Đánh giá hoạt động kinh doanh thẻ hiện nay của các NHTM tại Việt Nam


MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1   Lý do chọn đề tài ……………………………………………………………………………………….. 1

1.2   Mục tiêu nghiên cứu…………………………………………………………………………………….. 1

1.3   Phạm vi nghiên cứu……………………………………………………………………………………… 1

1.4   Phương pháp nghiên cứu………………………………………………………………………………. 2

CHƯƠNG 2 : CƠ SỠ LÝ THUYẾT…………………………………………………………………….. 3

2.1  Khái niệm về thẻ ATM…………………………………………………………………………………. 3

2.2  Đặc điểm cấu tạo của thẻ ……………………………………………………………………………… 4

2.3  Phân loại thẻ……………………………………………………………………………………………….. 4

2.3.1     Theo đặc tính của thẻ………………………………………………………………………….. 5

2.3.2    Theo chủ thẻ phát hành ……………………………………………………………………….. 5

2.3.3    Theo tính chất thanh toán……………………………………………………………………… 5

2.3.4    Theo hạn mức tín dụng…………………………………………………………………………. 5

2.3.5    Theo phạm vi sử dụng …………………………………………………………………………. 5

2.4 Tiện ích và những hạn chế khi sử dụng thẻ ATM. ……………………………………………..  6

2.4.1  Tiện ích …………………………………………………………………………………………….. 6

2.4.2  Hạn chế…………………………………………………………………………………………….. 7

2.5  Hoạt động thanh toán thẻ tại ngân hàng thương mại ………………………………………….. 8

2.5.1 Chủ thể tham gia vào hoạt động thanh toán thẻ ………………………………………….. 8

2.5.2 Quy trình phát hành và thanh toán thẻ ……………………………………………………… 9

2.6  Nhân tố tác động đến hoạt động thanh toán thẻ …………………………………………….  11

2.7  Rủi ro trong hoạt động thanh toán thẻ…………………………………………………………… 12

2.7.1 Rủi ro trong phát hành………………………………………………………………………. 12

2.7.2 Rủi ro trong thanh toán……………………………………………………………………… 13

2.7.3 Rủi ro về đạo đức ……………………………………………………………………………. 13

 

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ TRONG 2007_2009

3.1. Tình hình chung hoạt động thanh toán thẻ của các NHTM ở Việt Nam……………………. 14

3.2. Thực trạng thanh toán thẻ của  3 NHTM: Sacombank, Đông Á, Vietcombank………… 15

3.3. Các loại thẻ hiện nay của các ngân hàng …………………………………………………………… 17

3.3.1.   Ngân hàng Đông Á………………………………………………………………………………. 17

3.3.2.   Vietcombank………………………………………………………………………………………. 17

3.3.3.   Sacombank………………………………………………………………………………………… 18

CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM  HOÀN THIỆN – PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ CỦA NGÂN HÀNG THUONG MẠI Ở VIỆT NAM

4.1. Đánh giá hoạt động kinh doanh thẻ của các NHTM Việt Nam. …………………………….. 19

4.1.1  Những thuận lợi ………………………………………………………………………………….. 19

4.1.2  Những khó khăn …………………………………………………………………………………. 20

4.2. Đánh giá tìm năng hoạt động thẻ ờ An Giang ……………………………………………………… 21

4.3. Giải pháp…………………………………………………………………………………………………….. 21

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ………………………………………………………………………………… 25

 


 

DANH MỤC CHỮ  VIẾT TẮT

 

CSCNT

Cơ sỡ chấp nhận thẻ

ĐVCNT

Đơn vị chấp nhận thẻ

HMTD

Hạn mức tín dụng

NH

Ngân hàng

NHTM

Ngân hàng thương mại

NHTT

Ngân hàng thanh toán

NHNH

Ngân hàng Nhà nước

TMCP

Thương mại cổ phần

TCTQT

Tổ chức thẻ quốc tế

TP

Thành phố

TTKDTM

Thanh toán không dùng tiền mặt

TCTD

Tổ chức tín dụng

UBND

Ủy Ban Nhân Dân

 DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH

Bảng 3.1:  Doanh thu thanh toán của 3 ngân hàng

Vietcombank,Đông Á, Sacombank …………………………………………………………..

Bảng 3.2:  Số lượng thẻ phát hành ……………………………………………………………………………

Hình 1:     Biểu đồ doanh thu thanh toán……………………………………………………………………..

Hình 2:     Biểu đồ biểu hiện số lượng thẻ phát hành………………………………………………………

CHƯƠNG I:  GIỚI THIỆU

—–|——

1.1 Lý do chọn đề tài:

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, thanh toán không dùng tiền mặt đã và đang trở thành phương tiện thanh toán phổ biến, được nhiều quốc gia khuyến khích sử dụng, đặc biệt là đối với các giao dịch thương mại, các giao dịch có giá trị và khối lượng lớn. Nhằm bắt kịp tiến trình phát triển của các nước trên thế giới, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã và đang dần phát triển cũng như cung cấp cho khách hàng những sản phẩm dịch vụ thẻ với nhiều tính năng vượt trội, nhiều tiện ích, giúp khách hàng có thể tiết kiệm thời gian, tăng tính an toàn cho tài khoản của khách hàng . Thẻ ngân hàng xuất hiện là sự kết hợp của khoa học kỹ thuật với công nghệ quản lý ngân hàng. Sự ra đời của thẻ là một bước tiến vượt bậc trong hoạt động thanh toán thông qua ngân hàng .Bên cạnh hoạt động thẻ còn nhằm mang lại nguồn vốn huy động với lãi suất thấp cho ngân hàng. Nhằm tìm hiểu sâu hơn về hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong lĩnh vực thẻ nên nhóm chọn đề tài :” Đánh giá hoạt động kinh doanh thẻ hiện nay của các NHTM tại Việt Nam”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài nhằm đạt một số mục tiêu sau:

Tìm hiểu sản phẩm thẻ của ngân hàng thương mại

Đánh giá hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng thương mại Việt Nam

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng thương mại

1.3  Phạm vi nghiên cứu

ô Thời gian:

Thời gian nghiên cứu đề tài từ 15/6/2010 đến 10/7/2010

Do hạn chế thời gian nghiên cứu nên chỉ tập trung hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2007-2009

ô Không gian:

Tập trung 3 ngân hàng điển hình : Sacombank, Đông Á, Vietcombank

Đi sâu vào đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ, không khai thác nhiều những lĩnh vực chuyên môn thuộc công nghệ thẻ

 

 

 

 

1.4 Phương pháp nghiên cứu

ô Thu thập số liệu:

Từ internet,các bảng cáo bạch của những ngân hàng trong khoảng 2007-2009, các bài báo liên quan về hoạt động thẻ của ngân hành thương mại tại Việt Nam

ô  Xử lý số liệu

Dùng phương pháp so sánh để đánh giá xu hướng chung về số lượng thẻ phát hành và doanh số thanh toán qua thẻ.

CHƯƠNG II:   CƠ SỞ LÝ THUYẾT

—–|——

2.1.            Khái niệm thẻ [1]

Thẻ ATM là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do các ngân hàng hay các tổ chức tài chính phát hành và cung cấp cho khách hàng. Khách hàng có thể sử dụng thẻ này để gửi hoặc rút tiền tại các ngân hàng hay các máy rút tiền tự động  (ATM) hoặc có thể thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ.

Tại Việt Nam thẻ ATM thường được hiểu là thẻ ghi nợ, hay còn gọi là thẻ ghi nợ nội địa là loại thẻ có chức năng rút tiền dựa trên cơ sở ghi nợ vào tài khoản. Chủ tài khoản phải có sẵn tiền trong tài khoản từ trước và chỉ được rút trong giới hạn tiền có trong tài khoản của mình. Một số ngân hàng cho phép rút đến mức 0 đồng, tuy có một số ngân hàng khác yêu cầu bắt buộc phải để lại một số tiền tối thiểu trong tài khoản.

Tuy nhiên, trong thực tế thẻ ghi nợ vẫn có thể rút tiền ở mức âm, hay rút thấu chi, như một dịch vụ tín dụng giá trị gia tăng mà các ngân hàng triển khai cho các chủ tài khoản dựa trên cơ sở có tài sản thế chấp, có sự tin cậy nhất định, hoặc thực hiện phương thức trả lương qua tài khoản.

Thẻ ATM trong thực tế còn là tên gọi khái quát, chung nhất cho các loại thẻ sử dụng được trên máy giao dịch tự động (ATM), bao gồm trong nó cả các loại thẻ tín dụng (như thẻ Visa, MasterCard, thẻ American Express). Thẻ tín dụng dựa trên yếu tố hạn mức tín dụng, theo đó tùy loại thẻ và tùy khách hàng, ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng nhất định. Hạn mức tín dụng là số tiền tối đa chủ thẻ được chi tiêu trong một khoảng thời gian nào đó (1 tháng, 45 ngày hay hơn). Khách hàng có thể rút số tiền được ngân hàng cấp đó trong thời hạn nhất định và buộc phải thanh toán khi đáo hạn. Nếu quá hạn mức tín dụng chưa thanh toán kịp ngân hàng sẽ tính lãi suất cao.

Điểm khác biệt của loại thẻ tín dụng này so với thẻ ghi nợ nói trên, ngoài yếu tố tín dụng như một đặc điểm ngày càng mờ nhòe (vì trong thực tế thẻ ghi nợ vẫn có thể chấp nhận tín dụng, và thẻ tín dụng vẫn có thể rút tiền dựa trên yếu tố ghi nợ vào tài khoản), là thẻ tín dụng thường có thể thực hiện tại các điểm chấp nhận giao dịch bằng thẻ trên toàn cầu, khác biệt với loại thẻ ghi nợ nội địa chỉ chấp nhận giao dịch trong nước (hoặc hạn chế ở vùng mậu biên các quốc gia lân cận).

2.2.            Đặc điểm cấu tạo của thẻ

Chiếc thẻ ATM, từ khi mới ra đời cho tới nay đã có nhiều thay đổi mục đích là muốn tăng thêm độ an toàn và tiện dụng hơn cho khách hàng. Ngày nay với sự phát triển của công nghệ thông tin dẫn đến có một số loại thẻ được gắn thêm một con chip điện tử nhằm làm tăng độ an toàn cho thẻ, tăng khả năng lưu trử cho thẻ.

Hầu hết các loại thẻ hiện nay điều được cấu tạo bằng nhựa cứng (plastis), có kích cở 84mm x 54mm x 0,76mm, các góc điều được gọt tròn gồm có hai mặt:

Mặt trước của thẻ:

ü      Tên, biểu tượng thẻ và huy hiệu của tổ chức phát hành thẻ.

ü      Số thẻ: là số dành riêng cho mối chủ thẻ, số này được làm nổi trên thẻ.

ü      Ngày hiệu lực của thẻ: là thời hạn mà thẻ này được lưu hành.

ü      Họ và tên chủ thẻ.

Mặt sau của thẻ:

Dãy băng tầng có khả năng lưu trử thông tin như: số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ, tên ngân hàng phát hành,mã số Pin,

chữ ký mẫu của chủ thẻ

2.3    Phân loại thẻ

Thẻ có rất nhiều loại, dựa vào những tiêu chí khác nhau thì có các loại thẻ khác nhau. Chẳng hạn:

 

2.3.1.            Phân loại theo đặc tính của thẻ

               Thẻ băng từ (Magnetic Stripe): là loại thẻ nhựa, mặt sau của thẻ có một băng từ. Thẻ này được sử dụng phổ biến nhất hiện nay.

Thẻ thông minh ( thẻ có bộ xử lý chip): là thế hệ mới nhất của thẻ ATM, do có con “chip” nên độ an toàn của thẻ cao hơn nhiều thẻ băng từ.

2.3.2.            Phân loại theo chủ thẻ phát hành

Thẻ do ngân hàng phát hành: là loại thẻ giúp khách hàng sử dụng linh hoạt tài khoàn của mình tại ngân hàng, loại thẻ này hiện đang sử dụng rất phổ biến không những trong nước mà còn cả thế giới.

Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: là các loại thẻ du lịch, giải trí do các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành và được lưu hành trên toàn cầu.

2.3.3.             Phân loại theo tính chất thanh toán.

Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ mà khi sử dụng chủ thẻ được ngân hàng cấp cho một hạn mức gọi là hạn mức tín dụng và không phải trả lãi nếu chủ thẻ hoàn trả số tiền đó đúng kỳ hạn. Thẻ này dùng để mua sắm hàng hóa, dịch vụ tại các cơ sở kinh doanh, siêu thị, khách sạn…. có chấp nhân loại thẻ này.

Thẻ ghi nợ (Debit Card): là phương tiện thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hay rút tiền mặt trên cơ sở số tiền có trong tài khoản tại ngân hàng. Thẻ ghi nợ khác thẻ tín dụng ở chổ thẻ tín dụng khách hàng chi tiêu theo hạn mức tín dụng do ngân hàng cấp, còn thẻ ghi nợ khách hàng chi trực tiếp trên tài khoản tiền gởi của mình tại ngân hàng

Thẻ rút tiền mặt ( Cash Card): là một hình thức của thẻ ghi nợ song chỉ có một chức năng duy nhất là rút tiền mặt tại các máy ATM hoặc ở ngân hàng.

2.3.4.            Phân loại theo hạn mức tín dụng. 

Thẻ thường (Standard Card): đây là loại thẻ được sử dụng phổ biến, hạn mức tín dụng tùy theo từng ngân hàng qui định.

Thẻ vàng (Gold Card): là loại thẻ phát hành cho nhửng khách hàng cao cấp, có mức thu nhập, mức sống và nhu cầu tài chính cao. Loại thẻ này tùy theo từng vùng mà có hạn mức tín dung khách nhau.

2.3.5.            Phân loại theo phạm vi sử dụng:

Thẻ trong nước: Có 2 loại

Local use only card : là loại thẻ do tổ chức tài chính và ngân hàng trong nước phát hành, chỉ được dùng trong nội bộ tổ chức phát hành

Domestic use only card : là thẻ thanh toán mang thương hiệu tổ chức thẻ quốc tế được phát hành để sử dụng trong nước

Thẻ quốc tế (International Card): là loại thẻ không chỉ dùng tại quốc gia nơi phát hành thẻ mà còn dùng được trên phạm vi quốc tế. Để phát hành được loại thẻ này thì ngân hàng phát hành phải có mối liên hệ với các ngân hàng quốc tế.

2.4 Tiện ích và hạn chế khi sử dụng thẻ ATM.

2.4.1.            Tiện ích

ô Đối với ngân hàng phát hành:

Khoản lệ phí phải trả điều đặng hàng năm để sử dụng dịch vụ thẻ, tạo nguồn thu điều đặng hàng năm cho ngân hàng.

Chủ thẻ nạp tiền vào tài khoản để sử dụng thẻ, ngân hàng củng có thêm một khoản huy động từ tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng.

Để có thể sở hữu thẻ, thông thường chủ thẻ phài có thế chấp hoặc có số dư tài khoản ở một mức nhất định theo qui định của ngân hàng. Điều này làm cho số dư tài khoản tiền gửi của nagn6 hang tăng lên đáng kể.

Việc đặt các máy ATM hay liên hệ với các cơ sở chấp nhận thẻ mới củng góp phần mở rộng địa bàn hoạt động của ngân hàng. Điều này rất có ích đối với những nơi mà việc mở chi nhánh là rất tốn kém.

ô Đối với chủ thẻ:

Đã được ngân hàng cung cấp cho một dịch vụ gửi tiền và thanh toàn có độ an toàn cao, bảo mật và tiện lợi. Ngày nay, với sự phát triển ngày càng cao của trình độ kỷ thuật thì việc làm thẻ giả trở nên khó khăn hơn diều này đồng nghĩa với việc các chủ thẻ yên tâm hơn về khoản tiền của mình. Thêm nửa,khi các cở sở chấp nhận thẻ ngày càng nhiều, các máy ATM ngày càng trở nên phổ biến thì việc thanh toán trở nên lý tưởng hơn cho các chủ thẻ.

Với việc ngân hàng cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng trong thẻ tín dụng để thanh toán tiền hàng hóa mà không cần phải trả bất cứ một khoản lãi nào, như vậy ngân hàng đã tạo điều kiện cho khách hàng mở rộng khả năng thanh toán. Ngoài ra, nếu khách hàng có số dư trong tài khoản nếu không sử dụng thì khoản tiền này sẽ được hưởng một mức lãi suất không kỳ hạn.

Ngoài ra, khi sử dụng thẻ thì ngân hàng không phải mang theo một lượng lớn tiền mặt nên khỏi lo gặp rủi ro bị mất cấp, bảo quản khó khăn.

ô Đối ngân hàng thanh toán:

Trong qui trình thanh toán thẻ, các ngân hàng phát hành thẻ thường mở tài khoản tại các ngân hàng thanh toán cho tiện việc thanh toán, tạo điều kiện làm tăng lưu lượng tiền gửi và nguồn huy động cho ngân hàng thanh toán.

Với các khoản phí như: phí rút tiền – gửi tiền, chiết khấu thương mại… ngân hàng thương mại có một khoản thu nhập tương đối ổn định.

ô Đối với cơ sở chấp nhận thẻ:

Với việc cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng đã tạo điều kiện cho khách hàng chi vượt khả năng thanh toán của mình. Điều này đã làm tăng sức mua của khách hàng làm cho lượng hàng hóa dịch vụ tiêu thụ nhiều hơn dẫn đến các cơ sở cháp nhận thẻ ngày càng tăng lên.

Khi chấp nhận thanh toán thẻ thì các cơ sở sẽ giảm thiểu chi phí về quản lý tiền mặt như: bảo quản, kiểm đếm, ….

Ngoài ra, đối với một số cơ sở, việc chấp nhận thanh toán bằng thẻ cũng là điều kiện để được hưởng những ưu đải của ngân hàng về tín dụng, dịch vụ thanh toán….

2.4.2.            Hạn chế.

Khi sử dụng thẻ khách hàng không chỉ than phiền về chất lượng giao dịch, mà còn khiếu nại mất tiền từ thẻ rút tiền tự động (ATM), mất đủ kiểu, phiền đủ cách! Cho thấy các ngân hàng chưa thật sự tạo được an toàn cho người sử dụng.

Tình trạng hết tiền ở nhiều máy ATM hay xảy ra, nhất là ngày thứ bảy và chủ nhật, ngày chi trả lương cuối tháng và cũng là ngày khách hàng cần đi mua sắm. Điều này sẽ làm cho người sử dụng rất phiền toái và khó khăn.

Người dân vẫn còn thói quen thích sử dụng tiền mặt, do đó thẻ ATM chưa được sử dụng rộng khắp.

Hệ thống ATM đôi khi còn bị gián đoạn do các nguyên nhân chủ quan từ ngân hàng. Hiện tượng thẻ bị nuốt thường xẩy ra, tình trạng không nhận thẻ do băng từ trên thẻ không tốt.

Chưa thể liên minh kết nối thành một hệ thống ATM trong cả nước. Nếu như ở nước ngoài thì các máy ATM của các ngân hàng khác nhau đều có thể được kết nối với nhau. Còn ở Việt Nam thì khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng nào thì phải rút tiền ở máy ATM của ngân hàng đó.Gần đây có 1 số ngân hàng đã liên kết lại với nhau nhưng số đó vẫn còn rất ít.

Tại Việt Nam khả năng phân biệt đồng tiền (theo mệnh giá) của máy ATM đang bị đánh giá thấp. ATM trên thế giới đều được thiết kế với việc xác định mệnh giá tiền đưa ra khi chi trả cho khách hàng qua các trang thiết bị cảm ứng về độ dày, chiều rộng của tờ tiền. Tuy nhiên các mệnh giá tiền của Việt Nam hiện nay được thiết kế và sản xuất tương đương nhau về kích cở, độ dày nên các chức năng trên chưa phát huy được hiệu quả

 2.5. Hoạt động thanh toán thẻ tại ngân hàng thương mại

2.5.1 Chủ thể tham gia vào hoạt động thanh toán thẻ

Sơ đồ trên cho thấy một giao dịch thanh toán gồm 5 chủ thể tham gia

ó Tổ chức thẻ quốc tế : là tổ chức đứng ra liên kết các thành viên là các ngân hàng, tổ chức tín dụng, các công ty phát hành thẻ, đặt ra các quy tắc bắt buộc các thành viên phải áp dụng thống nhất theo một hệ thống toàn cầu. Bất cứ ngân hàngào hiện nay hoạt động trong lĩnh vực thanh toán thẻ quốc tế đều phải là thành viên của một tổ chức thẻ quốc tế. Mỗi tổ chức thẻ quốc tế đều phải có tên sản phẩm của mình. Khác với ngân hàng thành viên, tổ chức thẻ quốc tế không có quan hệ trực tiếp với chủ thẻ hay cơ sở chấp nhận thẻ, mà chỉ cung cấp một mạng lưới viễn thông toàn cầu phục vụ cho quy trình thanh toán, cấp phép cho các ngân hàng thành viên một cách nhanh chóng

ó Ngân hàng phát hành: là ngân hàng được sự cho phép của tổ chức thẻ hoặc công ty thẻ trong việc phát hành thẻ mang thương hiệu của mình. Ngân hàng phát hành trực tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản thẻ của khách hàng, quy định các điều khoản, điều kiện sử dụng thẻ cho khách hàng là chủ thẻ. Ngân hàng phát hành có quyền ký hợp đồng đại lý với bên thứ 3 là một ngân hàng hay một tổ chức tín dụng khác trong việc thanh toán hoặc phát hành thẻ. Từng định kỳ, ngân hàng phát hành phải lập bảng sao kê ghi rõ các khoản cụ thể đã sử dụng và yêu cầu thanh toán đối với chủ thẻ tín dụng hoặc khấu trừ trực tiếp vào tài khoản của chủ thẻ ghi nợ

ó Ngân hàng thanh toán: là ngân hàng chấp nhận các giao dịch thanh toán thẻ với các điểm cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Qua việc ký kết hợp đồng, các điểm cung cấp hàng hóa , dịch vụ này được chấp nhận vào hệ thống thanh toán thẻ của ngân hàng, ngân hàng sẽ cung cấp các thiết bị đọc thẻ đào tạo nhân viên về dịch vụ thanh toán thẻ, quản lý và xử lý những giao dịch thẻ diễn ra tại địa điểm này. Trên thực tế, rất nhiều ngân hàng vừa là ngân hàng phát hành, vừa là ngân hàng thanh toán.

ó  Chủ thẻ: là cá nhân hay người được ủy quyền được ngân hàng cgo phép sử dụng thẻ để chi trả các hàng hóa, dịch vụ hay rút tiền mặt theo những điều kiện, quy định của ngân hàng. Một chủ thể có thể sở hữu một hay nhiều thẻ.

ó Cơ sở chấp nhận thẻ: là các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ có ký kết với ngân hàng thanh toán về việc chấp nhận thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ mà mình cung cấp bằng thẻ

      2.5.2 Quy trình phát hành và thanh toán thẻ

                        2.5.2.1 Quy trình phát hành thẻ

Khách hàng đến ngân hàng phát hành đề nghị mua thẻ và hoàn thành một số thủ tục cần thiết như điền vào giấy tờ xin cấp thẻ, trình một số giấy tờ khác như: giấy thông hành, biên lai trả lương…

Khi nhận đủ hồ sơ, ngân hàng tiến hành thẩm định lại. Thông thường ngân hàng xem xét lại hồ sơ lập đúng chưa, tình hình tài chính ( nếu khách hàng là công ty)  hay các khoản thu nhập thường xuyên của khách hàng ( nếu là cá nhân ) hoặc số dư trên tài khoản tiền gửi của khách hàng mối quan hệ tín dụng trước đây( nếu có)

Nếu hồ sơ cấp thẻ hoàn toàn phù hợp, ngân hàng có thể tiến hành phân loại khách hàng. Đối với thẻ ghi nợ, việc phát hành thẻ đơn giản vì khách hàng đã có tài khoản tại ngân hàng. Đối với thẻ tín dụng, ngân hàng phải tiến hành phân loại khách hàng để có một chính sách tín dụng riêng . Thông thường có 2 loại hạn mức tín dụng:

ÇHạn mức theo thẻ vàng: thường cấp cho các nhân vật quan trọng, có thu nhập cao và ổn định. Hạn mức tín dụng theo thẻ vàng thường cao hơn nhiều so với thẻ thường.

ÇHạn mức thẻ thường: Hạn mức tín dụng theo thẻ thường thấp hơn nhiều so với the vàng, chủ yếu cung cấp cho người bình dân. Nhưng khách hàng cũng phải đủ tiên chuẩn để nhận thẻ tín dụng

Sau khi thẩm định và phân loại khách hàng , nếu khách hàng đáp ứng đủ điều kiện, ngân hàng tiến hành phát hành thẻ cho khách hàng. Trước khi giao thẻ ngân hàng yêu cầu chủ thẻ ký tên, và đăng ký chữ ký mẫu ở ngân hàng. Sau đó bằng kỹ thuật riêng, từng ngân hàng tiến hành ghi nhũng thông tin cần thiết về chủ thẻ lên thẻ, đồng thời ấn định và mã hóa mã số cá nhân( số Pin) cho chủ thẻ, nhập dự liệu về chủ tẻh vào tập tin quản lýầu chủ thẻ giữ bí mật. Nếu mất tiền do để lộ số Pin thì chủ thẻ hoàn toàn chịu trách nhiệm

Sau khi giao thẻ cho khách hàng coi như nhiệm vụ phát hành thẻ kết thúc. Thời gian kể từ khi khách hàng đề nghị mua thẻ đến khi nhận được thẻ thường không quá 6 ngày

2.5.2.2 Quy trình thanh toán thẻ:

Các đơn vị, cá nhân đến ngày phát hành xin được sử dụng thẻ ( ký quỹ hoặc vay). Ngân hàng phát hành cung cấp thẻ cho người sử dụng và thông báo cho ngân hàng đại lý và cơ sở tiếp nhận thanh toán thẻ.

Người sử dụng thẻ mua hàng hóa, dịch vụ và giao thẻ cho cơ sở chấp nhận thẻ

Rút tiền ở máy ATM hoặc ngân hàng đại lý

Trong vòng 10 ngày, cơ sở chấp nhận thẻ nộp biên lai vào ngân hàng đại lý để đòi tiền.

Trong vòng 1 ngày, ngân hàng đại lý trả tiền cho cơ sở chấp nhận thẻ.

Ngân hàng đại lý chuyển biên lai để thanh toán, lập bảng kê cho ngân hàng phát hành qua tổ chức thẻ quốc tế (TCTQT).

Ngân hàng phát hành thẻ hoàn lại số tiền mà ngân hàng đại lý đã thanh toán cũng thông qua tổ chức thẻ quốc tế.

Người sử dụng thẻ muốn sử dụng nữa hoặc sử dụng hết số tiền trên thẻ thì ngân hàng phát hành hoàn tất quá trình sử dụng thẻ.

Tại ngân hàng thanh toán: khi tiếp nhận hóa đơn và bảng kê, ngân hàng phải tiến hành kiểm tra tính hợp lệ của các thông tin trên hóa đơn. Nếu không có vấn đề gì, ngân hàng tiến hành ghi nợ vào tài khoản của mình và ghi có vào tài khoản của cơ sở chấp nhận thẻ. Việc ghi sổ này phải tiến hành ngay trong ngày nhận hóa đơn và chứng từ của cơ sở chấp nhận thẻ. Sau đó ngân hàng thanh toán tổng hợp dữ liệu, gửi đến trung tâm xử lý dữ liệu (trường hợp nối mạng trực tiếp). Nếu ngân hàng thanh toán không được nối mạng trực tiếp thì gửi hóa đơn, chứng từ đến ngân hàng mà mình làm đại lý thanh toán.

Tại trung tâm: sẽ tiến hành chọn lọc dữ liệu, phân loại để bù trừ giữa các ngân hàng thành viên. Việc xử lý bù trừ, thanh toán được thức hiện thông qua ngân hàng thanh toán và ngân hàng bù trừ.

Tại ngân hàng phát hành: khi nhận thông tin dữ liệu từ trung tâm sẽ tiến hành thanh toán. Định kỳ trong tháng, ngân hàng phát hành lập bảng sao kê báo cho chủ thẻ các khoản thẻ đã sử dụng và yêu cầu chủ thẻ thanh toán (đối với thẻ tín dụng).

2.6  Nhân tố tác động đến hoạt động thanh toán thẻ

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán thẻ, mỗi nhân tố có chiều hướng tác động đến hoạt động thanh toán thẻ nhưng nhìn chung các nhân tố có thể chia thành hai nhóm:

ô Nhóm nhân tố khách quan:

_Trình độ dân trí và thói quen tiêu dùng của người dân: trong một xã hội mà trình độ dân trí cao, các phát minh, ứng dụng của khoa học kỹ thuật công nghệ cao sẽ dễ dàng tiếp cận với người dân. Tiêu dùng thông qua thẻ là một cách thức tiêu dùng hiên đại, nó sẽ dễ dàng xâm nhập và phát triển hơn với những cộng đồng dân trí cao và ngược lại. Cũng như vậy, thói quan tiêu dùng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của dịch vụ thẻ. Khi người dân quen với việc thanh toán các dịch vụ, hàng hóa bằng tiền mặt họ sẽ có ít nhu cầu về thanh toán thông qua thẻ.

_Thu nhập của người dùng thẻ: thu nhập con người cao lên, những nhu cầu của họ cũng ngày càng phát triển, việc thanh toán đối với họ đòi hỏi một sự thỏa dụng cao hơn, nhanh chóng hơn, an toàn hơn. Việc sử dụng thẻ đáp ứng rất tốt nhu cầu này. Hơn nữa, ngân hàng chỉ có thẻ cung cấp dịch vụ cho những người có một mức thu nhập hợp lý, những người có thu nhập thấp sẽ không đủ điều kiện sử dụng dịch vụ này.

_Môi trường pháp lý: việc kinh doanh dịch vụ thẻ tại bất kỳ quốc gia nào đều được tiến hành trong một khuôn khổ pháp lý nhất định. các quy chế, quy định về thẻ sẽ gây ra ảnh hưởng 2 mặt: có thể theo hướng khuyến khích việc kinh doanh và sử dụng thẻ nếu có những quy chế hợp lý, nhưng mặt khác những quy chế quá chặt chẽ, hoặc quá lỏng lẻo có thể mang lại những ảnh hưởng tiêu cực tới việc phát hành và thanh toán thẻ.

_ Môi trường công nghệ: hoạt động thanh toán thẻ chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi trình độ khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin. Đối với một quốc gia có công nghệ khoa học phát triển, các ngân hàng nước này có thể cung cấp dịch vụ thẻ với sự nhanh chóng và an toàn cao hơn. Chính vì thế, việc luôn luôn đầu tư nâng cấp công nghệ, nghiên cứu khoa học là những việc làm vô cùng cần thiết để nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như bảo mật cho hoạt động ngân hàng.

_ Môi trường cạnh tranh: đây là yếu tố quyết định đến việc mở rộng và thu hẹp thị phần của một ngân hàng khi tham gia vào thị trường thẻ. Nếu trên thị trường chỉ có một ngân hàng cung cấp dịch vụ thẻ thì ngân hàng đó sẽ có được lợi thế độc quyền nhưng giá phí lại có thể rất cao và thị trường khó trở nên sôi động. Nhưng khi nhiều ngân hàng tham gia vào thị trường, cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt thì sẽ góp phần phát triển đa dạng hóa dịch vụ, giảm phí phát hành và thanh toán thẻ.

ô Nhóm nhân tố chủ quan:

_ Trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác thẻ: đội ngũ cán bộ có năng lực, năng động và có nhiều kinh nghiệm là một trong những yếu tố quan trọng để phát triển hoạt động dịch vụ thẻ, ngân hàng nào có sự quan tâm, có chính sách đào tạo nhân lực trong kinh doanh thẻ hợp  lý thì ngân hàng đó sẽ có cơ hội đẩy nhanh việc kinh doanh thẻ trong tương lai.

_Tiềm lực kinh tế và trình độ kỹ thuật công nghệ của ngân hàng thanh toán thẻ: điều này gắn liền với các máy móc thiết bị hiện đại nếu hệ thống máy móc này có trục trặc thì sẽ gây ách tắc trong toàn hệ thống. Vì vậy, đã đưa ra dịch vụ thẻ, ngân hàng phải đảm bảo một hệ thống thanh toán hiện đại, theo kịp yêu cầu của thế giới. Không những thế việc vận hành bão dưỡng, duy trì hệ thống máy móc phục vụ phát hành và thanh toán thẻ có hiệu quả sẽ làm giảm giá thành của dịch vụ, từ đó thu hút thêm người sử dụng. Để phục vụ cho phát hành và thanh toán thẻ ngân hàng cần trang bị một số máy móc như máy đọc hóa đơn, máy rút tiền tự động ATM và hệ thống điện thoại-Telex…

_Định hướng phát triển của ngân hàng: một ngân hàng nếu có định hướng phát triển dịch vụ thẻ thì phải xây dựng cho mình các kế hoạch, chiến lược marketing phù hợp, tham gia khảo sát các đối tượng khách hàng mục tiêu, tìm mọi cách để nâng cao tính tiện ích của thẻ cũng như sự thuận lợi cho người sử dụng thẻ thì ngân hàng đó sẽ có thể mở rộng và phát triển việc kinh doanh thẻ một cách bền vững và ổn dịnh.

2.7 Rủi ro trong hoạt động thanh toán thẻ

Kinh doanh thẻ được coi là khá an toàn so với các loại hình dịch vụ khác của ngân hàng. Tuy vậy, đối với các tổ chức phát hành và thanh toán thẻ, việc phòng ngừa và quản lý rủi ro vẫn là một vấn đề rất quan trọng. Rủi ro trong hoạt động thanh toán thẻ cuả ngân hàng nằm trong 2 khâu: phát hành thẻ và thanh toán thẻ.

2.7.1 Rủi ro trong phát hành

ò Đơn xin phát hành thẻ giả:

Do không thẩm định kĩ thông tin của khách hàng, ngân hàng có thể phát hành thẻ cho khách hàng đăng ký với những thông tin giả mạo. Và như vậy, ngân hàng có thể gặp rủi ro khi khách hàng không có khả năng thanh toán. Tuy vậy trên thực tế, điều này rất hiếm xảy ra vì hợp đồng thẻ rất dễ kiểm tra và có đảm bảo cao do có thế chấp hoặc tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng.

òChủ thẻ thật không nhận được thẻ đã phát hành:

Ngân hàng gửi thẻ cho chủ thẻ qua đường bưu điện nhưng trên đường vận chuyển thẻ bị đánh cấp và bị sử dụng mà chủ thẻ không hay biết gì về thẻ đã được gửi cho mình.Trong trường hợp này, ngân hàng phát hành thẻ phải chịu hoàn toàn phí tổn về những giao dịch đã được thực hiện

ò Tài khoản thẻ bị lợi dụng:

Rủi ro này phát sinh tại thời điểm ngân hàng gia hạn hoặc phát hành lại thẻ. Ngân hàng phát hành nhận được thông báo về thay đổi địa chỉ khách hàng và yêu cầu gửi thẻ đến địa chỉ mới. Do không kiểm tra tính xác thực của thông tin nên ngân hàng đẽ gửi thẻ đến địa chỉ mới theo yêu cầu của khách hàng nhưng đây không phải là yêu cầu của chủ thẻ thật. Tài khoản của chủ thẻ đã bị người khác lợi dụng. Điều này chỉ bị phát hiện khi ngân hàng nhận được sự liên hệ của chủ thẻ thật do không nhận được thẻ hoặc ngân hàng gửi yêu cầu thanh toán cho chủ thẻ.

 

2.7.2 Rủi ro trong thanh toán

Đây là khâu thường xảy ra rủi ro trong kinh doanh thẻ. Rất nhiều rủi ro đã xảy ra cho các tổ chức phát hành và thanh toán thẻ trong khâu này.

ò Thẻ giả:

Thẻ bị làm giả bởi các tổ chức tội phạm hoặc cá nhân làm giả căn cứ theo thông tin có được từ các chứng từ giao dịch của thẻ hoặc thẻ mất cắp, thất lạc. Thẻ giả được sử dụng để tạo ra các giao dịch giả mạo gây tổn thất cho các ngân hàng đã phát hành.

òThẻ bị mất cấp, thất lạc

Trong lưu hành thẻ, trường hợp này rất dễ xảy ra đối với khách hàng và ngân hàng. Trong trường hợp thẻ bị mất, chủ thẻ không thông báo kịp cho ngân hàng  dẫn đến thẻ bị người khác lợi dụng gây ra các giao dịch giả mạo làm tổn thất cho khách hàng. Ngoài ra với những thẻ này, các tổ chức tội phạm có thể mã hóa lại thẻ, thực hiện giao dịch, trường hợp này đem lại rủi ro cho bản thân ngân hàng phát hành.

òThẻ được tạo băng từ giả

Đây  là loại hình giả mạo thẻ sử dụng công nghiệp cao, trên cơ sở thông tin của khách hàng trên băng từ của cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ các tổ chức tội phạm sử dụng các phần mềm mã hóa và tạo ra các băng từ giả trên thẻ và thực hiện các giao dịch.

Điều này dẫn đến rủi ro cho cả ngân hàng phát hành, ngân hàng thanh toán và chủ thẻ. Loại hình giả mạo thường xuất hiện ở những nước có dịch vụ thẻ phát triển cao.

2.7.3 Rủi ro về đạo đức

Đây là rủi ro xảy ra khi nhân viên cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ cố tình in nhiều bộ hóa đơn thanh toán thẻ nhưng chỉ giao một bộ cho khách hàng, các hóa đơn còn lại sẽ được giả mạo chữ ký của khách hàng đưa đến ngân hàng thanh toán để yêu  cầu ngân hàng chi trả. Thiệt hại của rủi ro có thể làm ảnh hưởng đến cả ngân hàng phát hành và ngân hàng thanh toán

           CHƯƠNG 3:

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ TRONG 2007_2009

—–|——

 

3.1. Tình hình chung hoạt động thanh toán thẻ của các NHTM tại Việt Nam

Theo ngân hàng Nhà nước, các phương tiện và dịch vụ thanh toán có ứng dụng công nghệ thông tin tiếp tục có xu hướng phát triển mạnh. Tính đến đầu tháng 6/2010, số lượng thẻ phát hành trên phạm vi cả nước đã đạt trên 24 triệu thẻ với 48 tổ chức phát hành thẻ và hơn 190 thương hiệu thẻ cùng với gần 11.000 ATM và khoảng 37.000 thiết bị chấp nhận thẻ POS.Như vậy so với thời điểm cuối năm 2009, số lượng thẻ phát hành tăng thêm 14,3%, số lượng máy ATM được lắp đặt thêm cũng tăng tới 22,2%, số lượng POS tăng 9%.

Đặc biệt với việc 3 liên minh thẻ Banknet, VNBC và Smartlink kết nối liên thông thành công với nhau, đề án xây Trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất được đánh giá có được những bước tiến tích cực với việc kết nối hệ thống ATM, POS thành một hệ thống thống nhất trên toàn quốc.

Một kết quả khả quan khác là sau khi Ngân hàng Nhà nước trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 20/2007/CT-TTg ngày 24/8/2007 về trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách Nhà nước (Chỉ thị 20); đồng thời phối hợp với các NHTM, các Bộ, ngành liên quan, UBND các tỉnh, TP, Kho bạc Nhà nước, các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán … triển khai được nhiều nội dung công việc, việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo tinh thần Chỉ thị 20 đã hoàn thành giai đoạn 1, vượt mức về phạm vi địa bàn và lộ trình thực hiện, hiện tại đã triển khai đồng loạt tại 63/63 tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Trong các đối tượng hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, từ cuối năm 2007 đến cuối năm 2008, số đơn vị trả lương qua tài khoản đã tăng hơn 4 lần, từ 5.181 lên 21.562 đơn vị, số người nhận lương qua tài khoản đã tăng 3,7 lần từ 298.920 lên đến 1.132.442 người. Cuối năm 2008, hầu hết các cơ quan ở Trung ương đã triển khai cho 100% cán bộ công chức ở trụ sở chính như: Ngân hàng Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Giao thông Vân tải, Văn phòng Chủ tịch nước v.v.

Tuy nhiên, nhìn chung, thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam hiện nay vẫn chưa phát triển mạnh, tiền mặt vẫn là phương thức thanh toán chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực công,  doanh nghiệp và dân cư. Chất lượng, tiện ích mới trong thanh toán không dùng tiền mặt còn hạn chế, các tiện ích thiết thực và phổ biến (như thanh toán tiền điện, nước, điện thoại, truyền hình cáp) chưa được triển khai mạnh trên thực tế. Các dịch vụ thanh toán trực tuyến như Mobile Banking, Internet Banking,…  mới chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ hẹp,  chưa triển khai trên diện rộng để đáp ứng nhu cầu thanh toán nhỏ lẻ của khách hàng.

Bên cạnh đó, các ngân hàng thuộc ba liên minh thẻ ATM lớn đã cơ bản kết nối với nhau, vì thế trong thời gian tới, các ngân hàng này cũng sẽ triển khai kết nối hệ thống các điểm chấp nhận thẻ (POS), vừa giúp giảm chi phí lắp đặt hệ thống POS cho ngân hàng vừa giúp mở rộng hơn mạng lưới điểm chấp nhận thẻ.

Các ngân hàng của hệ thống liên minh thẻ VNBC bao gồm: DongA Bank, HabuBank, SaigonBank, CommonwealthBank, GP.Bank, DaiA Bank, PIBank, Ngân hàng MHB và Ngân hàng UOB.

Các ngân hàng trong liên minh thẻ Banknetvn bao gồm BIDV, Agribank, Vietinbank, Ngân hàng TMCP An Bình, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á, Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội, Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long, Ngân hàng TMCP Miền Tây, Ngân hàng TMCP Dầu khí Toàn cầu và ngân hàng quốc tế hàng đầu tại Việt Nam HSBC, SaigonBank, HabuBank.

Các ngân hàng trong liên minh Smartlink bao gồm Vietcombank, Techcombank, Eximbank, Asia Commercial Bank, Military Bank, Maritime Bank, North Asia Commercial Bank, Orient Commercial Bank, SEA Bank, Southern Bank, Shinhan Vina Bank, Indo Vina Bank, Nam Viet Bank, VP Bank, VIBank, ABBank, Habubank, HDBank, Viet A Bank, Saigon Bank, Pacific Bank, Viet-Nga Bank, Lao-Viet Bank, Ocean Bank, SH Bank, VID Public Bank…

Các ngân hàng trong liên minh Banknetvn – Smartlink bao gồm 5 ngân hàng thành viên của Banknetvn và Smartlink là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VietcomBank); Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank); Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV); Ngân hàng Công thương Việt nam (Vietinbank) và Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam (Techcombank).

Mặc dù các ngân hàng đều ghi nhận sự gia tăng đáng kể về con số tăng trưởng doanh thu thanh toán thông qua thẻ, nhưng nhìn chung tỷ trọng số lượng thẻ thanh toán sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng trên tổng số thẻ của từng ngân hàng còn rất hạn chế.

Tiềm năng của thị trường thanh toán qua thẻ là rất lớn và các ngân hàng đều ý thức được chuyện này nhưng để phát triển mạnh hơn nữa những kênh giao dịch này đòi hỏi phải có thời gian và sự hỗ trợ từ phía Nhà nước.

3.2. Thực trạng thanh toán thẻ của  3 NHTM: Sacombank, Đông Á, Vietcombank

 

Bảng 3.1:  Doanh thu thanh toán của 3 ngân hàng Vietcombank,Đông Á, Sacombank

Đơn vị tính :1000 đồng

 

2007

2008

2009

Vietcombank          2,496,674        3,365,385       4,335,628
Đông Á          2,346,000        3,175,000       4,000,000
Sacombank          2,235,000        3,120,000       3,850,000

Nguồn từ http://blog.yume.vn

 

 

 

Hình 1: Biểu đồ doanh thu thanh toán

Nhìn chung doanh thu thanh toán qua thẻ của các ngân hàng đang có khuynh hướng phát triển mạnh mẽ, đây là bước khởi sắc đáng kể cho các ngân hàng với mức lãi suất thấp nhưng vẫn huy động được một lượng lớn tiền mặt bởi nhiều nguyên nhân trong đó nổi bật nhất chính là những tiện ích cho chủ thẻ như :tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí đi lại, giúp cho mọi hoạt động giao thương diễn ra nhanh chóng giữa các chủ thể tham gia thanh toán qua thẻ. Việc thanh toán không dùng tiền mặt, cụ thể là bằng thẻ luôn giúp ích cho cả khách hàng và ngân hàng ở chổ không tốn chi phí cho việc bảo quản , kiểm điểm tiền mặt. Bên cạnh đây còn là xu hướng tất yếu của nền kinh tế hiện đại với sự bùng nổ những thành tựu của công nghệ thông tin trên nhiều lĩnh vực trong đó có cả những công nghệ  hữu ích cho việc thanh toán qua thẻ nên số lượng khách hàng thanh toán qua thẻ ngày càng gia tăng.

Bảng 3.2: Số lượng thẻ phát hành

Đơn vị tính : thẻ

 

 

2007

2008

2009

Vietcombank              49,547            72,941          100,826
Đông Á              28,732            45,765            64,038
Sacombank              26,376            39,875            59,842

Hình 2: Biểu đồ biểu hiện số lượng thẻ phát hành.

 

3.3. Các loại thẻ hiện nay của các ngân hàng

3.3.4.                  Ngân hàng Đông Á

  • Thẻ Đa năng Bác sỹ (Dr Card)
  • Thẻ Nhà giáo (Teacher Card)
  • Shopping card
  • Thẻ Tín dụng DongA Bank
  • Thẻ Đa năng CK Card
  • Thẻ Đa Năng Richland Hill
  • Thẻ liên kết sinh viên
  • Thẻ Đa Năng Đông Á

3.3.5.                  Vietcombank

  • Thẻ ghi nợ nội địa
  • Thẻ Vietcombank Connect24
  • Thẻ Vietcombank SG24
    • Thẻ ghi nợ quốc tế
    • Thẻ Vietcombank Mastercard Debit – Phong Cách
    • Thẻ Vietcombank Connect24 Visa
      • Thẻ tín dụng quốc tế
      • Thẻ Vietcombank Visa
      • Thẻ Vietcombank MasterCard
      • Thẻ Vietcombank American Express
      • Thẻ Vietcombank VietnamAirlines American Express (Bông Sen Vàng)

3.3.6.                  Sacombank

  • Thẻ tín dụng
  • Thẻ tín dụng quốc tế Sacombank Platinum- Sang trọng bậc nhất
  • Thẻ tín dụng quốc tế Sacombank Visa -Thế giới trong tầm tay
  • Thẻ tín dụng quốc tế Parkson Privilege – Tận hưởng niềm vui mua sắm
  • Thẻ tín dụng quốc tế OS Member – Driving your way
  • Sacombank Mastercard – Master your life
  • Thẻ tín dụng quốc tế Citimart – Mua sắm tiết kiệm hơn
  • Vay tiêu dùng với Thẻ tín dụng Family – Thẻ của mọi gia đình
  • Thẻ tín dụng quốc tế Ladies First – Sự lựa chọn khác biệt.
    • Thẻ ghi nợ
    • Thẻ ghi nợ quốc tế Sacom Visa Debit – Phương tiện mang tính toàn cầu
    • Thẻ ghi nợ PassportPlus – Thẻ thông hành vào thế giới giao dịch điện tử
    • Thẻ Ghi Nợ Viễn Thông A Club Card
      • Thẻ trả trước
      • Sacombank Lucky Gift Card – Hơn cả

CHƯƠNG 4:

ĐÁNH GIÁ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM  HOÀN THIỆN – PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ CỦA NGÂN HÀNG THUONG MẠI TẠI VIỆT NAM

—–|——

4.1. Đánh giá hoạt động kinh doanh thẻ của các NHTM Việt Nam.

4.1.1  Những thuận lợi :

ó Công nghệ thông tin trong những năm gần đây ở Việt Nam những bước tiến bộ nhanh chóng:

– Ngày nay, tốc độ phát triển của tin học được ví như vũ bão và ở Việt Nam,công nghệ thông tin là một ngành đang có tiến bộ vượt bậc. Ngân hàng có thể áp dụng những thành tựu trên thế giới cũng như những phần mềm và đội ngũ nhân lực trong nước để đáp ứng những đòi hỏi về mặt tin học công nghệ thẻ. Đây là một yếu tố quan trọng giúp ngân hàng phát triển tốt công tác phát hành và thanh toán  thẻ.

– Trong hoạt động thanh toán thẻ, hệ thông tin đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Thẻ là một thành tựu của công nghệ thông tin, chính vì thế để phát huy hết các tính năng ưu việt của thẻ, ngân hàng phát hành cần phải có một nền tảng công nghệ thông tin mạnh mẽ. Việc thanh toán thẻ không thể diễn ra suôn sẻ không có sự trợ giúp của hệ thống công nghệ thông tin.

ó Kinh tế :

Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà hội nhập và ngày càng phát triển, bước ngoặc đáng kể từ khi gia nhập WTO hoạt động giao thương ngày càng phát triển mạnh mẽ và xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt trở thành xu hướng tất yếu. Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng, hành lang pháp lý, mô hình tổ chức, các phương tiện và dịch vụ thanh toán.

            óXã hội

Đến nay, số đông người dân sống ở các thành phố lớn đã quen dần với việc sử dụng ATM để cất giữ khoản tiền thu nhập hàng tháng. Với thẻ ATM mọi người đã có thể dễ dàng thực hiện việc rút tiền, gửi tiền cho người khác ngay trên máy ATM.

Bên cạnh đó, một số ngân hàng cũng đã có ý tưởng tạo sự tiện ích thêm chức năng của thẻ đơn cử như ngân hàng Đông Á đã cải tiến chiếc thẻ và hệ thống máy ATM của mình có thể thực hiện nhu cầu gửi tiền vào tài khoản trực tiếp ngay trên máy ATM, không phải đến trực tiếp ngân hàng, ngoài ra còn có thể thực hiện thanh toán tiền điện, tiền nước, cước phí điện thoại tại một số nơi như Tp.HCM và Bình Dương.

Nối tiếp chiếc thẻ rút tiền tự động ATM, một số ngân hàng đã tranh thủ phát hành thẻ thanh toán. Mặc dù người tiêu dùng Việt Nam chưa có thói quen thanh toán qua thẻ nhưng với đà phát triển kinh tế của Việt Nam như hiện nay thì việc ứng dụng hình thức thanh toán điện tử sẽ phổ biến trong tương lai.

 

4.1.2  Những khó khăn:

Nhìn chung, thanh toán bằng tiền mặt còn rất phổ biến trong nền kinh tế. Tiền mặt vẫn là phương tiện thanh toán chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực doanh nghiệp và chiếm đại đa số trong các giao dịch thanh toán của khu vực dân cư.

Số người sử dụng dịch vụ ngân hàng chủ yếu là các doanh nghiệp lớn, lao động ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, nhân viên công sở có thu nhập cao và ổn định. Đại đa số dân cư, công chức, viên chức thuộc khu vực chính phủ, lao động thuộc các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa tiếp cận với các phương tiện và dịch vụ thanh toán;

Hạ tầng cơ sở và trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho hoạt động thanh toán thẻ vẫn còn những điểm hạn chế nhất định, số lượng máy ATM chỉ tập trung ở các thành phố lớn và các khu công nghiệp. Máy ATM chỉ có khả năng phục vụ cho một nhóm nhỏ ngaan hàng, chứ không có khả  năng sử dụng chung cho nhiều ngân hàng như thực tế ở nhiều nước hiện nay

Chất lượng, tiện ích và tính đa dạng về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt chưa phong phú. Khả năng đáp ứng nhu cầu của nhiều loại đối tượng sử dụng còn hạn chế. Các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt chưa đạt được tính tiện ích và phạm vi thanh toán để có thể thay thế cho tiền mặt. Phương thức giao dịch chủ yếu tiếp xúc trực tiếp và mặt đối mặt. Để được nhận một sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, các chủ thể tham gia thường phải đến các điểm giao dịch của ngân hàng. Phương thức giao dịch từ xa, dựa trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại như giao dịch qua internet, qua mobile, homebanking… chưa phát triển hoặc mới chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ hẹp;

Tính cạnh tranh trên thị trường dịch vụ ở mức thô sơ và phát triển dưới mức tiềm năng. Cạnh tranh bằng thương hiệu, chất lượng dịch vụ chưa phổ biến. Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, thay vì sáng tạo ra  sản phẩm mới hoặc tạo ra giá trị gia tăng trên sản phẩm cùng loại trên thị trường, lại chỉ tập trung vào yếu tố giá cả nhằm đánh bại đối thủ cạnh tranh. Điều này không chỉ làm tổn hại tới chính lợi nhuận của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trong hoạt động dịch vụ thanh toán, mà còn tổn hại tới sự gắn kết giữa chính bản thân ngân hàng và khách hàng, khi mà khách hàng không nhận thấy sự khác biệt giữa các sản phẩm của những ngân hàng khác nhau, vì vậy mà họ dễ dàng từ bỏ một sản phẩm dịch vụ mang thương hiệu này để đến với một sản phẩm có thương hiệu khác;

Phí dịch vụ thanh toán còn khá cao và khó chấp nhận đối với những giao dịch thanh toán mức trung bình, đặc biệt đối với các giao dịch liên ngân hàng và liên tỉnh. Ngoài ra, một số phương tiện thanh toán khi sử dụng khách hàng còn phải trả thêm phụ phí so với việc sử dụng tiền mặt;

Đội ngũ cán bộ làm công tác chuyên môn trong lĩnh vực thanh toán chưa đáp ứng được yêu cầu về trình độ chuyên môn, tác phong phục vụ và đạo đức nghề nghiệp.

ô Các nguyên nhân gây nên những hạn chế:

Thói quen và nhận thức: Sau đổi mới ngành ngân hàng, toàn bộ những yêu cầu quản lý tiền mặt áp dụng trước đó được loại bỏ. Tiền mặt trở thành một công cụ thanh toán không hạn chế về đối tượng và phạm vi sử dụng. Hầu hết chi phí liên quan đến tiền mặt trong lưu thông như in ấn, phát hành, thu huỷ, vận chuyển, bảo quản, an ninh là chi phí xã hội và do Nhà nước phải chịu. Cá nhân người thanh toán chỉ phải chịu phần chi phí nhỏ trong đó (kiểm đếm, vận chuyển), trong khi đó tiền mặt có điểm ưu việt rất lớn là thanh toán tức thời và vô danh, thủ tục đơn giản. Vì vậy, tiền mặt đã trở thành một công cụ rất được ưa chuộng trong thanh toán và từ lâu đã trở thành thói quen khó thay đổi của người tiêu dùng và nhiều doanh nghiệp. Thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán hiện nay là lực cản lớn trong việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt;

Thiếu động cơ kinh tế đủ mạnh để khuyến khích thanh toán không dùng tiền mặt: đối với nhiều đối tượng giao dịch, các công cụ và dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt không chứng tỏ có lợi ích hơn hẳn về kinh tế so với  tiền mặt. Ngược lại, thanh toán không dùng tiền mặt còn phải trả phí cho ngân hàng, thậm chí còn bị tính giá cao hơn (đối với một số đơn vị chấp nhận thẻ), không được chào đón tại các quầy thanh toán…

Kinh tế không chính thức phát triển: đây là nền kinh tế xuất phát từ đặc điểm sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo quy mô nhỏ, lẻ, với loại hình này thì khả năng tiếp nhận phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt là rất khó khăn. Ngoài ra, một bộ phận rất lớn của nền kinh tế không chính thức là kinh tế ngầm liên quan tới hoạt động buôn lậu, trốn thuế, gian lận thương mại, tham nhũng…, luồng luân chuyển tiền tệ phục vụ các hoạt động này có thể rất lớn. Đối với những người tham gia các giao dịch này, cho dù phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt có thuận tiện thì đó vẫn không phải là phương tiện thanh toán được lựa chọn, xuất phát từ nhu cầu che dấu nguồn gốc giao dịch và danh tính của đối tượng tham gia

Hành lang pháp lý trong lĩnh vực thanh toán chưa hoàn thiện, mặc dù trong thời gian vừa qua hành lang pháp lý trong lĩnh vực thanh toán đã cải thiện nhiều, song vẫn được đánh giá là chưa đầy đủ và đồng bộ, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến thanh toán điện tử và thương mại điện tử. Ví dụ như đối với giao dịch điện tử, chưa đủ cơ sở để các ngân hàng tổ chức triển khai các kênh giao dịch điện tử vì chưa tạo được một cơ chế tổng hợp điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử trong ngành ngân hàng, chưa có sự chấp nhận đồng bộ giao dịch điện tử, chứng từ điện tử giữa các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan (như Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan,…).

Vốn đầu tư vừa thiếu, vừa được sử dụng kém hiệu quả: từ giác độ các ngân hàng thương mại, vấn đề lớn nhất trong phát triển hoạt động thanh toán là những hạn chế về vốn đầu tư. Vốn đầu tư đòi hỏi phải rất lớn và thời gian thu hồi vốn dài hạn. Vì vậy, chỉ có những ngân hàng lớn, có tiềm lực mạnh về tài chính, chủ yếu là các ngân hàng thương mại Nhà nước hiện nay mới có khả năng tập trung đầu tư lớn về trang thiết bị phục vụ cho hoạt động thanh toán. Các ngân hàng nhỏ chủ yếu chọn cách chia sẻ mạng lưới với các ngân hàng lớn. Tuy nhiên, khả năng chia sẻ mạng lưới và hạ tầng kỹ thuật khác giữa các ngân hàng còn hạn chế, do các ngân hàng chưa tìm được tiếng nói chung để đi đến thoả thuận kết nối thống nhất nhằm chia sẻ hạ tầng kỹ thuật;

Cơ cấu tính phí dịch vụ thanh toán còn bất hợp lý, thể hiện ngay cả các giao dịch thanh toán qua ngân hàng nhà nước, cũng như trong nội bộ tổ chức tín dụng;

Trình độ cán bộ phục vụ cho hoạt động thanh toán rất bất cập, chủ yếu do công tác đào tạo cơ bản cũng như chuyên sâu trong lĩnh vực thanh toán chưa đáp ứng được yêu cầu. Thực tế này không chỉ phổ biến ở các ngân hàng thương mại, mà ngay cả ở Ngân hàng Nhà nước là cơ quan chịu trách nhiệm về quản lý Nhà nước trong thanh toán;

Thông tin tuyên truyền chưa được định hướng đúng đắn: công tác thông tin tuyên truyền chưa được quan tâm, chú trọng. Những mục tiêu chiến lược, định hướng và các chính sách lớn để phát triển hoạt động thanh toán chưa được công bố đầy đủ cho công chúng. Vì vậy, không chỉ người dân mà thậm chí nhiều doanh nghiệp còn rất ít hiểu biết hoặc hiểu biết mơ hồ về các dịch vụ thanh toán và phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt. Ngoài ra,  các phương tiện thông tin đại chúng đôi khi còn phản ánh thiên lệch, khai thác những yếu điểm, lỗi kỹ thuật hoặc những yếu tố tiêu cực mang tính cá biệt để đưa lên công luận, khiến cho thông tin đến với những người tiêu dùng thường một chiều, thậm chí sai lạc, gây mất lòng tin vào một công cụ thanh toán nào đó ngay từ khi mới bắt đầu phát triển;

Thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các Bộ, ngành , chính quyền địa phương các cấp trong việc tạo ra môi trường kinh tế, xã hội thuận lợi cho việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.

4.2. Đánh giá tìm năng hoạt động thẻ ờ An Giang.

Với sự phát triển khoa học công nghệ ngày nay,Thẻ ATM là một trong những phương tiện thanh toán hết sức là phổ biến và hiện đại trong việc thanh toán hàng hóa xuất nhập khẩu,trả lương qua thẻ cho các bộ công nhân viên chức để họ thanh toán trong các siêu thị,tại các quán nước lớn chấp nhận chi trả qua thẻ,…Bởi vì,mọi người nhận thấy thẻ ATM có nhiều nổi bật,sản phẩm thẻ đa dạng về màu sắc,kiểu dáng,hiện đại văn minh an toàn và hiệu quả tiết kiệm được chi phí.

+  Ngày nay thẻ ATM không chỉ những tầng lớp giàu có thượng lưu và cán bộ ngân hàng có thể sử dụng…thì bây giờ ngay cả giới sinh viên cũng có tấm thẻ này trong đó ngân hàng Đông Á  là ngân hàng chiếm lĩnh thị phần rất lớn trong giới sinh viên.

+    An giang là một vùng nông nghiệp sống chủ yếu dựa vào nông ngiệp vì vậy việc sử dụng thẻ ATM trong thanh toán còn rất nhiều hạn chế chưa được phổ biến,người dân chỉ thích sử dụng tiền mặt trong lưu thông hơn là thanh toán qua thẻ ATM do trình độ cũng như là sự hiểu biết của người dân còn thấp trong đó những người dân ở nông thôn chiếm phần lớn. Vì vậy đây cũng là một trong những đối tượng để phổ biến và tuyên truyền hướng dẫn cho những người dân tiệp cận và biết cách sử dụng.

+    Tuy nhiên, người dân nông thôn vẫn có thói quen dùng tiền mặt trong giao dịch, nên các ngân hàng phải có chiến lược quảng bá các tiện ích của thẻ ATM đến với người tiêu dùng. Hiện nay, các ngân hàng đang mở cuộc đua nước rút để lôi kéo khách hàng dùng thẻ ATM đến với mình, thông qua việc miễn giảm phí phát hành thẻ và thanh toán qua thẻ, giảm giá mua hàng hóa khi thanh toán bằng thẻ… để người tiêu dùng quen dần với việc sử dụng bằng thẻ ATM đa năng trong giao dịch hơn.

+   Hiện số lượng máy ATM ở Long Xuyên-An Giang còn rất hạn chế trong đó Ngân hàng Đông Á(13 máy),ngân hàng Vietcombank (7 máy),ngân hàng Đầu tư và Phát triển ( 5 máy ),…Nhìn chung sự cạnh tranh cũng như là sự xâm nhập vào thị trường thẻ An Giang gặp nhiều khó khăn và thách thức,vì vậy Ngành ngân hàng cần có những chiến lược làm sao cho người dân thấy hết tiện ích của thẻ ATM đa năng và mở rộng mạng lưới máy ATM, mở rộng các đối tượng sử dụng thẻ ATM

=>  Nhìn chung, thẻ ATM bây giờ thật sự là một công cụ hữu ích trong cuộc sống hiện đại, khách hàng có thể sử dụng thẻ bất cứ nơi nào, thanh toán qua mạng, mua sắm tại các siêu thị hay cửa hàng cũng như rút tiền mặt tại các ATM được bố trí rộng rãi khắp mọi nơi.

 

 

 

 

 

4.3. Giải pháp.

Mở rộng dịch vụ ngân hàng trong khu vực dân cư là một chủ trương  lớn của ngân hàng nhằm cải thiện tình hình thanh toán trong dân cư, tạo nên các thói quen sử dụng công cụ TTKDTM, phát triển thanh toán qua ngân hàng và thực thi tốt các chính sách tiền tệ. Mặt khác đối với ngân hàng đây là một hình thức huy động vốn mới, tập trung các nguồn vốn tiềm tàng trong dân cư vào các tài khoản cá nhân để đầu tư phát triển nên cần phải phát huy hơn nữa cũng như tạo những điều kiện thuận lợi về nhiều mặt:

óTạo ra môi trường pháp lý thuận lợi

Cũng như mọi hoạt động khác của đời sống kinh tế xã hội, hoạt động kinh doanh thẻ cũng cần đến môi trường pháp lý thuận lợi. Cho đến nay cơ sở pháp lý cao nhất và tương đối chi tiết nhất về mặt nghiệp vụ để các ngân hàng nước ta căn cứ vào đó triển khai cụ thể thêm là quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng do NHNN ban hành ngày 19/10/1999 theo quyết định số 371 /1999/QĐ-NHNN. Quy chế này ra đời đã góp phần làm thông thoáng hơn và hợp pháp hóa dịch vụ phát hành và thanh toán thẻ  ở nước ta. Tuy nhiên quy chế này chỉ đề cập về phương diện thanh toán kỹ thuật trong thanh toán thẻ chỉ mang tính chất cơ bản mà chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể . Thêm vào đó, khi thực thi quy chế này đã bộc lộ những bất cập. Yêu cầu NHTT thẻ phải phải thực hiện kiểm tra giám sát chỉ cho phép chủ thẻ mua ngoại tệ sau khi được cơ quan có thẩm quyền cho phép và chuyển ra nước ngoài với số lượng tối đa không vượt quá hạn mức ngoại tệ cho phép chuyên của chủ thẻ

Cho phép các NHTM của Việt Nam được linh hoạt áp dụng một số ưu đãi nhất định để đảm bảo tính cạnh tranh của các loại thẻ do NHVN phát hành so với ngân hàng nước ngoài hay chi nhánh NH nước ngoài của Nam đòi hỏi phải chỉnh sửa cho hợp lý  do đó các NHTM dựa vào đó để đề ra quy định riêng cho ngân hàng mình về phát hành và sử dụng thanh toán thẻ. Đôi khi ngân hàng vì nguồn lợi riêng của ngân hàng mình mà các NHTM làm cho người sử dụng gặp rắc rối trong việc sử dụng thẻ

óĐẩy mạnh hoạt động marketing về sản phẩm dịch vụ thẻ

Giống  với các sản phẩm dịch vụ khác của ngân hàng, sản phẩm thẻ cuãng phải tuân theo chu kỳ sống của sản phẩm gồm 4 gồm 4 giai đoạn (thâm nhập, tăng trưởng, phát triển, chín mùi và suy thoái). Hoạt động marketing sản phẩm cho phép ta rút ngắn giai đoạn thâm nhập, kéo dài  giai đoạn tăng trưởng và phát triển sản phẩm

Hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào chủ thẻ và mạng lưới CSCNT. Do đó để kinh doanh thẻ đạt kết  quả cao thì ngân hàng càn chú trọng 2 đối tượng: mở rộng đối tượng sử dụng thẻ  của NH, phát triển mạng lưới CSCNT

 

ó Mở rộng đối tượng sử dụng thẻ

NHTM cần xác định khách hàng sử dụng thẻ, để qua đó nâng cao chất lượng sử dụng thẻ cho các chủ thẻ để có thể phục vụ tốt hơn nữa

Mở rộng đối tượng sử dụng thẻ bằng cách giảm tỷ lệ ký quỹ : NHTM có chính sách giá cả hợp lý để có thể hạ thấp mức phí ký quỹ xuống , cũng như hạ thấp HMTD

Mặc dù chi phí và lãi áp dụng cho các giao dịch thẻ hiện nay còn cao so với thu nhập của người dân tuy nhiên nó hoàn toàn tương xứng với chi phí mà các ngân hàng bỏ ra để đảm bảo cho hoạt động phát hành và thanh toán thẻ . Tuy nhiên để phát triển hoạt động thẻ trong tương lai thì NHTM cần xem xét để mức chi phí  hợp lý hơn nhằm cạnh tranh và thu hút khách hàng hơn nữa

Đa dạng hóa sản phẩm tạo ra những sản phẩm mới . Tiến hành tạo ra các sản phẩm thẻ liên kết với các doanh nghiệp có uy tín như: siêu thị, khách sạn, đại lý bán vé máy bay, đại lý bảo hiểm …

ó Đầu tư công nghệ mới

Theo kết quả công bố, trong vòng 3 năm trở lại đây, nhờ sự phát triển nhanh như vũ bão của Khoa học công nghệ, thương mại điện tử đã có những bước phát triển đáng kể, trong đó thị trường thẻ nội địa và thanh toán không dùng tiền mặt đang trở thành mối quan tâm đặc biệt của các ngân hàng thương mại, doanh nghiệp cũng như mọi tầng lớp dân cư.

Ngân hàng cần hoàn thiện hơn nữa hệ thống thanh toán tự động ATM, chỉ có một số ngân hàng cho phép gửi tiền qua máy . Ngân hàng phải tự trang bị máy móc thiết bị cũng như cơ sở hạ tầng để tự bảo vệ mình trước những rủi ro, bất trắc có thể xảy ra. Phải luôn cập nhật những công nghệ mới nhất để tự hoàn thiện hệ thống chấp nhận thẻ

ó Đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ nhân viên Ngân hàng.

Con người là một chủ thẻ trong xã hội, mọi sự sáng tạo trong cuộc sống đều bắt nguồn từ hoạt động sản xuất của con người và hoạt động kinh doanh thẻ củng không nằm ngoài qui luật ấy. Thực tiển trong quá trình hoạt động, các NHTM đã nhận thấy số nhân sự để phục vụ cho thanh toán thẻ còn ít, nhiều khi từ bộ phận khác sang. Cho nên đội ngủ chiến lược đào tạo trên cơ sở các qui hoạch đã được xác định.

Về nội dung đào tạo NHTM cần chú trọng cả về kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn, đồng thời đặc biệt coi trọng công tác giáo dục tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp nhằm tạo ra đội ngủ có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng được mọi yêu cầu của hoạt động kinh doanh thẻ đầy phức tạp.

Các nhân viên phải tự bồi dưởng kiến thức chuyên môn để thích ứng với sự phát triển của kinh tế thế giới nói chung củng như của sự nghiệp phát triển công nghệ thẻ nói riêng.

ó Giải pháp hạn chế rủi ro.

Trong quá trình hoạt động kinh doanh thẻ những năm vừa qua mặt dù số lượng rủi ro xẩy ra không nhiềunhưng củng đã gây cho ngân hàng những tổn thất đáng kể. Đặc biệt trong tình hình công nghệ thông tin ngày càng phát triển thì việc giả mạo thẻ củng như thủ đoạn của bọn tội phạm ngày càng trở nên tinh vi hơn. Do đó ngân hàng cần có những biện pháp hạn chế rủi ro:

_ Trước hết phải tuân thủ hết sức chặt chẽ các qui định của tố chức thẻ quốc tế về thủ tục chấp nhận thanh toán thẻ và các qui định có liên quan đến việc quản lý va kiểm soát rủi ro do việc sử dụng thẻ gian lận, giả mạo gây ra.

_ Thứ hai, cần sử dụng tốt các công cụ phòng ngừa rủi ro do các tổ chức thẻ cung cấp và hướng dẫn.

_ Thứ ba, chú trọng việc hướng dẫn nghiệp vụ chấp nhận thẻ thanh toán đối với các CSCNT, trong đó đặc biệt là các biện pháp để nhận dạng trong trường hợp sử dụng thẻ giả mạo để thanh toán.

_ Thứ tư, các NHTM phải phối hợp với nhau để kịp thời thông báo cho các trường hợp sử dụng thẻ giả mạo và củng tìm ra được những biện pháp sử lý thích hợp.

Thừ năm, tổ chức các buổi thảo luận để nhân viên trong toàn hệ thồng cùng nha trao đổi và học hỏi kinh nghiệm cũng như bổ sung các kiến thức liên quan đến quản lý và kiểm soát rủi ro do thẻ giả mạo gây ra.

Đây chỉ là những giái pháp mang tính chất ngắn hạn vì diễn biến kinh tế ngày càng phức tạp cũng như những sự phát triển công nghệ ngày càng hiện đại.vì thế cần phải nỗ lực nghiên cứu để tìm ra các biện pháp mới.


CHƯƠNG 5:

KẾT LUẬN

—–|——

 

 

Thẻ ngân hàng ra đời là một phương tiện thanh toán hiện đại của thế giới ngày nay nó góp phần quan trọng trong việc cải thiện công tác thanh toán, chuyển dịch cơ cấu và thúc đẩy phát triển kinh tế của đất nước ta trong thời gian tới. Đồng thời trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh thẻ của các NHTM.

Tin rằng với tốc độ phát triển của các NHTM trong thời gian qua, với kinh nghiệm khá vững vàng trong hoạt động kinh doanh thẻ với bộ máy quản trị hiệu quả kết hợp với nền công nghệ kĩ thuật hiện đại làm cơ sở, hệ thống ngân hàng thương mại sẽ phát huy tốt những mặt thuận lợi. Tuy nhiên bên cạnh vẫn còn phải đối mặt với những thách thức trong hiện tại và cả tương lai, do đó mỗi ngân hàng phải tự trang bị tốt những cơ sở kỹ thuật hiện đại, ĐVCNT, đa dạng hóa hình thức thanh toán qua thẻ, mở rộng mạng lưới liên kết sản phẩm thẻ của ngân hàng cũng như tạo nhiều ưu đãi khuyến mãi cho chủ thẻ thường xuyên để tăng tính cạnh tranh và nhằm tăng doanh thu thanh toán qua thẻ đem lại lợi nhuận thông qua việc thu phí, lượng tiền huy động được ngân hàng có thể cấp tín dung hoặc đem đầu tư những kênh có hiệu quả kinh tế cao khác. Do đó phát hành và thanh toán thẻ là những nghiệp vụ kinh doanh không thể thiếu của một ngân hàng hiện đại tạo điều kiện thuận lợi để tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, góp phần xây dựng môi trường tiêu dùng văn minh và hòa nhập vào cộng đồng tài chính ngân hàng quốc tế ./.

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. http://www.dongabank.com
  2. http://www.sacombank.com
  3. http://www.vietcombank.com
  4. http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com
  5. http://www.vnbaorg.info, hiệp hội ngân hàng Viet nam.

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s