bán hay thuê, họ có thể thu được mức lãi suất cao hơn với công cụ tài chính họ mua. Do đó, lợi nhuận mà nhà đầu tư thu được từ họat động này xuất phát từ mức chênh lệch lãi suất.

                   Ví dụ :

          Vay ngân hàng $10,000 – lãi suất 1%/năm

          Dùng số tiền này mua trái phiếu – lãi suất 5%/năm.

à Lợi nhuận thu được là 4%/năm (= Mức chênh lệch giữa 2 lãi suất)

          Nhà đầu tư có thể lựa chọn nhiều kênh đầu tư khác nhau để đem lại hiệu quả cao nhất. Một trader dùng chiến lược này cố gắng kiếm được lợi nhuận được từ sự chênh lệch giữa các mức lãi suất – điều mà thường không chắc chắn, phụ thuộc vào khối lượng leverage (mức độ của đòn bẩy) mà nhà đầu tư đó chọn dùng (khái niệm này sẽ được làm rõ hơn ở phần sau)

 

          I.2/ Tiêu chuẩn của carry trade

          Muốn tìm thấy cặp tỷ giá phù hợp để carry trade, cần chú ý đến 2 điểm:

  • Tìm cặp tỷ giá có mức chênh lệch lãi suất cao
  • Tìm cặp tỷ giá đang có xu hướng đi lên – tức là đồng tiền bạn mua đang tăng giá trị so với đồng tiền bạn bán.

          Dĩ nhiên, các yếu tố chính trị và kinh tế đang hàng ngày thay đổi thế giới. Lãi suất và chênh lệch lãi suất giữa các đồng tiền cũng sẽ thay đổi.

I.3/ Một vài thuật ngữ liên quan

a/ Trader (Nhà kinh doanh ngắn hạn)

          Nhà kinh doanh ngắn hạn là một cá nhân thực hiện việc chuyển giao tài sản tài chính trên một thị trường tài chính bất kỳ, có thể là họ thực hiện cho chính mình, hoặc nhân danh người khác.

          (Tài sản tài chính là khái niệm nhằm chỉ các chứng thực quyền lợi của người nắm giữ được sở hữu các nguồn thu nhập trong tương lai nào đó. Tài sản tài chính được xem như một trong hai lớp tài sản quan trọng nhất cấu thành nên khái niệm tài sản nói chung trong kinh doanh; để phân biệt với tài sản thực; loại hàng hóa vốn phục vụ trực tiếp cho sản xuất.)

          Sự khác nhau cơ bản giữa một nhà kinh doanh (trader) và nhà đầu tư (investor) là độ dài thời gian nắm giữ tài sản tài chính của người đó. Các nhà đầu tư thường có khuynh hướng đầu tư dài hạn. Trong khi đó các nhà kinh doanh( trader) thường có khuynh hướng nắm giữ các tài sản tài chính trong thời gian ngắn hơn nhằm thu lợi tốt nhất từ các xu hướng ngắn hạn của thị trường. Nói cách khác, các nhà kinh doanh (trader) chỉ nắm giữ tài sản tài chính trong một khoảng thời gian rất ngắn.

          Trở ngại chính xảy ra với các giao dịch ngắn hạn đó là chi phí hoa hồng môi giới (commission costs). Bởi vì các nhà kinh doanh ngắn hạn thường xuyên thực hiện việc mua bán các tài sản tài chính trong chiến lược kinh doanh ngắn hạn để kiếm lời, do đó họ thường phải chịu phí hoa hồng môi giới rất lớn. Tuy nhiên, trên thị trường tài chính càng có nhiều các nhà môi giới thì sự cạnh tranh giữa các nhà môi giới sẽ giúp cho các nhà kinh doanh (trader) tìm được một mức phí hoa hồng giá cạnh tranh, có thể giúp anh ta giảm chi phí giao dịch xuống và như thế lợi nhuận sẽ tăng lên.

          Lưu ý một điều là luật đầu tư nước ta không có định nghĩa chính thức về nhà kinh doanh cũng như nhà đầu tư, mà chỉ sơ lược qua về nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

     b/ Exchange rate (Tỉ giá trao đổi) :

          Mỗi giao dịch Forex đều liên quan đến việc bán 1 ngoại tệ này và mua ngoại tệ kia (sự trao đổi). Giá của một loại ngoại tệ so với ngoại tệ khác được gọi là tỉ giá trao đổi – Exchange rate.
Ví dụ : 1 đô Mỹ = 1.1685 đô Canada.
Nói cách khác, nếu bạn muốn mua một đô Mỹ, bạn sẽ phải trả ( hoặc bán) 1.1685 đô Canada. Trong trường hợp này 1.1685 là tỉ giá trao đổi của đô Mỹ với đô Canada.

c/ The Major Pairs ( các cặp ngoại tệ chính)

          Thị trường Forex chia ra làm 3 loại chính là Major pairs, Cross Pairs và Minor Pairs.

          c.1/ Về Major Pairs. Gần 90% tất cả các loại tiền tệ đều được giao dịch dựa trên đồng đô Mỹ. Sau đồng đô Mỹ, 4 ngoại tệ được giao dịch nhiều nhất về giá trị và khối lượng lớn là EURO(EUR), bảng Anh (GBP), France Thuỵ Sĩ (CHF), và đồng yên Nhật ( JPY). Khi những ngoại tệ này được trực tiếp giao dịch dựa trên đồng đô Mỹ chúng chiếm một phần rất lớn tất cả các giao dịch trên thị trường FX (Forex) và vì vậy mà được gọi là Major Pairs hay đơn giản chỉ là “The Majors” ( Những ông lớn). Dứới đây là cách mà các cặp này được biểu thị:

Cặp tiền tệ

Ký hiệu

Tên gọi

EURO – Đô Mỹ

EUR/ USD

EURO

Bảng Anh – Đô Mỹ

GBP/USD

Cable

Đô Mỹ – France Thụy Sĩ

USD/CHF

Swissy

Đô Mỹ – Yên Nhật

USD/JPY

Dolaar Yên

          c.2/ Về The Minors và Cross Pairs:

          Mặc dù được gọi là “ The Minors”, Đô Canada (CAD) Đô Úc ( AUD) và đô Niu Di Lân (NZD) cũng là những ngoại tệ rất đặc biệt và ko nên bỏ qua tí nào. Khi giao dịch với đồng đô Mỹ, các ngoại tệ này được biểu thị như sau:

Cặp tiền tệ

Ký hiệu

Tên gọi

Đô Mỹ – Đô Canada

USD/CAD

Dollar Canada

Đô Úc – Đô Mỹ

AUD/USD

Aussie

Đô Niu Di Lân – Đô Mỹ

NZD/USD

Kiwi

          Một cặp cross pair được gọi tắt là cross là một cặp ngoại tệ mà ko có sự tham gia của đồng đô Mỹ. Ví dụ : Đô Canada giao dịch dựa trên France Thuỵ Sĩ, Đô Úc dựa trên Yên Nhật ….
Các cặp này thông dụng nhất là:

Cặp tiền tệ

Ký hiệu

Tên gọi

EURO – France Thụy Sĩ

EUR/CHF

Swiss

EURO – Yên Nhật

EUR/JPY

EURO Yên

EURO – Bảng Anh

EUR/GBP

EURO Sterling

EURO – Đô Úc

EUR/AUD

Aussie

Bảng Anh – Yên Nhật

GBP/JPY

Sterling Yên

Bảng Anh – France Thụy Sĩ

GBP/CHF

Sterling swiss

Bảng Anh – Đô Úc

GBP/AUD

Sterling Aussie

Đô Canada – Yên Nhật

CAD/JPY

Canadian Yên

          I.4/ Đối tượng carry trade

a/ Nhà đầu tư cá nhân.

b/ Giới đầu tư chuyên nghiệp.

          Điều khác biệt thứ nhất giữa những nhà đầu tư cá nhân và giới chuyên nghiệp là những nhà đầu tư cá nhân thường thì sự hiểu biết, kinh nghiệm …không bằng giới đầu tư chuyên nghiệp.

          Điều khác biệt thứ hai giữa những nhà đầu tư cá nhân và giới chuyên nghiệp là giới chuyên nghiệp thì đi vay thêm tiền để đầu tư, còn các cá nhân thì thường dùng tiền vốn nhà. Các quỹ đầu tư khi mua cổ phần hay trái phiếu họ cũng đi vay, vay càng nhiều càng tốt, để dùng “đòn bẩy” của việc vay nợ, sinh lời gấp bội. Nhưng nếu gặp lúc thị trường xuống nhanh thì họ lại là đối tượng gặp nguy trước tiên; trước hết là bị các ngân hàng đòi góp thêm tiền bảo đảm cho việc vay nợ.  Vì vậy, khi các cổ phần và trái phiếu xuống giá, rất nhiều quỹ đầu tư chuyên nghiệp phải lo rút ra khỏi thị trường, bán vội các chứng khoán để lấy tiền trả nợ. Còn các cá nhân thì không phải rút vội vốn về.

  1. II.     Cách thức thực hiện carry trade

II.1/ Carry trade hoạt động như thế nào trong thị trường hối đoái?

Các loại tiền tệ được trao đổi theo các cặp trong thị trường hối đoái.

          Ví dụ : Khi bạn mua cặp USD/CHF, nghĩa là bạn cùng lúc mua USD và bán CHF. Tương tự như vậy, bạn trả lãi suất cho đồng tiền bạn bán và thu lãi suất từ đồng tiền bạn mua.

          Điều khiến carry trade đặc biệt trong thị trường tỷ giá là quá trình trả tiền lời diễn ra mỗi ngày giao dịch tùy theo giao dịch của bạn.

          Các nhà môi giới (broker) đóng và mở các giao dịch, sau đó họ ghi nợ theo chênh lệch lãi suất qua đêm giữa 2 đồng tiền.

          Vấn đề chính mà carry trade tập trung là sẽ đạt được những kỳ vọng về việc chỉ đạo của một quốc gia về lãi suất ngân hàng, nhằm đảm bảo các tỷ lệ lợi nhuận cao.

          Khi chọn cặp tiền tệ để carry trade, trader quan sát hai yếu tố: Một mặt, trader muốn chắc chắn rằng anh ta mua các loại tiền tệ có lãi suất cao hơn và bán được các loại tiền tệ có lãi suất thấp hơn. Mặt khác, các trader cũng muốn xem xét tình hình sức khỏe nền kinh tế của cặp tiền tệ mình chọn để đảm bảo thị trường sẽ  đem đến những tín hiệu tốt

          Về cơ bản, các trader sẽ chọn mua một loại tiền tệ của quốc gia có nền kinh tế mạnh và bán các loại tiền tệ của một nền kinh tế yếu.

          Một số loại tiền tệ thường được lựa chọn để áp dụng thực hiện carry trade là: GBP / JPY, GBP / CHF, AUD / JPY, EUR / JPY, CAD / JPY, và USD / JPY.

II.2/ Sử dụng đòn bẩy trong hoạt động carry trade (leverage)

     Những người đã quen với thị trường chứng khoán chắc hẳn sẽ biết là broker chứng khoán của bạn đòi hỏi bạn phải có quỹ trong tài khoản tương đương với toàn bộ giá của giao dịch mà bạn muốn thược hiện hay là cổ phiếu mà bạn muốn mua. Nếu bạn có Margin account, bạn sẽ phải có ít nhất là một nửa số tiền đó. Trong trường hợp này “margin” hay “leverage” mà broker của bạn cho phép bạn là 2:1. Ví dụ bạn có thể điều chỉnh 2.000$ giá trị cổ phiếu với mỗi 1.000$ bạn có trong tài khoản, bằng cách vay số còn lại từ broker.

          Ngược lại, trong thị trường forex, bạn chỉ cần 1 số margin rất nhỏ để thực hiện 1 giao dịch. Tuỳ vào broker, phần % này có thể thấp cỡ 1%, với một vài loại tài khoản thậm chí chỉ có 0.5%. Hầu hết các broker forex đều cho bạn 1 mức margin hay leverage là 100:1, nghĩa là bạn có thể điều khiển 1 cách hiệu quả 100.000 đơn vị tiền tệ với 1.000$ bạn có trong tài khoản

          Tỉ phần 100 đối với 1 là mức tối đa được cung cấp trên tài khoản mở đầu cụ thể này, và là mức độ mà nếu bạn rơi xuống dưới những vị trí mở trên tài khoản của mình, mức này sẽ bị đóng lại.

          Nói chung, hầu hết những nhà giao dịch sử dụng một tỉ phần tối đa vào bất kì thời điểm nào là 5:1 và nhiều người xem đây là một tỉ lệ bẩy cao.

          Lượng tỉ phần đòn bẩy được sử dụng thật sự phụ thuộc vào phương thức giao dịch cũng giống như là những người giao dịch nói chung, những người trụ lại những vị trí trong những khoản thời gian ngắn và cắt giảm thua lỗ nhanh chóng, có thể sử dụng thành công một lượng tỉ phần đòn bẩy cao hơn những người giao dịch dài hạn.

          Mức độ đòn cân được sử dụng phụ thuộc vào nhà môi giới và khả năng của bạn.

          Tuy nhiên, leverage là một con dao hai lưỡi. Một mặt nó đem đến khoản lãi lớn; mặt khác, nếu ko có kế hoạch điều chỉnh mạo hiểm một cách đúng đắn thì mức leverage như vậy có thể dẫn đến những khoản lỗ nặng nề.

Ví dụ 1:

Một nhà đầu tư có $10.000

Có thể lựa chọn đầu tư như sau:

–            Gửi toàn bộ vào ngân hàng với lãi suất 1%/năm à sau 1 năm thu được tiền lãi là $100

–            Đầu tư vào thị trường hối đoái, trước tiên ta lập một tài khoản thực và gửi $10.000 vào đó, sau đó  tìm một cặp tỷ giá có chênh lệch lãi suất cao, chẳng hạn là 5%/năm. Mua $100.000 giá trị của cặp tỷ giá. Khi đó nhà môi giới sẽ yêu cầu kí quỹ một % nào đó, chẳng hạn 10% giao dịch, họ giữ $10.000.

Vậy hiện tại nhà đầu tư nắm giữ cặp tiền tệ có giá trị $100.000 với lãi suất 5%/năm.

Nếu nhà đầu tư trên không làm gì với tài khoản này trong vòng một năm? Có ba khả năng :

       Giao dịch mất giá trị. Cặp tỷ giá mà ta mua mất giá trị mạnh. Nếu như thua lỗ làm tài khoản giảm xuống mức kí quỹ, giao dịch bị đóng và tài khoản chỉ còn đúng khoản kí quỹ $10.000.

       Cặp tỷ giá này kết thúc với lãi suất không đổi vào cuối năm. Trong trường hợp này, ông ta không thu được hay mất đi bất cứ giá trị nào của giao dịch, nhưng thu được lãi suất 5% từ $100.000. Tức là chỉ tính riêng tiền lãi ta thu được $5.000 từ $10.000 ban đầu.

       Giao dịch tăng giá trị. Cặp tỷ giá mà ta chọn liên tục tăng. Do đó,ta sẽ không những kiếm được $5000 từ lợi tức, mà còn có thể có thêm các khoản lời khác.

Do có mức đòn bẩy 10:1, ta có khả năng kiếm được khoản lãi suất 5%/năm từ số tiền $10,000 ban đầu.

Ví dụ 2:

Bạn bắt đầu giao dịch với 100.000USD

Nếu nhà đầu tư A mở một giao dịch đồng USD/Yên, thì nhà đầu tư B giao dịch 100.000USD tương đương với một lượng đồng Yên tương ứng. Vì thế, nếu nhà đầu tư A có 100.000 USD trong tài khoản và anh ta đang giao dịch 100.000USD so với đồng Yên, thì khi đó anh ta không phải dùng khoản tiền đòn bẩy vì số dư tài khoản tiền mặt trong tài khoản của anh ta bằng với lượng tiền mà nhà đầu tư B đang giao dịch.

Với ví dụ này, một sự dịch chuyển 1% trong cặp tiền tệ sẽ thể hiện lợi nhuận hay thua lỗ giá trị 1% trong tài khoản. Cột biên tài khoản được sử dụng trong ví dụ này sẽ thể hiện 1.000USD và biên có thể sử dụng được thể hiện 99.000USD.

Nếu nhà đầu tư A mở 2 giao dịch USD/Yên, thì khi đó anh ta đang giao dịch 200.000$ tương đương với lượng đồng Yên tương ứng. Vì anh ta có 100.000$ trong tài khoản và 200.000$ ở những vị trí mở, nên anh ta phải dùng khoản tiền vay ở mức tỉ lệ 2:1 vì lượng tiền mà nhà đầu tư B giao dịch gấp 2 lần giá trị tiền mặt trong tài khoản.

Với ví dụ này, một sự dịch chuyển 1% trong cặp đồng tiền USD/Yên sẽ thể hiện lợi nhuận hay thua lỗ trong giá trị tài khoản 2%, vì thế khuyếch đại lợi nhuận hay thua lỗ tiềm năng trong giao dịch này lên 2 lần. Trong ví dụ này, cột biên được sử dụng trong tài khoản sẽ thể hiện 2000USD và biên có thể sử dụng được thể hiện 98.000USD.

Nếu nhà đầu tư A mở 5 giao dịch USD/Yên, thì khi đó anh ta đang giao dịch 500.000 $  tương đương với một lượng tiền Yên tương ứng. Vì anh ta có 100.000$ trong tài khoản và 500.000 $ trong những vị trí mở, nên anh ta sử dụng tỉ phần 5:1.

Với ví dụ này, một sự dịch chuyển 1% trong cặp tiền tệ USD/Yên sẽ thể hiện lợi nhuận hay thua lỗ trong giá trị tài khoản 5%, vì thế làm tăng lợi nhuận hay thua lỗ lên 5 lần.

F Tóm lại :

          Phương pháp đòn bẩy từ các nhà môi giới đã giúp các hoạt động carry trade trở nên phổ biến trong thị trường hối đoái. Giao dịch hối đoái hoàn toàn dựa trên ký quỹ, nghĩa là bạn chỉ cần phải tạo ra lượng giao dịch nhỏ, sau đó nhà môi giới sẽ tạo ra phần còn lại.


II.3/ Hoạt động carry trade có hiệu quả khi nào ?

Để carry trade thành công thì giá trị của cặp đồng tiền được đầu tư không được thay đổi hoặc là chúng phải tăng giá. Hoạt động carry trade hiệu quả khi :

Ngân hàng Trung ương tăng tỷ lệ lãi suất:

Carry trade có hiệu quả khi các Ngân hàng Trung ương tăng hoặc có kế hoạch tăng các tỷ lệ lãi suất.

Việc đầu tư hiện nay diễn ra vô cùng nhanh gọn nhờ được hỗ trợ rất lớn bởi máy vi tính, các nhà đầu tư lớn cũng không ngại ngần chuyển tiền từ nước này sang nước khác nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Tính hấp dẫn của carry trade không dừng lại ở lợi nhuận, mà còn ở khả năng làm tăng vốn đầu tư. Khi một ngân hàng trung ương chuẩn bị tăng các tỷ lệ lãi suất thì cả thế giới đều biết đến, và điển hình là có rất nhiều người dồn hàng đống tiền vào cùng một carry trade, đẩy giá trị của cặp đồng tiền lên cao hơn trong quá trình kinh doanh.

Môi trường đầu tư ổn định :

Cái mà carry trade tìm kiếm là lợi nhuận – vốn đầu tư gia tăng chỉ được xem như một dạng tiền thưởng. Miễn là đồng tiền đầu tư không rớt giá thì các nhà kinh doanh carry trade thế nào cũng thu được lợi trong thời gian chờ đợi. Các nhà kinh doanh cũng như các nhà đầu tư đều cảm thấy thoải mái hơn khi chấp nhận rủi ro trong những thị trường ít bất ổn.

Nhà đầu tư sợ nhất là sự bất ổn về tỷ giá, vì vậy sự ổn định trong giá trị đồng tiền là một nhân tố khá quan trọng mà nhà đầu tư nhắm đến khi lựa chọn cặp đồng tiền carry trade.

Để carry trade hiệu quả, cách tốt nhất là qua rổ tiền tệ. Với một rổ chứa ba đồng tiền có lãi suất cao nhất và ba đồng tiền có lãi suất thấp nhất, một cặp tiền bất kỳ chỉ đại diện cho một mục trong trong danh mục vốn đầu tư; vì vậy, ngay cả khi phải thanh toán carry trade của một cặp đồng tiền thì số tiền thua lỗ vẫn được kiểm soát bằng cách giữ một rổ. Đây thực sự là cách được ưa thích trong carry trade đối với giới các ngân hàng đầu tư và quỹ đầu tư thanh khoản linh hoạt. Chiến lược này đòi hỏi các cá thể phải khéo léo vì giao dịch cả một rổ tự nhiên phải đòi hỏi nhiều vốn hơn, nhưng cũng có thể thành công với những quy mô nhỏ hơn. Điều chủ chốt đối với một rổ là phải thay đổi cách phân phối danh mục vốn đầu tư một cách năng động dựa trên đường cong tỷ lệ lãi suất và các chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương.

Nói một cách ngắn gọn, carry trade qua 1 rổ tiền tệ  là lấy lời từ cặp tiền tệ này bù lỗ cho cặp tiền tệ khác.

II.4/ Khi nào carry trade thất bại ?

 

Ngược lại tương đối với các nhân tố giúp carry trade hiệu quả, ta có các nhân tố sau :

Ngân hàng Trung ương giảm các tỷ lệ lãi suất

Khả năng sinh lợi của các carry trade giảm khi các quốc gia đưa ra các tỷ lệ lãi suất cao lại cắt giảm chúng. Khi các tỷ lệ lãi suất giảm xuống, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ ít mua cặp đồng tiền này và có thể tìm kiếm cơ hội sinh lợi ở nơi khác. Khi điều này xảy ra, nhu cầu đối với cặp đồng tiền giảm và chúng bắt đầu bị bán hạ giá. Việc giảm giá của cặp đồng tiền có thể cuốn trôi toàn bộ số lãi thu được một cách dễ dàng.

Can thiệp của Ngân hàng Trung ương đối với tiền tệ

Carry trade cũng có thể thất bại nêu một ngân hàng trung ương can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm dừng sự tăng giá hay ngăn chặn sự rớt giá của đồng tiền nước đó.

Ví dụ về đồng Yên Nhật, đồng tiền góp quỹ được ưu thích : Bởi vì nhiều công ty nước ngoài đã lớn tiếng phàn nàn rằng đồng Yên quá yếu đang khiến cho hàng hóa của các nước khác kém cạnh tranh hơn hàng Nhật  trên thị trường thế giới. Các công ty này đã yêu cầu các chính trị gia nước họ gây áp lực lên người Nhật để làm tăng các tỷ lệ lãi suất hoặc để can thiệp vào đồng tiền này nhằm tránh cho đồng tiền này khỏi bị rớt giá ngày một thê thảm hơn. Một trong những thủ thuật này sẽ làm cho đồng Yên mạnh hơn (tỷ giá hối đoái trong carry trade tăng lên) làm cho lợi nhuận của hoạt động carry trade giảm xuống.

Xét trên thực tế:

Khi vay nợ và cho vay theo lối carry trade thì mối rủi ro cũng lớn, vì nếu đồng Yên của Nhật Bản lên giá so với đô la Mỹ, hối suất lên nhiều quá thì mức lời do carry trade mang lại không đủ bù vào chi phí. Thí dụ, nếu tính carry trade sẽ sinh lời 3%/năm, mà đồng Yên cũng lên giá 3% so với đô la Mỹ, thì hoà vốn, tức là chỉ thiệt chứ không lợi. Khi đó, những người làm carry trade sẽ “đòi nợ” ở bên Mỹ, lấy tiền đem về Nhật Bản trả nợ.

Trong tháng 3-2007, hiện tượng này đã diễn ra, khi các thị trường từ Thượng Hải qua Mỹ đều tụt xuống, trong lúc đó đồng Yên lên giá so với mỹ kim. Nhiều người đã bán các giấy nợ ở Mỹ, qua Nhật mua lại các giấy nợ mình đã ký. Khi làm công việc đó, họ cũng phải đổi đô la lấy Yên, tạo thêm áp lực cho đồng Yên lên giá thêm, thúc đẩy những người khác làm theo.

II.5/ So sánh hoạt động carry trade với Arbitrage và CIA

 

a/ So sánh hoạt đông carrytrade và hoạt đông arbritrage:

 

Giống nhau:

Cả 2 hoạt động đều được thực hiện trên thị trường ngoai hối, đều dựa trên sự chênh lệch giữa các đồng tiền.

Đều được thực hiện trong ngắn hạn.

Đều thu được lợi nhuân cao đi kèm với rủi ro cao.

Khác nhau :

Carry trade là sự đầu cơ dựa trên kinh doanh chênh lệch lãi suất.

Arbritrage là sự đầu cơ dựa trên kinh doanh chênh lệch tỷ giá.

b/ So sánh carry Trade với kinh doanh chênh lệch lãi suất có phòng ngừa (CIA)

Giống nhau

Cả 2 hoạt động đều được thực hiện trên thị trường ngoai hối, đều dựa trên sự chênh lệch lãi suất giữa các đồng tiền.

Đều được thực hiện trong ngắn hạn.

Đều thu được lợi nhuân cao.

Khác nhau :

Carry trade là đầu cơ dựa trên kinh doanh chênh lệch lãi suất.

CIA là đầu cơ dựa trên kinh doanh chênh lệch lãi suất có phòng ngừa nên rủi ro thấp hơn so với carry trade.

Ví dụ : Giả sử :

(1) Lãi suất ở  Mỹ  ih = 10%/ 6 tháng, bạn đang đứng trên góc độ nhà đầu tư Mỹ

(2) Lãi suất ở Anh là if = 12%/ 6 tháng.

Chúng ta có thể thấy rằng lãi suất ở Anh cao hơn lãi suất Mỹ (12%>10%). Điều này tạo ra xu hướng cho các nhà đầu tư ở Mỹ rót vốn sang đầu tư ở Anh. Nhưng trên thực tế động thái này của nhà đầu tư chưa chắc mang lại một tỷ suất sinh lợi cao hơn so với đầu tư tại Mỹ vì họ còn phải gánh chịu rủi ro về tỷ giá hối đoái. Để giảm thiểu rủi ro này các nhà đầu tư thực hiện một hợp đồng bán kỳ hạn đồng bảng Anh vào 6 tháng sau.

Cụ thể :

Hiện nay bạn có 1.000.000USD (Nhà đầu tư)

Tỷ giá giao ngay lúc này là S0=$2/ £

Tỷ giá kỳ hạn 6 tháng là F6tháng = $2/£

Trước tiên để đầu tư sang Anh, bạn sẽ tiến hành chuyển đôla sang bảng Anh với tỷ giá giao ngay là $2/ £  Bạn sẽ nhận được một số tiền là 500.000 £, đồng thời, Bạn kí hợp đồng kỳ hạn 6 tháng để bán đồng bảng Anh. Sau 6 tháng đầu tư tại Anh, Bạn  nhận được 560.000 £  [(500.000 £(1 x 12%)], Bạn sẽ thực hiện hợp đồng kỳ hạn 6 tháng mà Bạn đã ký trước đó với tỷ giá kỳ hạn là $2/£, Bạn thu được 1.120.000 $ (560.000£ x $2/£ ).

Như vậy tỷ suất sinh lợi trong trường hợp này là:

Nhưng trong thực tế thì điều này thật sự không dễ dàng vì sự may mắn này chỉ xảy ra khi những nhà đầu tư nhạy bén phát hiện ra sự chênh lệch này và tiến hành thực hiện arbitrage (Kinh doanh chênh lệch lãi suất)  ngay lập tức, còn những nhà đầu tư chậm hơn sẽ không kiếm được lời do những hành động tương tự của họ làm cho tỷ giá và lãi suất thay đổi theo chiều hướng bất lợi.

Hành động của nhà đầu tư Mỹ ảnh hưởng đến kết quả đầu tư:

Ba hành động trên đã làm cho tỉ giá hối đối kì hạn 6 tháng sau ( hợp đồng bán bảng Anh kỳ hạn 6 tháng) giảm gần như bằng phần chênh lệch của lãi suất đầu tư giữa 2 quốc gia ( F’6tháng < F 6tháng) và khi đó các nhà đầu tư sẽ không thực hiện hành động đổi nội tệ ra ngoại tệ để đầu tư tại Anh và kí hợp đồng bán kì hạn nữa, do họ sẽ không có ích lợi gì hơn từ việc đầu tư này so với việc đầu tư tại Mỹ.

  1. III.  Đánh giá _ Thực trạng và xu hướng

III.1/ Lịch sử và nguyên nhân ra đời hoạt động carry trade – chính sách lãi suất đặc biệt của Nhật.

Đầu những năm 80, tỉ lệ lãi suất cao ở Mỹ tạo nên bởi những chính sách kinh tế của tổng thống Reagan đã thu hút vốn từ Nhật Bản và nhiều nước khác. Trong 4 năm, từ 1981 đến 1984, bất kỳ ai đổi lấy đồng dollar để lấy chênh lệch lãi suất đều được xem như  là một “người trục lợi”. Họ không chỉ kiếm được một khoản chêch lệch lãi suất chắc chắn, mà trên tất cả, đồng dollar đã được đánh giá cao lên qua mỗi năm. Đây chính là những dấu hiệu của carry trade.

       Hoạt động Carry Trade gắn liền với rất nhiều đồng tiền của các quốc gia trên thế giới. Trong đó đông Yên Nhật (JPY) được gọi là “ đồng tiền cơ sở” của hoạt động carry trade. Chúng em xin được điểm qua tình hình kinh tế của Nhật trong những năm 90. Vì đây chính là nguyên nhân tạo nên làn sóng carry trade mạnh mẽ.

– Thời kỳ bong bóng kinh tế (1985-1992)

Từ tháng 12 năm 1986 đến tháng 2 năm 1991( thời kỳ bong bóng kinh tế). Kinh tế Nhật Bản thời kỳ này có những đặc điểm như đồng Yên cao giá so với  USD, tốc độ tăng trưởng GDP thực tế cao, tỷ lệ lạm phát cao, tỷ lệ thất nghiệp thấp, giá tài sản (cả bất động sản lẫn tài sản tài chính) cao, tiêu dùng mạnh.

Có nhiều nguyên nhân khiến bong bóng kinh tế hình thành. Nguyên nhân đầu tiên là việc Yên lên giá sau thỏa ướcPlaza (năm 1985) gây khó khăn cho các nhà xuất khẩu của Nhật Bản và đe dọa tăng trưởng kinh tế của nước này. Ngân hàng Trung ương Nhật đã phải thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng (hạ lãi suất) để đối phó với điều đó, nên tính thanh khoản cao quá mức hình thành. Kết quả là kinh tế tăng trưởng mạnh và đầu cơ tài sản bắt đầu làm tăng giá tài sản. Mặt khác, các nhà đầu tư bắt đầu thay đổi danh mục đầu tư của mình khi  tỷ giá Yên/Dollar thay đổi và nhất là sau sự kiện “ngày thứ hai đen tối”trên thị trường chứng khoán Mỹ. Họ giảm đầu tư vào tài sản của Mỹ và tăng đầu tư vào các tài sản của Nhật Bản. Giá tài sản trong đó có giá cổ phiếu và trái phiếu công ty tăng kích thích xí nghiệp đầu tư. Lạm phát tăng tốc kích thích tiêu dùng. Bong bóng kinh tế nói chung và bong bóng giá tài sản chỉ được nhận ra sau khi chúng bắt đầu vỡ vào đầu thập niên 90 (1991-1992).

Đồng Yên tăng giá đã kích thích các xí nghiệp của Nhật Bản đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Nó cùng với việc người Nhật trở nên giàu hơn đã kích thích họ mua các tài sản của nước ngoài (chẳng hạn như mua xưởng phim của Mỹ, mua các tác phẩm hội họa nổi tiếng) và đi du lịch nước ngoài.

Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác của Nhật Bản sau một thời gian dài đầu tư vào các xí nghiệp trong khu vực chế tạo thì đến thời kỳ này bắt đầu đầu tư vào các tài sản tài chính. Họ cũng tích cực cho vay đối với các dự án phát triển bất động sản. Họ còn sẵn sàng chấp nhận các tài sản tài chính và bất động sản làm thế chấp khi cho các xí nghiệp và cá nhân vay. Đây chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến các tổ chức tín dụng của Nhật Bản sau này mắc phải tình trạng nợ khó đòi khi bong bóng kinh tế và bong bóng giá tài sản vỡ.

Năm 1989, Nhật Bản nâng thuế suất thuế tiêu dùng. Cùng năm Iraq xâm lược Kuwait dẫn đến chiến tranh vùng Vịnh, khiến giá dầu lửa tăng vọt. Tháng 10 năm 1990, Ngân hàng Nhật Bản thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt. Bong bóng kinh tế vỡ vào năm 1991 và bong bóng giá tài sản vỡ vào năm 1992.

– Thời kì trì trệ kinh tế kéo dài

Sau khi bong bóng kinh tế vỡ đầu thập niên 1990, kinh tế Nhật Bản chuyển sang thời kỳ trì trệ kéo dài. Trong giữa những năm thập niên 1990 có vài dấu hiệu của thị trường lên lại với hy vọng kinh tế sẽ phục hồi, tuy nhiên nền kinh tế Nhật tiếp tục trở nên tồi tệ hơn. Chỉ số thị trường chứng khoán Nikkei bị tuột dốc từ cao điểm của 40.000 điểm vào cuối năm 1989 xuống còn dưới mức 12.000 vào tháng 3 năm 2001.

Giá trị bất động sản cũng lao xuống vực mất giá trị khoảng 80% từ 1991 đến 1998 trong suốt giai đoạn kinh tế suy thoái. Giá trị của tổng sản lượng quốc gia (GDP) trong suốt thời kỳ kinh tế đình trệ từ năm 1990 chỉ tăng từ 428.826 tỷ Yên đến 469.480 tỷ Yên vào cuối năm 2000.

Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế bình quân hàng năm của giai đoạn 1991-2000 chỉ là 0,5% – thấp hơn rất nhiều so với các thời kỳ trước. Người ta gọi thời kì trì trệ của nền kinh tế Nhật bản là thập kỷ mất mát.

– Chính sách lãi suất đặc biệt của Nhật

 Trong những năm trở lại đây, không thị trường nào có hoạt động Carry Trade sôi động hơn thị trường Nhật vì chính sách lãi suất gần 0 và đồng Yên thường xuyên ở trạng thái yếu trong suốt 2 thập niên suy thoái. Ngân hàng TW Nhật đã tăng lãi suất 2 lần từ năm 1999 đến tháng 7/2006 và mức tối đa chỉ là 0.5%.

Giai đoạn 1991-2001 là giai đoạn kinh tế trì trệ kéo dài. Năm 2001 cũng là thời điểm đánh dấu chính phủ Nhật bắt đầu thực hiện chính sách lãi suất đặc biệt xấp xĩ 0% nhằm giải quyết khủng hoảng kinh tế và giảm phát kéo dài ở nước này. Cải cách hành chính của Nhật được thực hiện từ tháng 2 năm 2001, tạo điều kiện cho hoạt động Carry Trade bùng nổ mạnh mẽ trên thế giới trong một thời gian dài.

 Hình1: Lãi suất của Nhật Bản từ 1991 đến cuối 2008

Từ những năm 2001 trở về sau này thì cứ nhắc đến Carry Trade đồng nghĩa với “Yên Carry Trade”, tức là quá trình vay đồng Yên và đem đầu tư vào một tài sản có lãi suât cao hơn. Đồng Yên trở thành đồng tiền được ưa thích cho hoạt động Carry Trade vì lãi suất của nó thấp nhất trong số lãi suất các đồng tiền của các nước công nghiệp phát triển trên thế giới. Có rất nhiều đồng tiền được chọn tham gia vào hoạt động kinh doanh dựa trên chênh lệch lãi suất đồng Yên, trong đó một số cặp tỷ giá được sư dụng nhiều nhất là NZD/JPY, USD/JPY, EUR/JPY, AUD/JPY, GBP/JPY….

Đến đầu 2007, ước tính khoảng 1 ngàn tỷ USD được đầu tư vào hoạt động Carry Trade đồng Yên.

      III.2/ Một số hoạt động carry trade điển hình.

a) AUD/JPY – NZD/JPY

      Qua so sánh lãi suất của một số đồng tiền mạnh trên thế giới trong năm 2008, dễ dàng nhận thấy chênh lệch lãi suất lớn giữa JPY với AUD (Dollar Australia) và NZD (Dollar New Zealand). Cặp tỷ giá AUD/JPY và NZD/JPY cũng là các cặp tỷ giá phổ biến cho nghiệp vụ carry trade trên thế giới.

 

Nguồn: NHTW các nước

Như đã đề cập ở trên, tỷ giá chuyển đổi giữa hai đồng tiền là điều mà các nhà đầu tư nghiệp vụ này hết sức quan tâm. Trong khoảng 9 tháng đầu năm 2008, hai cặp tỷ giá không biến động nhiều là điều kiện thuận lợi cho xu hướng carry trade.

 

Nguồn: Global View, EODData

Từ tháng 9 trở đi, thế giới đã có những biến đổi mạnh mẽ. Đây là giai đoạn cao điểm của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, bắt nguồn từ Mỹ. Khủng hoảng lan rộng từ lĩnh vực tài chính sang tiêu dùng và sản xuất khiến việc đầu tư vào các nền kinh tế đều trở nên rủi ro. Australia và New Zealand cũng không nằm ngoài vòng xoáy. Trước tình hình này, nhà đầu tư Nhật vội vã “rời bỏ” hoạt động carry trade và rút tiền về nước. JPY tăng giá so với hầu hết các đồng tiền lớn khác.

Biểu đồ bên cho thấy mức độ mất giá của AUD, NZD và USD so với JPY. AUD và NZD sụt giá đến 40% so với JPY chỉ trong 4 tháng (tháng 8 đến tháng 12). Ngay cả USD cũng bị sụt giá hơn 20%.

 

Nguồn: Global View, EODData

Khi thị trường tài chính thế giới đang trải qua “sóng gió”, tính “ngại” rủi ro trong đầu tư gia tăng, các tổ chức đồng loạt thu hẹp lại các hoạt động đầu tư. Do tính liên kết và thâm nhập sâu rộng của JPY vào các kênh đầu tư quốc tế, sự kiện này đã gây xáo trộn toàn bộ hệ thống tài chính thế giới.

Dòng tiền đầu tư không những ngừng đổ vào các “địa chỉ quen thuộc” mà còn chảy ngược lại, ảnh hưởng đến hệ thống tài chính toàn cầu. JPY tăng giá trong khi kinh tế Nhật đang rơi vào khủng hoảng, điều này gây ra không ít lo ngại cho Chính phủ nước này.

Xuất khẩu, một lĩnh vực quan trọng của Nhật Bản chịu ảnh hưởng nặng nề từ việc thu hẹp các thị trường, nay lại càng khó khăn hơn vì hàng hóa Nhật càng trở nên đắt đỏ (do JPY tăng giá so với các đồng tiền khác).

Nhật Bản, nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới càng trở nên điêu đứng, góp thêm sự “sợ hãi” vào cuộc khủng hoảng.

b) USD/JPY

      Kinh doanh chênh lệch lãi suất dựa trên đồng USD và JPY được khai thác trong nhiều giai đoạn,đầu tiên là 1998 và sau đó là suốt thời gian Nhật áp dụng chính sách lãi suất đặc biệt 0%. Trong suốt thời gian từ 2001 đến nửa 2003 lãi suất USD liên tục giảm từ khoảng 6.8% xuống còn khoảng 1%, mức lãi suất này được duy trì đến khoảng giữa năm 2004 và sau đó lãi suất theo đà tăng liên tục.

      Ví dụ về cặp tỉ giá USD/JPY, giữa năm 2005 và 2006, Fed liên tục tăng lãi suất mạnh mẽ từ mức 2.25% trong tháng 1 lên 4.25%, một mức tăng đáng kể với 200 điểm cơ bản. Cùng thời gian đó, ngân hàng TW Nhật đã duy trì mức lãi suất 0%. Do đó, chênh lệch lãi suất tăng từ 2.25% lên 4.25%. Trường hợp này được gọi là chênh lệch lãi suất đang mở rộng. Đặc biệt với sự góp phần của đòn bẩy tài chính thì hoạt động Carry Trade càng diễn ra mạnh mẽ.

Các tài sản tài chính được sử dụng như là một công cụ kinh doanh phổ biến và phát triển ngày càng nhanh chóng,  tỉ lệ tài sản tài chính trên tổng sản lượng của nền kinh tế đã tăng lên gấp 3 từ 110% trong năm 1980 lên 316% năm 2005. Khối lượng các giao dịch tài chính tăng đáng kinh ngạc : giá trị ước đoán của các  giao dịch hoán đổi lãi suất, hoán đổi tiền tệ và quyền chọn lãi suất đạt đến 286 nghìn tỉ $ (gấp 6 lần tổng sản lượng của thế giới, và tăng 82 lần từ chỉ 3.5 nghìn tỉ $ năm 1990). Ngày nay dòng chu chuyển tiền tệ chủ yếu là do hoạt động đầu cơ hơn là do dòng chu chuyển của hàng hóa và dịch vụ.

Yên là một trong hai loại tiền tệ quốc gia duy nhất trong số 16 đồng tiền “năng động” của thế giới đã mất giá so với đôla Mĩ vào cuối 2006  khi chỉ số DowJone lên đến mức kỉ lục. Các bản hợp đồng tương lai ấn định khả năng 5% cho rằng trong giai đoạn này, Ngân hàng Nhật Bản sẽ tăng lãi suất lên.

Từ 2006-2007 là giai đoạn USD/JPY được khai thác Carry Trade mạnh nhất do có sự chêch lệch rất lớn giữa  lãi suất USD và JPY.

 Hình 6: So sánh lãi suất ở Mỹ và lãi suất ở Nhật

Các công ty của Mỹ bị ảnh hưởng rất lớn từ hiện tượng Carry Trade (đặc biệt là các công ty sản xuất ô tô). Mỹ và các nước G7 đã gây áp lực lên chính phủ Nhật, đòi chính phủ nước này phải có hành động để ngăn chặn sự phát triển quá mức của Carry Trade (đây là tác nhân quan trọng làm đồng JPY ngày càng mất giá). Bất chấp cảnh báo của G7 đối với các nhà đầu tư về rủi ro của Carry Trade một chiều, họ vẫn làm ngơ.

Thời gian gần đây khi nước Mỹ lâm vào khủng hoảng tài chính thì các nhà đầu cơ quay về với giá trị của đồng Yên. Ai cũng muốn giữ chặt túi tiền của mình trong giai đoạn khó khăn của kinh tế toàn cầu. JPY không còn là lựa chọn hàng đầu cho hoạt động Carry Trade nữa mặc dù lãi suất của Nhật vẫn còn thấp hơn so với nhiều nước trên thế giới.

 

 

 

Hình 11: Tình hình hoạt động carry trade GBP/JPY trong năm 2006

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Kho sách và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s