Phân tích sự cần thiết khách quan của việc sử dụng tổng hợp các phương pháp quản lý cơ bản


MỤC LỤC

A. PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………………2

B – PHẦN NỘI DUNG………………………………………………….4

            I. các phương pháp quản lý cơ bản …………………………………..4

                 * Các phương pháp hành chính ……………………………………4.

                 * Các phương pháp kinh tế………………………………………..6

                 * Phương pháp tâm lý –  giáo dục …………………………………9

                 *  Một số phương pháp khác………………….……………………11

            II. Sự vận dụng tổng hợp các phương pháp quản lý………………….12

III. Một số ý kiến nhận xét …………………………………….……15

C. KẾT LUẬN …………………………………………………………..17

D. TÀI LIỆU THAM KHẢO……………….…………………………18

  A . PHẦN MỞ ĐẦU

 

            Quản lý là một hoạt động ra đời từ rất sớm cùng với sự hình thành của quá trình  lao động mang tính tập thể. Có khá nhiều các quan điểm, cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “quản lý “, nhưng nếu hiểu môt cách đầy đủ và toàn diện thì quản lý là quá trình tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong điều kiện biến động của môI trường. Trên cơ sở đó phương pháp quản lý được hiểu là tổng thể những cách thức tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý .

Phương pháp quản lý cú vai trũ quan trọng trong hệ thống quản lý. Trong hoàn cảnh cụ thể, phương pháp quản lý có tác dụng quan trọng đến sự thành cụng hay thất bại của cỏc nhiệm vụ, mục tiờu quản lý. Quỏ trỡnh quản lý là quỏ trỡnh thực hiện cỏc chức năng quản lý theo đúng những nguyờn tắc, qui trỡnh đó quy định. Những nguyên tắc đó chỉ được vận dụng và được thể hiện thông qua các phương pháp nhất định. Vỡ vậy, vận dụng cỏc phương pháp quản lý là một nội dung cơ bản của hoạt động quản lý. Mục tiờu, nhiệm vụ quản lý được thực hiện thông qua tác động của các phương pháp quản lý. Vai trũ của phương pháp quản lý cũn ở chỗ nú nhằm khơi dậy những động lực, kích thích tính năng động, sáng tạo của người lao động và tiềm năng của hệ thống cũng như cơ hội có lợi ở bờn ngoài. Phương pháp quản lý là biểu hiện cụ thể của mối quan hệ qua lại giữa chủ thể với đối tượng và khách thể quản lý. Đó là mối quan hệ rất sinh động với tất cả sự phức tạp của đời sống giữa những con người cụ thể. Vỡ vậy cỏc phương pháp quản lý mang tính chất đa dạng và phong phú, nó là bộ phận năng động nhất của hệ thống quản lý. Phương pháp quản lý thường xuyên thay đổi trong từng tỡnh huống cụ thể tuỳ thuộc vào đặc điểm từng đối tượng, cũng như năng lực và  kinh nghiệm của người quản lý. Tác động của phương pháp quản lý luụn luụn là tỏc động có mục đích. Vỡ vậy, mục tiờu quản lý quyết định việc lựa chọn phương pháp quản lý. Trong quỏ trỡnh quản lý phải luụn luụn điều chỉnh các phương pháp quản lý, nhưng không được chủ quan tuỳ tiện muốn sử dụng phương pháp nào cũng được. Bởi vỡ, mỗi phương pháp quản lý khi sử dụng lại tạo ra một cơ chế tác động mang tính khách quan vốn có của nó. Bên cạnh các yếu tố tích cực, phù hợp với mục tiêu dự đoán của chủ thể, cũng có thể xuất hiện một số hiện tượng nằm ngoài dự đoán ban đầu , thậm chí trái ngược với mục tiêu đặt ra. Như vậy, sử dụng các phương pháp quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Tính khoa học đũi hỏi phải nắm vũng đối tượng với những đặc điểm vốn có của nó, để tác động trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan phù hợp với đối tượng đó. Tính nghệ thuật biểu hiện ở chỗ biết lựa chọn và kết hợp các phương pháp trong thực tiễn để sử dụng tốt tiềm năng doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu kinh doanh đề ra. Quản trị có hiệu quả nhất khi biết lựa chọn đúng đắn và kết hợp linh hoạt các phương pháp quản trị

 

 B. PHẦN NỘI DUNG

 

I. CÁC PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ CƠ BẢN .

 

* Các phương pháp hành chính .

    Các phương pháp hành chính là các phương pháp tác động dựa vào các mối quan hệ tổ chức của hệ thống quản lý và kỷ luật của doanh nghiệp.Bất kỳ hệ thống quản trị nào cũng hỡnh thành mối quan hệ tổ chức trong hệ thống. Về phương diện quản trị, nó biểu hiện thành mối quan hệ giữa quyền uỷ và phục tựng, như người xưa thường nói: quản lý con người có hai cách, dùng ân và dùng uy. Dùng ân thỡ vững bền nhưng khó khăn và phù phiếm, dùng uy thỡ nhanh chúng và mất tỡnh; cho nờn quản trị trước tiên phải dùng uy sau đó mới tính đến việc dùng ân.Các phương pháp hành chính trong quản trị khinh doanh chính là những cách tác động trực tiếp của chủ doanh nghiệp lên tập thể những người lao động dưới quyền bằng các quyết định dứt khoát, mang tính bắt buộc; đũi hỏi người lao động phải chấp hành nghiêm ngặt nếu vi phạm sẽ bị bị xử lý kịp thời, thích đáng. Vai trũ của cỏc phương pháp hành chính trong quản lý kinh doanh rất to lớn; nú xỏc lập chật tự kỷ cương làm việc trong doanh nghiệp; khâu nối các phương pháp quản trị khác lại; dấu được bí mật ý đũ kinh doanh và giải quyết các vấn đề đặt ra trong doanh nghiệp rất nhanh chóng.Các phương pháp hành chính tác động vào đối tượng quản lý theo hai hướng: tác động về mặt tổ chức và tác động điều chỉnh hành động của đối tượng quản lý.

– Theo hướng tác động về mặt tổ chức : Được thực hiện bằng cách quy cách hoá tổ chức, tiêu chuẩn hoá tổ chức và tiêu chuẩn hoá các chỉ tiêu .

Quy cách hoá tổ chức: Là thực hiện sự phân công, phân cấp rõ ràng trên cơ sở quyền và trách nhiệm của mỗi chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, từ đó tạo lập các quan hệ điều hành – chấp hành, quyền uy – phục tùng giữa các chủ thể quản lý và đối tượng quản lý cụ thể .

Tiêu chuẩn hoá tổ chức : là tiêu chuẩn hoá cán bộ, xác định rõ những yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ, khả năng tổ chức quản lý, đạo đức tác phong….của các nhà quản lý ở các chức danh quản lý khác nhau trong bộ máy quản lý của tổ chức để tạo ra chất lượng của các quan hệ trên – dưới, nâng cao tính hiệu lực trong quá trình hoạt động của bộ máy quản lý .

Tiêu chuẩn hoá các chỉ tiêu :là việc xây dựng các định mức kinh tế – kỹ thuật, xác định khối lượng công việc cần hoàn thành đối với từng bộ phận, từng cá nhân trong tổ chức trong những khoảng thời gian nhất định .

– Tác động điều chỉnh hành động của đối tượng quản lý : Chủ thể quản lý điều chỉnh trực tiếp hành động của đối tượng quản lý bằng cách sử dụng quyền lực của mình để đưa ra những quyết định, mệnh lệnh hành chính bắt buộc đồi tượng quản lý phải thực hiện những nhiệm vụ nhất định hoặc hành động theo những phương hướng nhất định nhằm tạo lập sự ăn khớp về hoạt động của tất cả các bộ phận, các cá nhân khác nhau trong tổ chức. Đồng thời kịp thời chấn chỉnh những sai lệch , lập lại sự cân đối…theo đúng định hướng phát triển trong ý đồ quản lý của chủ thể quản lý .

 Các phương pháp hành chính đũi hỏi chủ doanh nghiệp phải cú quyết định dứt khoát, rừ ràng, dễ hiểu, cú địa chỉ người thực hiện, loại trừ khả năng có sự giải thích khác nhau đối với nhiệm vụ được giaoTác động hành chính có hiệu lực ngay từ khi ban hành quyết định. Vỡ vậy, cỏc phương pháp hành chính hết sức cần thiết trong những trường hợp hệ thống quản lý bị rơi vào nhưỡng tỡnh huống khú khăn, phức tạp. Chỉ người có thẩm quyền ra quyết định mới có quyền thay đổi quyết định.Cần phân biệt các phương pháp hành chớnh với kiểu quản lý quan liờu do việc lạm dụng cỏc kỷ luật hành chớnh, sử dụng mệnh lệnh hành chớnh thiếu cơ sở khoa học, theo ý muốn chủ quan. Thường những mệnh lệnh kiểu đó gây ra nhiều tổn thất cho doanh nghiệp hạn chế sức sáng tạo của người lao động. Đó cũng là nhược điểm của phương pháp hành chính. Cán bộ quản lý và cỏc cơ quan quản lý nếu thiếu tỉnh tỏo; say sưa với mệnh lệnh hành chính thỡ dễ sa vào tỡnh trạng lạm dụng quyền hành; là mụi trường tốt cho bệnh chủ quan, duy ý chớ; bệnh hành chớnh quan liêu, tham nhũng.Sử dụng các phương pháp hành chính đũi hỏi cỏc cấp quản lý phải nắm vững những yờu cầu chặt chẽ sau đây :

– Một là, quyết định hành chính chỉ có hiệu quả cao khi quyết định đó có căn cứ khoa học, được luận chứng đầy đủ về mọi mặt. Khi đưa ra một quyết định hành chính phải cân nhắc, tính toán đến các lợi ích kinh tế. Tất nhiên, các quyết định hành chính tập trung thường được tính toán xuất phát từ việc kết hợp hợp lý cỏc loại lợi ớch. Người ra quyết định phải hiểu rừ tỡnh hỡnh thực tế, nắm vững tỡnh huống cụ thể. Cho nờn, khi đưa ra quyết định hành chính phải cố gắng có đủ những thông tin cần thiết cho việc ra quyết định trên cơ sở có bảo đảm về thông tin. Nên giao quyền ra quyết định cho cấp nào có đủ thông tin hơn cả. Tập hợp đủ thông tin, tính toán đầy đủ đến các lợi ích và các khía cạnh có liên quan là bảo đảm cho quyết định hành chính có căn cứ khoa họcNgười quản lý giỏi, có nhiều kinh nghiệm không chỉ ra quyết định khi có đủ thông tin mà cũn dự đoán được nét pháp triển chính, những mặt tích cực cũng như những khía cạnh tiêu cực có thể diễn ra khi quyết định được thi hành. Từ đó sẵn sàng bổ sung các biện pháp phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực nếu có.

    – Hai là, khi sử dụng các phương pháp hành chính phải gắn chặt quyền hạn của người ra quyết định. Mỗi bộ phận, mỗi cán bộ khi sử dụng quyền hạn của mỡnh phải cú trỏch nhiệm về việc sử dụng cỏc quyền hạn đó. Ở cấp càng cao, phạm vi tác động của quyết định càng rộng, nếu càng sai thỡ tổn thất càng lớn. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm đầy đủ về quyết định của mỡnh.

    Như vậy, phải bảo đảm gắn quyền hạn với trách nhiệm chống việc lạm dụng quyền hành nhưng không có trách nhiệm cũng như chống hiện tượng trốn tránh trách nhiệm, không chịu sử dụng những quyền hạn được phép sử dụng cũng phải chịu trỏch nhiệm.

    Tóm lại, các phương pháp hành chính là hoàn toàn cần thiết không có phương pháp hành chính thỡ khụng thể quản trị doanh nghiệp hiệu quả.

Vớ dụ : tại Việt Nam vào thập niên 2000, mục tiêu cần đạt được nêu ra là dõn giàu nước mạnh, xó hội cụng bằng, dõn chủ, văn minh.Tiếp cận dưới góc độ thực thi quyền lực nhà nước thỡ quản lý hành chớnh nhà nước là thực thi quyền hành pháp của nhà nước. Dưới góc độ hoạt động cụ thể thỡ quản lý hành chớnh là điều chỉnh hành vi con người, hành vi xó hội và tổ chức thực thi phỏp luật ban hành.Ngoài ra quản lý hành chớnh ở trong chớnh phủ, quản lý hành chớnh cũn được xem xét trong mối quan hệ ngoài nhà nước, cũn gọi là hnàh chính tư .

* Các phương pháp kinh tế .

     Các phương pháp kinh tế tác động vào đối tượng quản lý thụng qua cỏc lợi ớch kinh tế, để cho đối tượng bị quản lý tự lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động (môi trường làm việc) của họ mà không cần thường xuyên tác động về mặt kinh tế Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của con người đều tuân theo các quy luật kinh tế khách quan. Sự chi phối của các quy luật đối với hoạt động của con người đều thông qua lợi ích kinh tế. Các phương pháp kinh tế tác động thông qua các lợi ích kinh tế nghĩa là thông qua sự vận dụng các phạm trù kinh tế, các đũn bẩy kớch thớch kinh tế, cỏc định mức kinh tế – kỹ thuật, đó thực chất là sự vận dụng các quy luật kinh tế.Tác động thông qua lợi ích kinh tế chính là tạo ra động lực thúc đẩy con người tích cực lao động. Động lực đó sẽ càng lớn nếu nhận thức đầy đủ và kết hợp đúng đắn các lợi ích tồn tại khách quan trong doanh nghiệp. Mặt mạnh của phương pháp kinh tế chính là ở chỗ nó tác động vào lợi ịch kinh tế của đối tượng quản trị (là cá nhân hoặc tập thể lao động), xuất phát từ đó mà họ lựa chọn phương án hoạt động, đảm bảo cho lợi ích chung cũng được thực hiện.Vỡ vậy, thực chất của cỏc phương pháp kinh tế là đặt mỗi người lao động, mỗi tập thể lao động vào những điều kiện kinh tế để họ có khả năng kết hợp đúng đắn lợi ích của mỡnh với lợi ớch của doanh nghiệp. Điều đó cho phép người lao động lựa chọn con đường hiệu quả nhất để thực hiện nhiệm vụ của mỡnh. Đặc điểm của các phương pháp kinh tế là tác động lên đối tượng quản trị không bằng cưỡng bức hành chính mà bằng lợi ích, tức là nếu mục tiêu nhiệm vụ phải đạt được, đưa ra những điều kiện khuyến khích về kinh tế, những phương tiện vật chất có thể huy động để thực hiện nhiệm vụ. Chính các tập thể lao động (với tư cách đối tượng quản lý) vỡ lợi ớch thiết thõn, phải tự xỏc định và lựa chọn phương án giải quyết vấn đề. Các phương pháp kinh tế chấp nhận có thể có những giải pháp kinh tế, chủ thể quản lý phải biết tạo ra những tỡnh huống, nhũng điều kiện để lợi ích cá nhân và tập thể lao động phù hợp với lợi ích chung của doanh nghiệp và Nhà nước.Các phương pháp kinh tế tạo ra sự quan tâm vật chất thiết thân của đối tượng quản trị chứa đựng nhiều yếu tố kích thích kinh tế cho nên tác động nhậy bén, linh hoạt, phát huy được tính chủ động và các tập thể lao động. Với một biện pháp kinh tế đúng đắn, các lợi ích được thực hiện thoả đáng thỡ tập thể con người trong doanh nghiệp quan tâm hoàn thành nhiệm vụ, người lao động hăng hái sản xuất và nhiệm vụ chung được giải quyết nhanh chóng, có hiệu quả. Các phương pháp kinh tế là các phương pháp quản lý tốt nhất để thực hành tiết kiệm và nâng cao hiệu quả kinh tế. Thực tế quản lý chỉ rừ khoỏn là biện phỏp tốt để giảm chi phí, nâng cao năng suất sản xuất.Các phương pháp kinh tế mở rộng quyền hành động cho các cá nhân và cấp dưới, đồng thời cùng tăng trách nhiệm kinh tế của họ. Điều đó giúp chủ doanh nghiệp giảm được nhiều việc điều hành, kiểm tra, đôn đốc chi li, vụn vặt mang tính chất sự vụ hành chính, nâng cao ý thức kỷ luật tự giỏc của người lao động. Việc sử dụng các phương pháp kinh tế luôn luôn được chủ doanh nghiệp định hướng, nhằm thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch, các mục tiêu kinh doanh của từng thời kỳ. Nhưng đây không phải là những nhiệm vụ có căn cứ khoa học và cơ sở chủ động. Chủ doanh nghiệp tác động vào đối tượng bằng các phương pháp kinh tế theo những hướng sau :

          – Xác định các mục tiêu, đề ra các nhiệm vụ cụ thể có căn cứ khoa học phù hợp với điều kiện thực tế của tổ chức cũng như trình độ năng lực của các đối tượng quản lý có liên quan. Các mục tiêu nhiệm vụ này cần được cụ thể hoá bằng các chỉ tiêu đặt ra cho từng cá nhân, từng bộ phận phải hoàn thành trong những khoảng thời gian nhất định .

          -Sử dụng các định mức kinh tế – kỹ thuật, các biên pháp đòn bẩy kinh tế tác động trực tiếp đến lợi ích kinh tế của đối tượng quản lý nhằm kích thích tính năng động tự giác, lòng nhiệt tình, ý thức lao động sáng tạo của họ trong quá trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ mà chủ thể quản lý đề ra. Sự nhiệt tình tính chủ động của đối tượng quản lý sẽ là tiền đề quan trọng để các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra được hoàn thành một cách tốt nhất .

          -Thông qua chế độ thưởng phạt về vật chất cũng như quy định trách nhiệm kinh tế chặt chẽ đối với từng đối tượng quản lý để điều chỉnh hoạt động của các bộ phận, các cá nhân. Kết quả thực tế của việc thực hiện các mục tiêu, nhiêm vụ của từng đối tượng quản lý sẽ là căn cứ chủ yếu để xác định mức thưởng, phạt vật chất của họ .

    Ngày nay, xu hướng chung của các nước là mở rộng việc áp dụng các phương pháp kinh tế. Để làm việc đó, cần chú ý một số vấn đề quan trọng sau đây:

    + Một là, việc áp dụng các biện pháp kinh tế luôn luôn gắn liền với việc sử dụng các đũn bẩy kinh tế như giá cả, lợi nhuận, tín dụng, lói suất, tiền lương, tiền thưởng v.v.. Nói chung, việc sử dụng các phương pháp kinh tế có liên quan chặt chẽ đến việc sử dụng các quan hệ hàng hoá – tiền tệ. Để nâng cao hiệu quả sử dụng các phương pháp kinh tế, phải hoàn thiện hệ thống các đũn bẩy kinh tế, nõng cao năng lực vận dụng các quan hệ hàng hoá – tiền tệ, quan hệ thị trường.

    + Hai là, giải quyết tốt mối quan hệ giữa các loại lợi ích, đặt lợi ich của mỗi cá nhân trong lợi ích chung của cả tổ chức bằng cách thực hiện tốt nguyên tắc kết hợp hợp lý các loại lợi ích. Nếu không giải quyết tốt mối quan hệ giữa các loại lợi ich, đặc biệt là lợi ích kinh tế giữa các chủ thể có liên quan sẽ có thể dẫn đến những mâu thuẫn xung đột trong tổ chức .

     + Ba là, sử dụng phương pháp kinh tế đũi hỏi cỏn bộ quản lý phải cú trỡnh độ và năng lực về nhiều mặt. Bởi vỡ sử dụng cỏc phương pháp kinh tế cũn là điều rất mới mẻ, đũi hỏi cỏn bộ quản trị phải hiểu biết và thụng thạo kinh doanh, đồng thời phải có phẩm chất kinh doanh vững vàng . Đồng thời, sử dụng phương pháp kinh tế là chủ yếu nhưng không được quá lạm dụng nó sẽ dẫn đến chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng chạy teo lợi ích vật chất.

Vì vậy, cần kết hợp hài hoà giữa phương pháp kinh tế với các phương pháp quản lý khác .

Ví Dụ : ở Nhật Bản, xí nghiệp may quần thời trang cao cấp “Công ty toàn cầu “ định ra chế độ thưởng phạt lương công nhân viên chức một khi thu được thành tích lập tức cấp trên đưa ra hình thức lương mới. Một là lương cơ bản bao gồm phụ cấp tuổi tác, chức vụ, với giúp đỡ gia đình. Lương cơ bản chênh lệch không lớn. Hai là tiền thưởng. Một năm có 3 lần thưởng nó tách rời chênh lệch của thu nhập chức vụ. Tiêu chuẩn so sánh thành tích công chức là “mức độ cống hiến” gồm 3 mặt : Tài năng, trí tuệ và nhâm phẩm .

Qua ví dụ trên ta thấy 1 nhân viên muốn có tiền lương cao thì họ phải hết sức cố gắng làm việc, phát huy tính sáng tạo của mình, phát huy tài trí của bản thân …..Từ đó dẫn đến công nhân viên tham gia vào giảI pháp, tham gia vào quản lý

 * Phương pháp tâm lý –  giáo dục .

 Phương pháp tâm lý giáo dục là phương pháp có tác động vào quan hệ tư tưởng, tình cảm của con người. Dựa trên sự nắm bắt yêu cầu của các quy luật tâm lý, đặc điểm tâm lý của các đối tượng quản lý để chủ thể quản lý lựa chọ nội dung và hình thức phù hợp trong việc tuyên truyền, động viên giáo dục, thuyết phục đối với các  đối tượng quản lý, nâng cao tính tự giác và nhiệt tình vủa họ trogn quá trình thực hiện nhiệm vụ . Đặc trưng cơ bản của phương pháo này là tính thuyết phục đối với đối tượng quản lý, sự thuyết phục có hiệu quả của chủ thể quản lý sẽ làm cho đối tượng quản lý có nhận thức đúng đắn về các hiện tượng, sự việc theo đúng bản chất của chúng,để từ đó sẽ có những hành động đúng đắn .

 Con người có nhiều nhu cầu khác nhau đòi hỏi được thỏa mãn. Sự nhiệt tình, tự giác, năng động sáng tạo của con người được tạo lập không chỉ từ những động lực về mặt lợi ích kinh tế, mà còn từ cả những động lực và lợi ích tinh thần. Vì vậy, phương pháp tâm lý – giáo dục có một vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý nói chung và quản lý kinh tế nói riêng .

      + Phương pháp quản lý bằng giáo dục:

      Là cách thức tác động của chủ thể quản lý lên nhận thức của con người trong tổ chức nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm và khả năng làm việc.

– Phương pháp giáo dục được vận dụng trên cơ sở quy luật nhận thức của con người, nó mang tính thuyết phục làm cho mọi người hiểu cái gì đúng, cái gì sai, thiện, ác, trên cơ sở ý thức đúng thì sẽ hành động đúng, có trách nhiệm.

– Vai trò của phương pháp giáo dục tăng cường khả năng làm việc của người lao động, tăng cường ý thức trách nhiệm.

– Nội dung giáo dục động viên tuyên truyền về đường lối chính sách của tổ chức, vạch rõ những khó khăn thác thức mà tổ chức đang gặp phải để mọi người không bi quan chán nản, xóa bỏ thói quen tâm lý xấu, gây hại ® hoạt động chung của tổ chức, thực hiện các hoạt động đào tạo bồi dưỡng để nâng co trình độ năng lực của mọi người.

– Hình thức giáo dục: Phương tiện truyền thông, các sinh hoạt tập thể, giáo dục đặc biệt, các hình thức học tập khác.

+ Phương pháp tâm lý:

Phương pháp này là cách thức tác động của chủ thể quản lý lên tâm lý, tình cảm của con người để khuyến khích họ nhiệt tình hăng say lao động và gắn bó họ với tổ chức.

– Phương pháp này được áp dụng dựa trên quy luật tình cảm thông qua đó nâng cao khả năng làm việc của mọi người.

– Các biện pháp: Dành sự ưu tiên cho nhân viên về điều kiện vật chất và phương tiện làm việc, đặc biệt ưu ái về mặt tinh thần. Nhà quản lý sẵn sàng nhận lỗi về mình nếu có lỗi, tôn trọng nhân cách cá nhân, thưởng phạt kịp thời, khách quan và công bằng, quan tâm đến cấp dưới, vui vẻ, cởi mở kể cả trong giờ làm việc, giúp họ giải quyết những vướng mắc trong cuộc sống.

          Nói tóm lại, các phương pháp tâm lý giáo dục là các cách tác động vào nhận thức và tình cảm của người lao động nhằm nâng cao tính tự giác và nhiệt tình của họ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Các phương pháp giáo dục có ý nghĩa to lớn trong quản lý kinh doanh vì đối tượng của quản lý là con người –  một thực thể năng động, tổng hòa nhiều mối quan hệ. Tổng hòa nhiều mối quan hệ. Tác động vào con người không chỉ có hành chính, kinh tế mà còn có tác động tinh thần, tâm lý – xã hội ….Các phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm lý. Các phương pháp tâm lý giáo dục thường đựoc sử dụng kết hợp với các phương pháp khác mọt cách uyển chuyển, linh hoạt, vừa nhẹ nhàng vừa sâu sát đến từng người lao động, có tác động giáo dục rộng rãi trong doanh nghiệp đây là một trong những bí quyết thành công của các xí nghiệp tư bản Nhật hiện nay .

Ví Dụ : Công ty National có phương pháp “xem giá trị tinh thần” bồi dưỡng cấp dưới rất đặc sắc. Một trong những nhân tố quan trọng của công ty thu được thành công chính là đó khơi lên tác dụng xem giá trị tinh thần. Công ty National quy định nguyên tắc của xí nghiệp là nhận thức được trách nhiệm của xí nghiệp là nhà, khích lệ tiến lên, xúc tiến phúc lợi của toàn xó hội, dẫn đến một bước phát triển của thế giới văn hóa. Điều lệ National quy định cho công nhân viên chức là “tiến bộ và phát triển chỉ có thể thông qua cộng đồng nỗ lực và hợp tác mỗi người trong công ty mới có thể thực hiện”

      * Ngoài ra còn có một số phương pháp như :

+ Phương pháp tổ chức: Là cách thức tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trên cơ sở mối quan hệ tổ chức nhằm tạo lập kỷ cương, kỷ luật trong tổ chức.

– Phương pháp này áp dụng thông qua xây dựng quy chế, quy trình, nội dung hoạt động của từng cá nhân, từng bộ phận vào việc kiểm tra, việc thực hiện chúng.

– Vai trò: Làm tốt phương pháp này thì kỷ luật kỷ cương sẽ giữ vững, tăng cường đoàn kết, nâng cao hiệu lực quản lý.

+ Phương pháp hành chính: Là cách thức tác động trực tiếp của người lãnh đạo lên đối tượng quản lý thông qua việc ra các quyết định quản lý dứt  khoát, bắt buộc phương pháp này dựa trên mối quan hệ giữa quyền lực phục tùng mệnh lệnh đơn phương.

– Vai trò: Phương pháp này đảm bảo trật tự trong quản lý, đảm bảo tính thống nhất, nó kết nối các phương pháp quản lý khác làm cơ sở để vận dụng các phương pháp khác trong quản lý, nếu không áp dụng phương pháp này thì quản lý không có hiệu lực.

+ Phương pháp quản lý theo mục tiêu: Đây là phương pháp quản lý các nhà quản lý.

– Nội dung: Nhà quản lý cấp trên đưa ra những hướng dẫn thống nhất về kiến thức, kỹ năng và nỗ lực cho các nhà quản lý cấp dưới và hướng họ đến mục tiêu đã định trước.

– Vai trò: Phương pháp này đòi hỏi nhà quản lý phải tự tổ chức công việc một cách thích hợp, tự kiểm tra và tự điều khiển, nhờ đó nó tạo ra một nỗ lực cao hơn, quyết tâm cao hơn, tầm nhìn rộng hơn và hiệu quả cao hơn.

+ Phương pháp quản lý chất lượng: Là một trong Nhà nước phương pháp hiện đại được vận dụng trong tất cả các ngành, các mô hình tổ chức.

– Vai trò : Tăng năng suất lao động, sự thỏa mãn của khách hàng, sự công nhận đối với chất lượng, tạo ra cơ chế cải thiện liên tục, tăng cường đạo đức của người lao động.

– Nội dung: Kết hợp các thành tố kiểm soát chất lượng từ khâu sản xuất tới tận tay người tiêu dùng và chịu tráh nhiệm bảo hành chất lượng sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn của hệ thống quản lý chất lượng (ISO…) .

 

 

 

 

II. SỰ VẬN DỤNG TỔNG HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ.

          Quản lý là một khoa học đồng thời là một nghệ thuật. Việc sử dụng phương pháp quản lý vì vậy cũng vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật . Tính khoa học đòi hỏi các nhà quản lý phải hiểu  rõ đặc điểm của các đối tượng quản lý để lựa chọn các phương pháp quản lý phù hợp với từng đối tượng quản lý. Tính nghệ thuật yêu cầu các nhà quản lý phảI nắm bắt những thay đổi của đối tượng quản lý cũng như những biến động của tình hình thực tế để điều chỉnh phương pháp cho phù hợp, đồng thời kết hợp một cách có linh hoạt, bổ sung lẫn nhau giữa các phương pháp quản lý. Hiệu quả của các hoạt động quản lý sẽ đựoc nâng cao nếu các nhà quản lý đảm bảo được đồng thời cả tính khoa học và tính nghệ thuật trong khi sử dụng phương pháp quản lý .

          Các phưong pháp quản lý đã nêu trên đây chỉ là những phương pháp quản lý cơ bản cần sử dụng trong công tác quản lý. Hệ thống các phương pháp quản lý còn bao gồm rất nhiều các phương pháp quản lý cụ thể áp dụng trong từng lĩnh vực với các đối tượng quản lý khác nhau trong những tình huống đặc thù .

          Để  đảm bảo tính hiệu quả của quá trình quản lý, các nhà quản lý không nên sử dụng các phương pháp quản lý một cách biệt lập, tách rời nhau mà cần sử dụng tổng hợp, bổ sung lẫn nhau giữa các phương pháp. Tùy từng tình huống quản lý cụ thể, với những đối tượng quản lý cụ thể các nhà quản lý cần lựa chọn một phương pháp quản nào đó phù hợp nhất để sử dụng chủ yếu trên cơ sở kết hợp với những phương pháp quản lý khác mang tính bổ trợ

          Trong cơ chế quản lý kinh tế mới hiện nay, xuất phát từ vai trò quan trọng của phương pháp kinh tế, các nhà quản lý cần tăng cường sử dụng phương pháp này trong công tác quản lý nói chung, quản lý kinh tế nói riêng

Tuy nhiên, không được tuyệt đối hóa hoặc quá lạm dụng nó mà cần kết hợp với việc sử dụng các phương pháp quản lý khác như phương pháp hành chính, phương pháp tâm lý – giáo dục …..

          Nguyên nhân khách quan yêu cầu các nhà quản lý phải quán triệt quan vận dụng tổng hợp các phương pháp quản lý đó là :

          + Hệ thống quản lý hết sức phức tạp đồng thời diễn ra nhiều mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau, đặc biệt đối với những hệ thống có quy mô lớn với nhiều đối tượng quản lý. Nhiệm vụ của các nhà quản lý là phải xử lý hài hòa, giải quyết tốt tất cả các mối quan hệ giữa nhiều chủ thể khác nhau, trong khi mỗi phương pháp quản lý chỉ tỏ ra phù hợp và cho phép giảI quyết hiệu quả một vài mối quan hệ nhất định nào đó .

          + Quá trình hoạt động của các tổ chức chịu tác động của một hệ thống bao gồm rất nhiều quy luật khác nhau đòi hỏi chủ thể quản lý phảI nhận thức đồng bộ và vận dụng tổng hợp yêu cầu tất cả các quy luật. Nếu chủ thể quản lý không nắm được hoặc không vận dụng đúng yêu cầu của bất kỳ một quy luật nào đó trong quá trình quản lý đều đẫn đến những tiêu cực đối với quá trình hoạt động của toàn bộ hệ thống. Trong khi đó mỗi phương quản lý cụ thể lại được đề ra trên cơ sở vận dụng yêu cầu một số quy luật nhất định .

          + Mọi phương pháp quản lý suy cho đến cùng đều tác động tới con người. Những con người cụ thể trong các tổ chức đều là những cá nhân khác nhau về đặc điểm tân lý, điều kiện làm việc….nên để khai thác và tạo điều kiện cho tất cả các thành viên trong tổ chức phát huy tối đa khả năng, sở trường cũng như tính tính tích cực, sự sáng tạo của họ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đòi hỏi chủ thể quản lý phảI sử dụng nhiều phương pháp quản lý khác nhau để tác động một cách hợp lý lên những con người cụ thể .

          + Mỗi phương pháp quản lý đều có những ưu – nhược điểm nhất định

Những ưu điểm sẽ được phát huy nếu các nhà quản lý kết hợp hợp lý giữa các phương pháp. Những nhược điểm của từng phương pháp sẽ bộc lộ rõ và tạo ra những tác động tiêu cực đến quá trình hoạt động của tổ chức nếu các quản lý sử dụng chúng một cách biẹt lập, tách rời nhau hoặc quá nhấn mạnh một phương pháp nào đó mà bổ qua hoặc xem nhẹ vai trò của phương pháp khác. Chẳng hạn : Lạm dụng phương pháp hành chính sẽ dẫn tới sự áp đặt, cứng nhắc, độc đoán không phát huy được tính chủ động, khả năng sáng tạo của cấp dưới, lạm dụng phương pháp kinh tế dễ dẫn tới chủ nghĩa cá nhân…

          Như vậy, việc sử dụng tổng hợp các phương pháp quản lý cơ bản là sự cần thiết khách quan đối với các nhà quản lý. Với việc sử dụng phưong pháp tổng hợp mọi mối quan hệ phức tạp giữa những chủ thể khác nhau đều được xử lý hài hòa, giảI quyết một cách ổn thỏa. Ngay cả đối với những hệ thống có quy mô lớn, nhiều đối tượng quản lý cũng sẽ được vận hành trôi chảy trong khuôn khổ nếu nhà quản lý biết cách kết hợp các phương pháp quản lý một cách nghệ thuật nhất. Phương pháp tổng hợp sẽ giúp cho các nhà quản lý nhận thức đồng bộ và vận dụng tổng hợp yêu cầu của tất cả các quy luật tác động đến hệ thống trong quá trình hoạt động. Các chủ thể quản lý đều có thể nắm được và vận dụng đúng yêu cầu của mọi quy luật tránh được những tác động tiêu cực đối với quá trình hoạt động cua toàn bộ hệ thống. Dù đối tượng quản lý là người trong hoàn cảnh nào, khác biệt đến đâu chỉ cần chủ thể quản lý biết cách sử dụng phương pháp tổng hợp một cách nhạy bén đều có thể tiếp cận được cấp dưới của mình. Từ đó cho du hiểu hay không hiểu họ các nhà qủ lý vẫn sẽ tạo ra được môI trường làm việc cho mỗi người giúp phát huy tinh thần làm việc của họ. Xã hội là không ngừng phát triển, những cơ hội và thách thức mới không ngừng được tạo ra và không hề theo chủ ý của một ai. Để có thể thích ứng với tất cả những điều kiện khách quan đến bộ máy quản lý, việc sử dụng tổng hợp các phương pháp quản lý trở nên rất cần thiết. Nó sẽ giúp các nhà quản lý co thể vạn hành bộ may quản lý một cách năng động nhất, sáng tạo nhất. Từ đó không chỉ có sử lý tốt mọi tác động khách quan mà các nhà quản lý còn có thể đi tắt đón đầu hay tự tạo ra cơ hội cho mình nắm thế chủ động. Làm được điều đó đồng nghĩa với việc bạn đã nắm được chìa khoá của thành công. Sử dụng các phương pháp quản lý một cách biêt lập dù cho có thành công đến đâu cũng không thể không có những nhược điểm nhất định. Trong khi đó nếu sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp không những các nhà quản lý có thể khắc chế những nhược điểm của từng phương pháp mà hơn thế nữa những ưu điểm của mỗi phương pháp sẽ được phát huy một cách triệt để. Sự kết hợp các loại phương pháp sẽtao a một động lực mạnh mẽ hơn. Phương pháp hành chính tao ra động lực, phương pháp kinh tế tạo ra động lực vật chất, phương pháp giáo dục tạo ra động lực tinh thần. Con người sẽ lmf việc tốt nhất nếu đặt họ trong điều kiện có khuôn khổ, tổ chức chặt chẽ, rõ ràng có lợi ích thỏa đáng, có sự hiểu biết và niềm say mê với công việc. Đó chính là sự tác động toàn diện của các phương pháp quản lý đối với con người .

 

III. MỘT SỐ Ý KIẾN NHẬN XÉT VỀ VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ Ở NƯỚC TA  .

          Trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chúng ta đã tuyệt đối hóa, cường điệu hoá phương pháp tổ chức – hành chính và phương pháp tâm lý giáo dục coi nhẹ phương pháp kinh tế trong quản lý các tổ chức kinh tế – xã hội làm cho tình trạng quản lý ở mọi tổ chức đều manh tính chất quan liêu, hình thức hành chế rất nhiều tính chủ động sáng tạo của mỗi người .

          Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các quy luật kinh tế – xã hội được nhận thức và vận dụng đầy đủ hơn trong đó lợi ích cá nhân chính đáng của người lo động đã được coi trọng. Do đó phương pháp kinh tế trở thành phương pháp tcs động chủ yếu đối với mọi người.  Lợi ích thiết thân của mỗi người được coi là điểm xuát phát để xác lập lợi ích tập thể và củ toàn xã hội. Thực chất của việc xác lập và vận hành các phương pháp quản lý ở nước ta hiện nay là quá trình thực hiện dân chủ hoá toàn bộ quá trình quản lý của các tổ chức kinh tế  – xã hội theo nguyên tắc tạp trung dân chủ. Do đó không thể coi nhẹ phương pháp tổ chức – hành chính, và phưong phps tâm lý giáo dục .

          Một nội dung quan trọng của đổi mới quản lý là đổi mới nhận thức và sử dụng các phương pháp quản lý, khắc phục phương pháp quản lý mang tính quan liêu, ệnh lệnh trước đây. Điềi đó phụ thuộc trước hếtvào đội ngũ những người quản lý. Để nâng cao trình độ sử dụng tổng hợp các phương pháp quản lý đòi hỏi người quản lý phảI không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình dộ và phẩm chất, trao dồi và nâng cao trình độ quản lý của mình cho phù hợp với yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước hiện nay .

 C. KẾT LUẬN

              Như vậy, sử dụng các phương pháp quản trị vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Khoa học quản lý cho chúng ta những hiểu biết về các quy luật, nguyên tắc, phương pháp, kỹ thuật quản lý; để trên cơ sở đó biết cách giải quyết các vấn đề quản trị  trong các hoàn cảnh cụ thể, biết cách phân tích một cách khoa học những thời cơ và những khó khăn trở ngại trong việc đạt tới mục tiêu. Tuy nhiên, nó chỉ là một công cụ; sử dụng nó càng phải tính toán đến điều kiện đặc điểm cụ thể từng tình huống để vận dụng sáng tạo, uyển chuyển (đó là nghệ thuật).  Nghệ thuật quản lý là việc sử dụng có hiệu quả nhất các phương pháp, các tiềm năng, các cơ hội và các kinh nghiệm được tích luỹ trong hoạt động thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu đề ra cho tổ chức, doanh nghiệp. Đó là việc xem xét động tĩnh của công việc kinh doanh để chế ngự nó, đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại, ổn định và không ngừng phát triển có hiệu quả cao .

 Tác động của phương phỏp quản lý luụn luụn là tỏc động có mục đích. Vỡ vậy, mục tiờu quản lý quyết định việc lựa chọn phương pháp quản lý. Trong quỏ trỡnh quản lý phải luụn luụn điều chỉnh các phương pháp quản lý, nhưng không được chủ quan tuỳ tiện muốn sử dụng phương pháp nào cũng được. Bởi vỡ, mỗi phương pháp quản lý khi sử dụng lại tạo ra một cơ chế tác động mang tính khách quan vốn có của nó. Bên cạnh các yếu tố tích cực, phù hợp với mục tiêu dự đoán của chủ thể, cũng có thể xuất hiện một số hiện tượng nằm ngoài dự đoán ban đầu , thậm chí trái ngược với mục tiêu đặt ra. Do đó, đũi hỏi chủ thể quản lý phải tỉnh tỏo, sõu sỏt thực tế, kịp thời cú biện phỏp bổ sung để khắc phục các mặt tiêu cực khi chúng xuất hiện

Chúng em xin chân thành cảm ơn sự  giúp đỡ của cô giáo để có thể hoàn thành tốt bài thảo luận này. Trong quá trình làm bài thảo luận chúng em không thể tránh được những sai sót, vì vậy chúng em rất mong cô giáo và các bạn đóng góp ý kiến để bài thảo luận được hoàn chỉnh hơn

CHÚNG EM XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN

D. TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Giáo trình Khoa Học Quản lý – Trường Đại Học Thương Mại
  • Website : Scribd.com.vn .
  • Giáo trình quản trị học – Trường Đại học Kinh Tế Và Kỹ Thuật Hà Nội .

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s