KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KỲ HỘI NHẬP


 KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KỲ HỘI NHẬP

 

Hội nhập kinh tế, theo quan niệm đơn giản nhất và phổ biến trên thế giới, là việc các nền kinh tế gắn kết lại với nhau. Theo cách hiểu này, hội nhập kinh tế với quy mô toàn cầu đã diễn ra từ cách đây hai nghìn năm khi đế quốc La Mã xâm chiếm thế giới và mở mang mạng lưới giao thông, thúc đẩy lưu thông hàng hóa trong toàn bộ lãnh địa chiếm đóng rộng lớn của họ và áp đặt đồng tiền của họ cho toàn bộ các nơi.

Hội nhập kinh tế, hiểu theo một cách chặt chẽ hơn, là việc gắn kết mang tính thể chế giữa các nền kinh tế lại với nhau. Khái niệm này được Béla Balassa đề xuất từ thập niên 1960 và được chấp nhận chủ yếu trong giới học thuật và lập chính sách. Hội nhập kinh tế là quá trình chủ động thực hiện đồng thời hai việc: một mặt, gắn nền kinh tế và thị trường từng nước với thị trường khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực thực hiện mở cửa và thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế quốc dân;mặt khác, gia nhập và góp phần xây dựng các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu.

Hội nhập kinh tế thường được được cho là có sáu cấp độ: khu vực/hiệp định thương mại ưu đãi, khu vực/hiệp định thương mại tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, liên minh kinh tế tiền tệ, và hội nhập toàn diện. Thực tế, các cấp độ hội nhập có thể nhiều hơn và đa dạng hơn.

Hội nhập kinh tế có thể là song phương – tức là giữa hai nền kinh tế, hoặc khu vực – tức là giữa một nhóm nền kinh tế; hoặc đa phương – tức là có quy mô toàn thế giới giống như những gì mà WTO đang hướng tới.

Việt Nam(VN) là một nền kinh tế trên thế giới nên không thể đứng ngoài những xu thế của kinh tế thế giới.Vì lẽ đó đã hơn một thập kỷ nay chúng ta đã tích cực đổi mới và hội nhập vào nền kinh tế thế giới.Công cuộc đó tuy có những thách thức nhưng đó là con đường tất yếu chúng ta phải đi để có thể đạt được kết quả là sự phát triển kinh tế bền vững .

Trong 20 năm qua, nền kinh tế VNđã trên bước đường mở cửa và hội nhập vào kinh tế thế giới. Câu hỏi đặt ra là hành trang của VN khi đi vào cuộc chơi toàn cầu có những gì và sẽ phải đối mặt ra sao với những thử thách ở phía trước? Sau gần 20 năm thực hiện cải cách kinh tế dưới “Đổi Mới” từ 1986, vài kết quả đã được chứng minh qua những con số thống kê và thảo luận trong nhiều tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước. Đặc biệt thu nhập theo đầu người đã tăng gấp đôi từ 250 USD 1985-1986 )lên mức khoảng 520 USD(2004). Nói chung, đời sống kinh tế của đa số các tầng lớp dân chúng đã được cải thiện,thành phần thuộc lớp đói nghèo đã giảm đáng kể,bộ mặt VN từ thôn quê ra thành thị đã tương đối được “lột xác” với đường xá được sửa sang hay mới hoàn toàn, nhiều ngôi nhà khang trang mới ở các tỉnh hay các cao ốc ở những thành phố lớn, những công trình xây dựng qui mô như các khu công nghệ chế biến hay khu du lịch mang tầm vóc quốc tế đã có mặt ở nhiều vùng khác nhau.

Tuy nhiên trong một thế giới toàn cầu hóa, những tiến bộ của VN cần phải được đặt khung cảnh của một cuộc tranh đua,VN tiến trong khi thiên hạ cũng tiến, riêng trong khu vực Đông Á, có thể các nước láng giềng còn đi nhanh hơn.Vì vậy cần hiểu rõ những thách thức,khó khăn cũng như những lợi ích của việc hội nhập kinh tế để có thể đưa ra những đường lối,biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả của quá trình hội nhập.

A.Những thách thức và lợi ích của công cuộc hội nhập kinh tế ở nước ta

I.Thách thức:

Bước từ một nền kinh tế nhỏ lẻ vào nền kinh tế sôi động của thế giới,VN đã gặp phải rất nhiều sức ép ,thách thức .Để có thể tồn tại và phát triển trong lòng nền kinh tế đa dạng và sôi động của thế giới thì những thách thức này cần được xem xét một cách cẩn thận để rút ra những cách thức ,phương thức phát triển phù hợp.

-VN phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt trên cả 3 cấp độ:sản phẩm,doanh nghiệp,tổng thể quốc gia.Những hàng hóa ,dịch vụ kém sức cạnh tranh sẽ mất thị phần.Doanh nghiệp không cạnh tranh được sẽ phải thu hẹp sản xuất,kinh doanh hoặc có nguy cơ phá sản dẫn đến người lao động thiếu hoặc mất việc làm. VN đã lên tiếng báo động là có thể có 600 ngàn công nhân ngành dệt may, 300 ngàn công nhân ngành giầy da, 400 ngàn nông dân chăn nuôi thủy sản có nguy cơ bị mất việc vì cạnh tranh.Thị trường lao động sẽ rất sôi động.Có thể diễn ra tình trang dịch chuyển lao động giữa các nước thành viên WTO,trước hết là những nước trong khu vực, gây ra tình trạng thiếu nhân lực. Nhân lực cấp cao sẽ tìm đến nơi có điều kiện phù hợp nhất đối với họ,cuộc cạnh tranh về nhân lực cấp cao sẽ gay gắt.Vì vậy,doanh nghiệp rât khó tìm được và giữ được nhân lực lao động kỹ thuật và nhân lực cấp cao cho doanh nghiệp mình.Chính sách,pháp luật,quản lý kinh tế vĩ mô nếu không được cải thiện sẽ gây khó khăn,trở ngại cho sản xuất kinh doanh.

– Yêu cầu của thị trường khắt khe hơn. Trên thị trường toàn cầu, người tiêu dùng có thêm nhiều thuận lợi để lụa chọn hàng hóa mà họ cần; không những thế, người tiêu dùng ngày nay không chỉ quan tâm hình dáng, mẫu mã và giá cả sản phẩm hàng hóa như trước đây mà họ đang có những đòi hỏi mới cao hơn về chất lượng, về an toàn sức khỏe cho công nhân viên, vệ sinh thực phẩm cho người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, v.v…

-Do tác động từ nước ngoài vào nước ta không đồng đều sẽ có những bộ phận dân cư được hưởng lợi ít hơn,có thể làm cho xã hội bị phân hóa hơn,phát sinh những yếu tố bất ổn xã hội. Bất bình đẳng có xu hướng tăng nếu không có cơ chế điều chỉnh thích hợp.

-Sự biến động trên thị trường quốc tế sẽ tác động mạnh hơn,nhanh hơn đến kinh tế trong nước.Nếu chúng ta không có những chính sách kinh tế vĩ mô đúng đắn,thiếu năng lực dự đoán và phân tích,kiểm soát và xử lý tình hình thì có thể làm thị trường bất ổn dẫn đến khủng hoảng tài chình,kinh tế.

-Đặt ra những khó khăn trong lĩnh vực bảo đảm an ninh quốc phòng,xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ,giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc,bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái cho phát triển bền vững.

II.Lợi ích

Hội nhập kinh tế thế giới góp phần nâng cao đời sống và thúc đẩy tăng trưởng, hội tụ kinh tế. Hiện tượng hội tụ kinh tế thường được thấy trong những nhóm nước có điều kiện kinh tế và truyền thống khá giống nhau, dẫn tới việc các nền kinh tế này hòa nhập với nhau và có rất ít rào cản kinh tế. Trong phạm vi nội địa một nước cũng vậy, nếu như thị trường trao đổi hàng hóa và công nghệ được thông thoáng thì những vùng nghèo hơn (ít vốn, đông dân) trở nên rất hấp dẫn đối với đầu tư và có thể tự dùng được nội lực của mình để tăng trưởng nhanh hơn những vùng giầu, dẫn đến hội tụ kinh tế trong phạm vi cả nước. Không có sự hội tụ kinh tế tự nhiên, nhà nước phải trích một phần lớn ngân sách ra bù đắp, hỗ trợ những vùng nghèo. Điều này về lâu về dài ảnh hưởng xấu đến cả những vùng nghèo (tạo ra sự ỷ lại, trông chờ vào ngân sách quốc gia) lẫn những vùng không nghèo (chịu gánh nặng thuế để bù đắp cho các vùng nghèo).

-Chúng ta có điều kiện thuận lợi hơn để mở rộng thị trường xuất khẩu ,cung ứng dịch vụ cả trong và ngoài nước;mở ra triển vọng và động lực mới thu hút đầu tư trong và ngoài nước; tạo điều kiện cho doanh nghiệp VN đầu tư ra nước ngoài.

-Người tiêu dùng trong nước sẽ có thêm sự lựa chọn về hàng hóa,dịch vụ chất lượng cao,giá cả cạnh tranh,mẫu mã và chủng loại đa dạng,đáp ứng tốt hơn ,góp phần nâng cao đời sống cả về vật chất và tinh thần.Các doanh nghiệp có thể tiếp cận với nguyên liệu đầu vào;các dịch vụ hỗ trợ tiện lợi,chất lượng hơn; tiếp nhận công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến giúp nâng cao hiệu quả sản xuất,kinh doanh.

-Thúc đẩy đổi mới toàn diện và hoàn thiện hơn. Các nguồn xã hội được phân phối lại hợp lý, phản ánh đúng hơn tín hiệu của thị trường,tăng hiệu quả của nền kinh tế.

– Giảm hàng rào thuế quan khiến người tiêu dùng được lợi từ giảm giá. Giảm hàng rào thuế của các nước sẽ thúc đẩy xuất khẩu.

B.Những khó khăn, thuận lợi và thành quả bước đầu trong công cuộc hội nhập kinh tế của nước ta

I.Khó khăn:

Lọi ích của việc hội nhập kinh tế là rất lớn nhưng để hoàn tất được việc hội nhập lại là một việc không hề đơn giản .Trước mắt chúng ta không phải chỉ có thuận lợi mà còn có biết bao những khó khăn-cả trong và ngoài nước-gây cản trở cho quá trình hội nhập kinh tế của VN.

-Cản ngại do tâm lý dân tộc trước tiến trình toàn cầu hóa

Việc phát triển và xuất khẩu hàng năm 5 triệu tấn gạo,thu hồi 1,5 tỷ USD, cũng như việc xuất khẩu hải sản thu hồi trên 5 tỷ USD, có đem lại sự phồn vinh hay cải thiện cuộc sống của người dân ĐBSCL không? Nhìn vào mức di dân từ vùng này vào các thành phố lớn, tình trạng học sinh bỏ học hàng loạt trong những năm gần đây, việc chấp nhận “làm dâu” người ngoại quốc của các thiếu nữ VN, tất cả những hình thái tệ hại nhất trong việc buôn người, bán trẻ con… chúng ta cũng đã có thể hình dung câu trả lời.

Sau hơn 20 năm mở cửa phát triển, và sau 10 năm mức tăng trưởng đạt chỉ tiêu từ 7% trở lên, VN phải đối mặt với tình trạng môi trường hầu như bế tắc qua việc tận dụng nguồn tài nguyên đất đai trong phát triển nông nghiệp, chăn nuôi và trồng trọt. Việc khai thác quá độ nguồn đất ở VN sẽ đưa đến mhững thảm họa không xa. LHQ cảnh báo, nếu VN tiếp tục khai thác như những năm qua, thì trong vòng 10 năm nữa sẽ có 4 triệu mẫu đất bị sa mạc hóa.

Đây là nguyên nhân khiến tâm lý người dân ở những vùng nông nghiệp, vùng sâu và xa càng thêm tuyệt vọng và ngày càng đánh mất lòng tự trọng để làm bất cứ việc gì vì kế “mưu sinh”. Chính họ đã xem nhẹ số phận của mình và không còn niềm tin vào chính sách của nhà nước. Tâm lý trên đã tạo ra thái độ bất cần đời, bất hợp tác,nguy hiểm hơn, là có thể tạo ra những bất ổn xã hội vì “cơm áo”. Từ đó có thể đưa đến một bất ổn chính trị nếu có một sự khơi mào trong tầng lớp này.

-Chi phí vận tải và chi phí cập nhật thông tin: Ở nước ta, chi phí vận tải còn khá cao.Dù chất lượng đường sá ngày càng tốt hơn, nhưng lưu lượng đi lại cao hơn cộng với việc hạn chế tốc độ để đảm bảo an toàn cũng ảnh hưởng nhiều đến thời gian vận chuyển. Chưa kể đến tình trạng một số nơi cảnh sát giao thông nhũng nhiễu, các hoạt động kinh tế diễn ra ngay sát đường giao thông…

Chi phí cập nhật thông tin, nhất là điện thoại vẫn còn cao, dù hiện đang được cải tiến đáng kể. Để vận chuyển hàng hóa hợp lý, thương nhân thường xuyên phải sử dụng điện thoại và các dịch vụ tương tự nhằm nắm bắt thông tin thị trường ở các địa phương khác nhau, từ đó loại bỏ rủi ro về biến động giá cả hàng hóa. Giá thành vận chuyển vì thế cũng phải cõng thêm chi phí của những dịch vụ này.

Vốn gia tăng tổng chi phí đầu tư và lưu chuyển vốn giữa các địa phương: Phải kể đến việc chuyển vốn từ những điểm nóng kinh tế đến những vùng nghèo và hoạt động kinh doanh thưa thớt.Khung luật pháp về đầu tư không rõ ràng nhất quán và chi phí quản lý vốn ở địa phương cao. Yêu cầu của luật pháp càng phức tạp thì việc chuyển vốn đến một địa bàn mới càng khó khăn.Chi phí cho việc tìm hiểu thông tin, tìm hiểu chính sách, môi trường đầu tư ở địa phương, thuê người quản lý, bảo vệ quyền lợi hợp pháp khi có tranh chấp v.v… cũng là những yếu tố ngăn cản dòng chảy tự nhiên của vốn.

 

-Hội nhập kinh tế nhưng phải làm sao giữ được nền văn hòa nước nhà không bị hòa tan trong những nền văn hóa khác mới du nhập vào.

 

Ngoài ra còn phải kể đến những khó khăn mà các nước phát triển gây ra ví như việc tạo ra sức ép về giá cả,…

 

II.Những thuận lợi:

Tuy quá trình hội nhập kinh tế ở nước ta gặp nhiều khó khăn nhưng không phải chúng ta không có những thuận lợi-dù là rất nhỏ nhưng nó cũng cổ vũ thêm tinh thần để có thể hoàn thành công cuộc hội nhập kinh tế .

-Bước vào hội nhập kinh tế toàn cầu,VN có tiền đề là những kết quả tích cực của công cuộc đổi mới.Những kết quả này tuy chưa thể đáp ứng được đò hỏi nhưng chúng cũng góp phần chứng minh con đường chúng ta đang đi là đúng .

-Các đối tác kinh tế của VN đều ủng hộ quá trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu của VN.Một số nước đã có những chính sách hỗ trợ VN trong công cuộc hội nhập như Pháp,Nga,Trung Quốc…

-Đại bộ phận nhân dân và nhất là các doanh nghiệp đều tán thành việc hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu vì nhận ra được những lợi ích của việc hội nhập kinh tế.

 

Chúng ta có rất nhiều những nguồn lực tiềm tàng chưa khai thác hết như sức lao động,…

 

III. Hội nhập kinh tế quốc tế đã đạt được những kết quả đáng khích lệ:

Một số mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của VN :
1.   Bình thường hoá quan hệ với các tổ chức tài chính-tiền tệ quốc tệ: WB, IFM, ADB
2.   1/1995: nộp đơn xin gia nhập WTO
3.   7/ 1995: Ký Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế với Liên minh Châu Âu ( EU).
4.   7/1995 Gia nhập ASEAN
5.   1/1996 Thực hiện Chương trình CEPT nhằm tiến tới Khu vực Thương mại tự do ASEAN ( AFTA)
6.   3/1996: tham gia sáng lập Diễn đàn Á- Âu (ASEM) với 25 thành viên.
7.   11/1998 gia nhập Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương( APEC) : 21 thành viên.
8.   7/2000: Ký Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam -Hoa Kỳ ; có hiệu lực thi hành từ 10/12/2001.
9.   7/11/2006 Đại hội đồng WTO bỏ phiếu thông qua hồ sơ gia nhập của VN và tiến hành lễ kết nạp.

Có thể khẳng định rằng VN không phải là nước nhỏ mà là nước cỡ trung xét về dân số, thực tế và triển vọng phát triển kinh tế, cũng như vai trò ở khu vực và cả thành quả hội nhập quốc tế. Tuy có những khó khăn ,thách thức nhưng chúng ta đã đạt được những kết quả bước đầu trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.

1. Tạo điều kiện cho VN nâng cao vị thế chính trị, ngoại giao và kinh tế trên trường quốc tế, tránh được tình trạng phân biệt đối xử, tạo cơ sở ổn định và thuận lợi cho các hoạt động kinh tế đối ngoại. Nhìn lại tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đỉnh cao là việc gia nhập WTO cho thấy, VN đã xác lập được vị thế đối ngoại chủ động và phù hợp với nội lực của ta. Nói cách khác, vị thế đối ngoại không thể cao và vững nếu nội lực kinh tế – chính trị yếu kém. Vị thế không thể thay cho nội lực mà chỉ có thể bổ sung, phát huy nội lực. Ngược lại, nội lực thiếu, vị thế hội nhập sẽ bị giới hạn, không phát huy hết tiềm năng, khả năng. Đây là mối quan hệ biện chứng rất rõ ràng.

2. Góp phần mở rộng thị trường xuất nhập khẩu: Do hội nhập, năm 1990, kim ngạch xuất khẩu của VN mới chỉ đạt 2,4 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu đạt 2,75 tỷ USD thì tới năm 2001, con số này đã đạt tới 15,1 tỷ USD xuất khẩu và 16 tỷ USD nhập khẩu. Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu đạt 48,4 tỉ USD, tăng 21,5% so với 2006, đặc biệt, đã có 10 mặt hàng xuất khẩu gia nhập “Câu lạc bộ 1 tỉ USD”. Xuất khẩu tăng trưởng liên tục ở mức hai con số và hiện chiếm xấp xỷ 68% GDP, đưa VN vào diện các nước có nền kinh tế mở. Cơ cấu hàng xuất khẩu có nhiều chuyển biến tích cực, tỷ trọng hàng công nghiệp xuất khẩu đạt trên 40% tổng kim ngạch xuất khẩu (đầu những năm 90 chỉ ở mức dưới 30%). Thị trường không ngừng được mở rộng, từ chỗ chỉ quan hệ thương mại với các nước Đông Âu là chính, đến nay VN đã có quan hệ kinh tế thương mại với 176 nước và vùng lãnh thổ…

3. Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài và viện trợ phát triển (ODA):VN đã tiến hành điều chỉnh,ban hành nhiều chính sách, luật pháp trong nước theo hướng ngày càng phù hợp hơn với các quy tắc, luật lệ thương mại quốc tế và cam kết WTO.Vì vậy môi trường đầu tư, kinh doanh đã được cải thiện theo hướng thông thoáng và minh bạch, tạo được niềm tin với các nhà đầu tư, góp phần tăng cường thu hút đầu tư. Đến nay, đã có trên 70 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào VN, trong đó có nhiều công ty và tập đoàn lớn có tiềm lực tài chính- công nghệ, góp phần thay đổi trình độ sản xuất của nước ta. Thu hút đầu tư năm 2007 gia tăng về số lượng và có sự chuyển biến về chất lượng. Cả nước đã thu hút 1.440 dự án có tổng giá trị 18 tỉ USD vốn FDI đầu tư mới; có 400 dự án với 2,4 tỉ USD tăng vốn, đưa tổng số vốn FDI thu hút trong năm 2007 lên 20,3 tỉ USD, tăng 70% so với 2006(xem phụ lục –bảng1).

4. Giúp tiếp thu khoa học kỹ thật và công nghệ quản lý tiên tiến, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh và công nhân kỹ thuật lành nghề.

5. Với những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư và hỗ trợ tài chính quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế thời gian qua đã góp phần đáng kể đảm bảo tăng trưởng cao của nền kinh tế VN, trung bình 7% trong giai đoạn 10 năm đổi mới 1990 – 2000. Tạo thêm được 350.000 công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân. Cơ cấu của nền kinh tế cũng có những bước tiến bộ rõ rệt, tỷ trọng công nghiệp trong GDP đạt trên 36%, dịch vụ trên 39% và nông lâm ngư nghiệp 24%, từng bước tạo ra được một nền kinh tế mở, năng động, có khả năng thích ứng với những thay đổi diễn ra trong nền kinh tế thế giới. Giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành đạt 574.046,8 tỉ đồng, tăng 17,5%, so với năm 2006;tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ ước đạt 726.113 tỉ đồng, tăng 23% (xem phụ lục-bảng 2).

6. Kinh tế VN đã có những chuyển biến tích cực trong tất cả các ngành kinh tế.Phương thức hoạt động, hình thức kinh doanh cũng đa dạng hơn .VN được mệnh danh là ngôi sao nhỏ của châu Á,là điểm đến an toàn ,là thị trường đầu tư an toàn.Nhờ hội nhập mà kinh tế VN đã có những bước chuyển biến tích cực tuy nhiên nếu không tỉnh táo có thể sẽ bị hòa tan vào nền kinh tế thế giới sôi động với những hào quang mà kinh tế VN chưa từng trông thấy trước đó- khi chưa hội nhập kinh tế.

C.Phương hướng đẩy mạnhquá trình hội nhập kinh tế

-Một yêu cầu để có thể giành thắng lợi khi hội nhập – thắng lợi trong nghĩa là thông qua quá trình hội nhập làm cho đất nước mạnh lên,dân giàu hơn, đời sống xã hội văn minh,phong phú hơn – là chúng ta phải có đủ khả năng tiếp cận, phán đoán chính xác những nguồn thông tin đa dạng trên thế giới,khả năng chọn lựa chính xác nhất đường đi nước bước trong các tình huống khác nhau,phù hợp với thực lực của nền kinh tế ở thời điểm chọn lựa.Trong nhiều trường hợp,khả năng tiếp cận và chọn lựa chính xác đó không chỉ là những kỹ năng có thể học trong các bài học kinh tế vi mô hay vĩ mô hoặc trong những tính toán kỹ thuật của các dự án muốn mua hoặc bán.Những hiểu biết về văn hóa, xã hội của nước đối tác cho phép nghĩ ra những mặt hàng tiện ích, mẫu mã đẹp(dưới mắt người mua!), tránh những chiến dịch tiếp thị phản cảm với người bản xứ,cho phép nhà thương lượng đề ra những giải pháp mà người đối thoại sẽ cảm thấy thoải mái hay ít nhất là chấp nhận được trong môi trường của họ…Trình độ chuyên môn và văn hóa cao của nhà thương lượng cho phép họ có được những mối dây liên hệ ở mức đủ thân tình và tin cậy với những người sở tại cùng trình độ,do đó có thể tư vấn cho mình một cách hữu hiệu mỗi khi gặp vướng mắc.

Những yếu tố văn hóa có tầm quan trọng không thể xem nhẹ trong bài toán nội lực của con người và xã hội của một dân tộc trong cuộc cạnh tranh toàn cầu, dù chỉ nhìn về phương diện “thuần kinh tế”. Thiết nghĩ, ngoài sự cần thiết phải có những chính sách kinh tế có hiệu lực tăng trưởng tốt và bền vững,VN cần tăng cường nội lực của mình thông qua những chính sách văn hóa để có thể giành thắng lợi trong hội nhập.

-Ngoài công tác kiện toàn hệ thống các văn bản pháp luật thương mại, VN  cần cải cách nhiều cơ quan quản lý thị trường (cơ quan cạnh tranh, cơ quan quản lý ngành ngân hàng, quản lý một số ngành dịch vụ). Công cuộc cải cách này đòi hỏi phải củng cố công tác đào tạo cán bộ các bộ ngành có liên quan của VN. Cần phải phát triển lành mạnh và trong sáng trong quản lý, nghĩa là tạo ra một xã hội pháp trị, quản lý bằng luật định của Quốc hội chứ không bằng nghị quyết đến từ bất cứ nhân vật cao cấp nào trong đảng. Cần phải bình đẳng và công bằng trong mọi quyết định về nhân sự, đặc biệt là nhân sự trong vấn đề quản lý kinh tế và kế hoạch, khuyến khích tư nhân đầu tư nguồn vốn và chất xám vào công cuộc phát triển quốc gia. Cần phải chấm dứt chính sách Hồng hơn Chuyên, vì đây mới đích thực là một cản ngại lớn nhất cho mọi tiến bộ của đất nước..

-Việc tuyên truyền phổ biến thông tin hội nhập vào thương mại quốc tế mà trước tiên là các quy định của WTO sẽ rất hữu ích trong việc khiến tất cả các tác nhân kinh tế tại VN tham gia vào môi trường mới này.

-Chính bản thân những người làm kinh tế phải tự đặt ra cho mình những biện pháp để có thể đẩy mạnh công cuộc hội nhập kinh tế của quốc gia để làm lợi cho bản thân và cho đất nước.

-Đẩy mạnh công tác giáo dục để có được những người đủ tài để đưa nền kinh tế VN ngày càng hội nhập vào kinh tế thế giới.

 

PHỤ LỤC

Bảng 1: Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2008

Nghìn

tỷ

đồng

cấu

(%)

So với cùng kỳ

năm trước (%)

TỔNG SỐ

637,3

100,0

122,2

Khu vực Nhà nước

184,4

28,9

88,6

Khu vực ngoài Nhà nước

263,0

41,3

142,7

Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

189,9

29,8

146,9

 Bảng 2 : Tổng sản phẩm trong nước năm 2008 theo giá so sánh 1994

Thực hiện (Tỷ đồng)

2008 so

với 2007 (%)

Năm

2007

Ước tính

2008

TỔNG SỐ

461443

490181

106,23

Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

82436

85564

103,79

Nông nghiệp

67625

70047

103,58

Lâm nghiệp

2700

2747

101,74

Thuỷ sản

12111

12770

105,44

Khu vực công nghiệp và xây dựng

192734

204940

106,33

Công nghiệp khai thác

22520

21658

96,17

Công nghiệp chế biến

113282

124665

110,05

Công nghiệp điện nước

14108

15785

111,89

Xây dựng

42824

42832

100,02

Khu vực dịch vụ

186273

199677

107,20

Thương nghiệp

75437

80223

106,34

Khách sạn, nhà hàng

17071

18529

108,54

Vận tải, bưu điện, du lịch

18628

21207

113,84

Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

9649

10289

106,63

Khoa học và công nghệ

2738

2906

106,14

Kinh doanh bất động sản

15872

16268

102,49

Quản lý Nhà nước

12196

12974

106,38

Giáo dục đào tạo

15467

16710

108,04

Y tế

6568

7072

107,67

Văn hoá, thể thao

2515

2712

107,83

Đảng, đoàn thể, hiệp hội

491

525

106,92

Phục vụ cá nhân, cộng đồng

8860

9419

106,31

Dịch vụ làm thuê

781

843

107,94

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s