Cơ chế quản lý lãi suất tín dụng đối với ngân hàng thương mại và tín hiệu quả của nó


Lời nói đầu

Cùng với sự phát triển của Thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước đi lên và đạt được những thành tựu to lớn đặc biệt là lĩnh vực kinh tế. Với đà thắng lợi của đất nước trong công cuộc đổi mới nền kinh tế ngành ngân hàng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu đổi mới của mình đã tiến được những bước quan trọng trong hệ thống các công cụ quản lý lãi suất được coi là nhạy cảm nhất nó thực sự là vấn đề nóng bỏng nhất thu hút được nhiều tầng lớp dân cư trong xã hội.

Lãi suất với tư cách là một trong những công cụ của chính sách tiền tệ được nhiều nhà kinh tế quan tâm nghiên cứu và từ lâu được nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng như một công cụ hữu hiệu điều tiết nền kinh tế. Đặc biệt là trong cơ chế thị trường lãi suất trở thành công cụ đắc lực để NHNN thực thi chính sách tiền tệ nhằm ổn định và phát triển thị trường tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và sự phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế. Trong từng thời kỳ nhất định cho nên việc thi hành một cơ chế lãi suất thích hợp là vô cùng phức tạp mà vai trò đó thuộc ngân hàng nhà nước. Để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của nền kinh tế thị trường các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại đã không ngừng đổi mới và phát triển để phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước. Với trọng trách to lớn đó NHNN đã thường xuyên điều chỉnh lãi suất cho phù hợp phát triển khả năng linh hoạt của các Ngân hàng thương mại.

Trước những xáo trộn của thị trường tiền tệ, cơ chế quản lý lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian qua đã và đang đem lại những kết quả tích cực, góp phần ổn định nền kinh tế. Xuất phát từ những vấn đề mang tính thời sự của lãi suất trên cơ sở những kiến thức đã học cùng với những kiến thức trong khuân khổ tài liệu cho phép, chúng em xin trình bày đề tài: “Cơ chế quản lý lãi suất tín dụng đối với ngân hàng thương mại và tín hiệu quả của nó”.

 Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

 

1.1. Những vấn đề chung về lãi suất:

– Quan niệm về lãi suất:

  • Lãi suất có vai trò đặc biệt quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ quốc gia tuy nhiên việc nhận biết bản chất vai trò của lãi suất để sử dụng nó như một công cụ tiền tệ đặc biệt quan trọng vẫn còn nhiều vấn đề cần được làm rõ hơn.
  • Có quan niệm cho rằng tỷ lệ %  tăng thêm mà người sử dụng vốn vay phải trả cho người vay đối với một khoản tiền vay nào đó được gọi là lãi suất. Với quan niệm này thì với người cho vay lãi suất là một khoản thu nhập và với người đi vay thì lãi suất là 1 khoản chi phí. Như vậy bản chất kinh tế ở đây nên được hiểu như thế nào? Rõ ràng lãi suất là một loại giá mà với người cho vay thì nó  là thu nhập còn với người sử dụng vốn vay thì nó lại là chi phí. Từ thực tiễn đó mà còn có quan niệm cho rằng lãi suất là giá của quyền sử dụng vốn vay trong 1 thời gian nhất định mà người sử dụng vốn vay phải trả cho người vay.

– Khái niệm :

Lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định mà người sử dụng trả cho nguươì sở hữu nó.

Lãi suất phải được trả bởi lẽ người đi vay đã sử dụng vốn của người cho vay phục vụ nhu cầu sinh lợi trong sản xuất kinh doanh hoặc nhu cầu tiêu dùng của mình . việc người cho vay chuển quyền sử dụng vốn cho người khác có nghĩa là anh đã hy sinh quyền sử dụng tiền tệ ngày hôm nay của mình . Đánh đổi cho sự chuyển quyền đó là quền người cho vay được trả lãi suất.

1.2.  Phân loại:

1.2.1. Phân loại theo chủ thể trong quan hệ tín dụng

Lãi suất được chia thành các loại sau:

  • Lãi suất tín dụng thương mại được áp  khi các doanh nghiệp cho nhau vay dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa tùy theo thời hạn mua bán chịu, cung cầu về mua bán chịu và mức độ tín nhiệm giữa các doanh nghiệp tham gia quan hệ mà có mức lãi suất tín dụng khác nhau.
  • Lãi suất tín dụng ngân hàng áp dụng trong quan hệ giữa ngân hàng với công chúng và DN trong việc thu hút tiền gửi và cho vay, trong hoạt động tái cấp vốn của NHTW cho các NH, và trong quan hệ giữa các NH với nhau trên thị trường liên NH.
  • Lãi suất tiền gửi được áp dụng để tính tiền lãi cho người gửi tiền. Lãi suất tiền gửi có nhiều mức khác nhau tùy thuộc vào thời hạn gửi, quy mô gửi. Sự biến động lãi suất tiền gửi ở mức độ lớn không chỉ ảnh hưởng đến quy mô của NH mà còn ảnh hưởng đến khối tiền M1 và qua đó tới lạm phát. Chính vì vậy, việc áp dụng chính sách tăng mạnh lãi suất tiền gửi có hiệu quả cao trong kiềm chế, đẩy lùi lạm phát.
  • Lãi suất tiền vay được áp dụng để tính lãi tiền vay mà khách hàng phải trả cho ngân hàng. Sự thay đổi lãi suất tiền vay có tác động đến quy mô cho vay và khả năng cung ứng tiền của hệ thống NHTG. Vì cơ chế này mà NHNN có thể thực hiện mục tiêu nới lỏng hoặc thắt chặt cung ứng tiền bằng cách ảnh hưởng tới lãi suất tiền vay của các ngân hàng áp dụng với nền kinh tế.
  • Lãi suất chiết khấu là một lãi suất cho vay áp dụng cho NHTG, cho khách hàng vay dưới hình thức chiết khấu giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán và thỏa mãn các điều kiện chiết khấu theo quy định. Nó được tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá của các giấy tờ có giá và được khấu trừ ngay khi ngân hàng phát tiền vay cho khách hàng. Mức chiếu khấu được quy định bởi cung cầu vốn trên thị trường tín dụng.
  • Lãi suất tái cấp vốn áp dụng khi NHNN tái cấp vốn cho các ngân hàng dưới hình thức chiết khấu lại các giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán của các ngân hàng hoặc cho vay cầm cố các giấy tờ có giá.
  • Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay trên thị trường liên ngân hàng.
  • Lãi suất cơ bản là lãi suất được các ngân hàng sử dụng làm cơ sở để ấn định mức lãi suất kinh doanh của mình, lãi suất cơ bản được hình thành tùy theo từng nước có thể do NHNN ấn định hoặc do bản thân các ngân hàng tự xác định tùy vào tình hình hoạt động cụ thể của ngân hàng mình và đó là mức lãi suất được áp dụng cho khách hàng có mức rủi ro thấp nhất…
  • Lãi suất tín dụng nhà nước áp dụng khi nhà nước đi vay của các chủ thể khác nhau trong xã hội dưới hình thức phát hành trái phiếu hoặc tín phiếu. Loại lãi suất này có thể do nhà nước ấn định căn cứ vào lãi suất tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng và các yếu tố khác: sự biến động của lạm phát, nhu cầu cấp thiết về vốn của nhà nước… hoặc được hình thành thông qua hoạt động đấu thầu tín phiếu, trái phiếu nhà nước.
  • Lãi suất tín dụng doanh nghiệp áp dụng khi doanh nghiệp đi vay của các chủ thể khác trong xã hội dưới hình thức phát hành trái phiếu. Lãi suất này do các doanh nghiệp ấn định hoặc được hình thành thông qua hoạt động đấu thầu trái phiếu trên thị trường chứng khoán.
  • Lãi suất tín dụng tiêu dùng: áp dụng khi doanh nghiệp cho người lao động vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân .

1.2.2. Phân loại theo giá trị thực của lãi suất (hay theo mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất)

 – Lãi suất danh nghĩa : Là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ vào thời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là loại lãi suất chưa loại trừ đi tỷ lệ lạm phát .

Lãi suất thực tế là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về lạm phát .Hay nói cách khác là lãi suất đã loại trừ đi tỷ lệ lạm phát

– Lãi suất thực của hai loại

+ Lãi suất thực tính trước ( dự tính ): là lãi suất thực được điều chỉnh lại cho đúng theo đúng những thay đổi dự tính về lạm phát

+ Lãi suất thực tính sau : là lãi suất thực được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi trên thực tế  về lạm phát

                       Lãi suất danh nghĩa = lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát

Hoặc               Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát

 

1.2.3. Phân loại theo bản chất hợp đồng tài chính :

Lãi suất được chia làm hai loại:

– Lãi suất ổn định: là lãi suất áp dụng cố định trong suất thời hạn vay. Nó có ưu điểm: Người gửi tiền và vay tiền biết trước số tiền lãi được trả và phải trả. Bên cạnh đó nó có nhược điểm bị ràng buộc vào một lãi suất nhất định trong một thời hạn nào đó dù cho các loại lãi suất khác thay đổi như thế nào.

– Lãi suất thả nổi: Là lãi suất có thể thay đổi lên xuống và có thể báo trước hoặc không báo trước. Lãi suất thả nổi có lợi cho cả hai bên khi nhận và trả tiền đều tính theo một lãi suất chung là lãi suất hiện tại.

1.2.4.  Phân loại theo cách đo lường lãi suất:

– Lãi suất đơn là lãi suất tính một lần trên số vốn gốc cho suất kỳ hạn vay

Công thức tính  : I = Co . i . n

( trong đó  I số tiền lãi , Co vốn gốc , i là lãi suất , n số kỳ )

Trong đó thời kỳ gửi vốn phải tương đương với thời kỳ của lãi suất

– Lãi suất kép là mức lãi suất có tính đến giá trị đầu tư lại của lợi tức thu được trong thời hạn sử dụng tiền vay. Nó thường được áp dụng cho các khoản đầu tư có nhiểu kỳ hạn thanh toán trong đó lãi suất của kỳ trước được nhập vào vốn gấp để tính lãi suất kỳ sau.

Công thức : C = Co x ( 1-i)n

Trong đó: C số tiền thu được theo lãi gộp sau n kỳ, Co vốn gốc ban đầu, i lãi suất n số kỳ gửi vốn

1.3. Vai trò của lãi suất :

Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp vai trò của lãi suất được nhìn nhận một cách hết sức mờ nhạt và lệ thuộc nhiều khi được hiểu như là một sự phân phối cuối cùng của sản phẩm giữa những người sản xuất và người cho vay

Chuyển sang nền kinh tế thị trường lãi suất giữ vai trò hết sức quan trọng là một trong những đòn bẩy kinh tế .Nó tác động đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân nói chung vai trò của lãi suất được thể hiện ở nội dung sau đây .

            1.3.1. Lãi suất là công cụ để khuyến khích tiết kiệm đầu tư

Lãi suất là công cụ khuyến khích lợi ích  vật chất để thu hút các khoản tiết kiệm của các chủ thể kinh tế tạo nên quỹ cho vay đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.

Theo lý thuyết tài chính chúng ta có thể đưa ra phương trình về thu nhập như sau:

                           Thu nhập = Tiêu dùng + Tiết kiệm

Phương trình này không những đúng với đặc điểm tài chính của các hộ gia đình các doanh nghiệp mà còn đúng với cả nền kinh tế quốc gia .Giả trong điều kiện của một nền kinh tế bình thường tỷ lệ giữa tiêu dùng và tiết kiệm là hợp lý để tăng tỷ lệ tiết kiệm cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì biện pháp hiệu  quả là tăng lãi suất huy động vốn .Khi lãi suất vốn tăng nên thì trước hết các hộ gia đình phải xem xét các khoản chi cho tiêu dùng thường xuyên có thể giảm chi hoặc hoãn một số khoản chi để tăng thêm khoản tiết kiệm trong tổng thu nhập. Sau từ khoản tiết kiệm này họ sẽ hướng đầu tư gửi vào Ngân hàng, vào quỹ bảo hiểm hay đầu tư vào thị trường trứng khoán khi thấy có lợi hơn.

Ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới nền kinh tế vốn dang là vấn đề then chốt. Muấn huy động được vốn phải có biện pháp gọi vốn. Vấn đề là cần duy trì một mức lãi suất như thế nào để huy động tối đa vốn nhàn rỗi trong xã hội.

            1.3.2.  Lãi suất ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Chính sách lãi suất là một bộ phận trong chính sách tiền tệ của Nhà nước nhằm điều tiết lưu thông tiền tệ kích thích điều tiết và hướng hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế

– Lãi suất phải trả cho khoản vay là khoản chi phí của doanh nghiệp. Do vậy ,lãi suất sẽ khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Ngược lại, lãi suất cho vay cao sẽ thu hẹp đâu tư của các doanh nghiệp.

– Lãi suất là công cụ buộc các doanh nghiệp phải sử dụng hiệu quả . những ưu đãi về lãi suất về điều kiện cung cấp tín dụng và thanh toán là công cụ của Nhà nước nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các nghành các sản phẩm cần ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế.

            1.3.3.  Lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô

Lãi suất tạo nên khoản chi phí của người đi vay vì vậy sự biến động của lãi suất có tác động đến đầu tư đến tiêu dùng qua đó tác động đến các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô biểu hiện trong các trường hợp:

– Lãi suất thấp ® kích thích đầu tư , kích thích tiêu dùng ® tăng tổng cầu ® sản lượng tăng, giá tăng, thất nghiệp giảm® nội tệ có xu hướng giảm giá so với ngoại tệ.

– Lãi suất  cao ® hạn chế đầu tư , hạn chế tiêu dùng ® giảm tổng cầu ® sản lượng giảm ®giảm giá ® thất nghiệp tăng ® nội tệ có xu hướng tăng giá so với ngoại tệ.

Như vậy, bằng cách tăng lãi suất Ngân hàng Nhà nước có thể làm giảm khả năng cho vay của Ngân hàng Thương mại do đó thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt giảm bớt khối lượng tiền cần thiết cho việc mở rộng sản xuất kinh doanh và chi tiêu của người tiêu dùng . Cũng như vậy, bằng cách hạ thấp lãi suất Ngân hàng Nhà nước có thể tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế phát triển hoặc muốn kìm hãm tốc độ phát triển một nghành nghề nào đó, Ngân hàng Nhà nước có thể tăng hoặc giảm lãi suất cho vay để thu hẹp hoặc mở rộng đầu tư của các nghành nghề .

Từ năm 1989 đến nay ,chính sách lãi suất luân được sử dụng để điều chỉnh kinh tế ở Việt Nam .Sau khi kiềm chế và giữ được lạm phát ở mức độ tương đối ổn định , Ngân hàng Nhà nước danh thực hiện hạ thấp dần khung lãi suất để khuyến hích huy động đầu tư và mở rộng sản xuất kinh doanh khôi phục kinh tế .

            1.3.4.  Lãi suất tín dụng là công cụ khuyến khích cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại:

Trong khung lãi suất cho phép, để tăng khối lượng nguồn vốn huy động đồng thời để mở rộng quan hệ tín dụng với khách hàng, các NHTM có thể nâng mức lãi suất tiền gửi và hạ lãi suất cho vay. Đây chính là hoạt động cạnh tranh giữa các NHTM. Thực chất của quá trình này là phân chia khối lượng tiền gửi và mở rộng phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng ra thị trường. Để đảm bảo cạnh tranh thắng lợi, mỗi NHTM đều có chiến lược khách hàng của mình. Chiến lược này được thực hiện bằng lãi suất ưu đãi. Muốn vậy các NHTM đều tìm mọi biện pháp giảm thấp chi phí kinh doanh và chi phí quản lý. Sự cạnh tranh lành mạnh giữa các NHTM sẽ tạo ra lợi ích kinh tế chung cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

            1.3.5. Lãi suất là công cụ đo lường tình trạng của nền kinh tế:

Người ta thấy rằng trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế lãi suất có xu hướng tăng do cung cầu quỹ cho vay đều tăng trong đó tốc độ tăng của cầu quỹ cho vay lớn hơn tốc độ tăng của cung quỹ cho vay.

Ngược lại, trong giai đoạn suy thoái của nền kinh tế lãi suất lại có xu hướng giảm xuống.

Do vậy, thông thường nhìn vào xu hướng biến động của lãi suất ta thấy được tình trạng sưc khỏe của nền kinh tế.

Lãi suất là biến số thường xuyên biến động trong nền kinh tế. Căn cứ vào sự biến động đó của lãi suất người ta có thể dự báo được các yếu tố khác của nền kinh tế như tính sinh lời của các cơ hội đầu tư, mức lạm phát dự tính mức thiếu hụt của ngân sách người ta có thể dựa vào lãi suất trong một thời kỳ để dự báo tình hình kinh tế trong tương lai.

1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất

1.4.1. Mức cung cầu tiền tệ

-Cung tiền tệ là tổng thể tiền tệ được sử dụng để giao dịch thanh toán trên thị trường. Các nhà kinh tế đã định nghĩa M là tiền giao dịch bao gồm: M1 là tổng số tiền kim khí và tiền giấy lưu thông bên ngoài ngân hàng cộng với tiền gửi ngân hàng có thể rút ra bằng séc và định nghĩa rộng hơn (M2) bao gồm những tài sản như tài khoản tiền gửi tiết kiệm ngoài tiền kim khí, tiền giấy và tiền gửi ngân hàng có thể rút ra bằng séc. Quyền kiểm soát mức cung tiền tệ được dành cho Chính phủ, bởi vì hạn chế mức cung tiền tệ là điều cần thiết để tiền có giá trị.

– Cầu tiền tệ là nhu cầu về tiền của cá nhân, đơn vị, tổ chức để làm phương tiện giao dịch, trao đổi, mua bán hàng hoá, dịch vụ…

Công chúng (các gia đình và các hàng kinh doanh) muốn giữ lượng tiền M1 khác nhau ở những mức lãi suất khác nhau, lãi suất thấp thì số tiền dôi ra lớn hơn. Giao điểm giữa cung và cầu trên đồ thị xác định lãi suất cân bằng. Đây là mức lãi suất ở điểm số lượng tiền do ngân hàng trung ương đề ra làm mục tiêu phù hợp với số tiền mà công chúng muốn nắm giữ. Sự thay đổi cung cầu tiền tệ sẽ ảnh hưởng đến lãi suất.

*Chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ: khi ngân hàng trung ương muốn kiềm chế lạm phát, sẽ thực hiện một chính sách thắt chặt tiền tệ thông qua công cụ của nó (thay đổi tăng mức dự trữ bắt buộc, giảm lãi suất chíết khấu, giảm hạn mức tín dụng). Làm cho lãi suất tăng, mức đầu tư sẽ giảm, mức cầu tiền tệ giảm, các nhà doanh nghiệp và các gia đình cắt giảm lượng tiền mặt và tài khoản séc của họ.

*Chính phủ thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ: khi ngân hàng trung ương lo sợ sắp có suy thoái sẽ tăng mức cung tiền tệ bằng cách bơm tiền vào lưu thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ, lãi suất có xu hướng giảm xuống. Tín dụng trở nên dồi dào hơn, lãi suất giảm. Kết quả là việc tiến hành các dự án đầu tư mới trở nên có lợi hơn, số tiền chi tiêu về nhà máy, thiết bị, kho hàng tăng lên, người tiêu dùng có khuynh hướng mua nhiều hàng hơn…Vốn đầu tư tăng, tổng mức cầu tăng lên tạo ra thăng bằng trên thị trường.

Ngoài ra những thay đổi dự định trong cầu tiền tệ (không phải do sự thay đổi trong mức giá cả, tổng sản phẩm, hoặc lãi suất gây ra) cũng ảnh hưởng đến lãi suất cân bằng.

Nghiên cứu nhân tố cung cầu tiền tệ tác động qua lại đến lãi suất có một ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách tiền tệ. Khi nào thì ngân hàng trung ương bơm tiền ra lưu thông, khi nào thì hút tiền từ lưu thông về để điều chỉnh lãi suất thị trường một cách hợp lý, trên cơ sở đó ổn định thị trường, thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế, giảm lạm phát.

1.4.2. Lạm phát:

Khi lạm phát tăng, dù ở từng mức lãi suất riêng lẻ hay ở tất cả mọi lãi suất, yếu tố kích thích làm tăng cung quỹ cho vay gần như triệt tiêu bởi giá trị thực tế của vốn gốc và tiền lời thu được đã bị hao mòn do tác động của lạm phát. Trong tình hình ấy những người có khả năng cho vay không muốn giữ tiền mặt, đổ xô đi mua hàng hóa dự trữ vàng, ngoại tệ. Điều đó dẫn đến cung quỹ cho vay giảm, dẫn đến lãi suất tăng. Hoặc khi lạm phát tăng, không chỉ làm giảm độ lớn của cung mà còn kéo theo việc tăng thêm quy mô về cầu quỹ cho vay. Bởi với lãi xuất danh nghĩa cho trước, khi lạm phát dự tính tăng lên, chi phí thực của việc vay tiền giảm xuống , kích thích người ta đi vay hơn là cho vay. Người đi vay sẽ kiếm được khoản thu lợi do giá hàng hóa được mua bằng tiền đi vay sẽ tăng lên, lãi suất tăng.

Theo Friedman, ông cho rằng trong mọi trường hợp tỷ lệ lạm phát của một nước là cực kỳ cao trong bất cứ thời kỳ kéo dài nào, thì tỷ lệ tăng trưởng của cung ứng tiền tệ là cực kỳ cao.

Tóm lại, khi lạm phát dự tính tăng, lãi suất tăng. Điều này có một ý nghĩa quan trọng trong việc dự đoán lãi suất khi nền kinh tế có xu hướng lạm phát tăng. Trên cơ sở đó, có một chính sách lãi suất hợp lý. Khi lạm phát cao, nhà nước cần phải nâng lãi suất danh nghĩa, đảm bảo cho lãi suất thực dương, hoặc nhà nước tung vàng, ngoại tệ ra bán để kiềm chế lạm phát.

Nhiều nhà kinh tế đã khuyến nghị rằng cuộc chiến chống lạm phát nhất định sẽ thất bại nếu chúng ta muốn hạ thấp lãi suất.

1.4.3. Sự ổn định của nền kinh tế

– Ảnh hưởng đến cung tiền vay: khi nền kinh tế ổn định và phát triển, của cải tăng lên, công chúng chỉ muốn giữ một số tiền nhất định đủ cho nhu cầu sử dụng, họ muốn đầu tư vào những tài sản thay thế có lợi tức dự tính cao: đầu tư vào các trái khoán công ty. Bởi vì khi nền kinh tế ổn định, thị trường trái khoán trở nên ổn định hơn, rủi ro trái khoán giảm, trái khoán trở thành một tài sản hấp dẫn hơn, vì vậy cung tiền vay tăng lên, đường cung dịch chuyển về bên phải, lãi suất có xu hướng giảm.

– Ảnh hưởng đến cầu tiền vay: khi nền kinh tế đang phát triển nhanh nhất là trong giai đoạn phát đạt của một chu kỳ kinh doanh, các công ty càng có nhiều ý định vay vốn và tăng số dư nợ nhằm tài trợ cho các cuộc đầu tư được trông đợi là sinh lời. Cầu tiền vay tăng lên, đường cầu dịch chuyển về bên phải, lãi suất có xu hướng tăng lên.

Khi đường cung và đường cầu tiền vay tăng lên và dịch chuyển về bên phải, sẽ đạt được một điểm cân bằng mới về bên phải. Tuy nhiên nếu đường cung dịch chuyển nhiều hơn đường cầu thì lãi suất cân bằng mới có xu hướng giảm xuống, ngược lại, nếu đường cầu dịch chuyển nhiều hơn thì lãi suất cân bằng mới tăng lên.

Trong nền kinh tế ổn định và có xu hướng phát triển, nhà nước nên sử dụng các công cụ lãi suất để tăng vốn đầu tư vào những lĩnh vực cần phát triển cho sự cân đối của nền kinh tế, đặc biệt từ các nguồn vốn trên thị trường trái khoán.

1.4.4. Các chính sách của Nhà nước:

Mục tiêu của nền kinh tế phát triển là:

-Tạo ra sản lượng cao, tăng nhanh tổng sản phẩm quốc dân.

-Đạt tỷ lệ người có công ăn việc làm cao, tỷ lệ thất nghiệp thất.

-Đảm bảo ổn định giá cả trong điều kiện thị trường tự do hoạt động.

Để đạt được mục tiêu trên, Nhà nước phải sử dụng các công cụ bằng các chính sách có thể điều chỉnh tốc độ và phương hướng của hoạt động kinh tế. Quá trình thực hiện các chính sách của Nhà nước đều tác động lãi suất cân bằng trên thị trường.

*Chính sách tài chính: bao gồm chi tiêu của chính phủ và thuế khóa. Chi tiêu của chính phủ là một nhân tố then chốt định mức tổng chi tiêu.

Khi nhà nước thực hiện một chính sách tài chính bành trướng (tăng chi tiêu của Chính phủ và giảm thuế) sẽ ảnh hưởng đến thăng bằng của thị trường hàng hóa và thị trường tiền tệ, từ đó ảnh hưởng đến lãi suất.

Khi chi tiêu của chính phủ tăng trực tiếp làm tăng tổng cầu, đường cầu dịch chuyển về bên phải, khi chính phủ giảm thuế, làm cho nhiều thu nhập hơn được sẵn sang để chi tiêu và làm tăng tổng sản phẩm bằng cách tăng chi tiêu, tiêu dùng. Mức cao hơn của tổng sản phẩm làm tăng lượng cầu tiền tệ, đường cầu dịch chuyển về bên phải, lãi suất tăng.

Ngoài ra, thuế còn có thể tác động đến mức sản lượng tiềm năng, chẳng hạn việc giảm thuế đánh vào thu nhập từ đầu tư làm cho các ngành tăng đầu tư vào máy móc, nhà máy, tổng sản phẩm tiềm năng được tăng lên, tăng lượng cầu tiền tệ, đường cầu dịch chuyển về bên phải, lãi suất tăng lên.

*Chính sách tiền tệ: với tư cách ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng trung ương thực hiện vai trò chỉ huy đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng của một quốc gia. Với công cụ lãi suất, ngân hàng trung ương có thể điều tiết hoạt động của nền kinh tế vĩ mô bằng các phương pháp sau:

– Ngân hàng có thể quy định lãi suất cho thị trường, chủ động điều chỉnh lãi suất để điều chỉnh tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, hạn chế hoặc mở rộng hoạt động tín dụng nhằm thực hiện được mục tiêu giảm lạm phát và tăng trưởng kinh tế theo từng thời kỳ.

– Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách lãi suất tái chiết khấu: ngân hàng trung ương tái chiết khấu các chứng từ do ngân hàng thương mại xuất trình với điều kiện ngân hàng phải trả một lãi suất nhất định do ngân hàng trung ương đơn phương quy định.

Mỗi khi lãi suất chiết khấu thay đổi có xu hướng làm tăng hay giảm chi phí cho vay của ngân hàng trung ương đối với ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng do đó khuyến khích hay cản trở nhu cầu vay vốn. Vì vậy thông qua việc điều chỉnh lãi suất chiết khấu, ngân hàng trung ương có thể khuyến khích mở rộng hay làm giảm khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương mại cấp cho nền kinh tế. Do thay đổi lãi suất chiết khấu, ngân hàng trung ương có thể tác động gián tiếp vào lãi suất thị trường. Một lãi suất chiết khấu cao hay thấp sẽ làm thay đổi lượng vay của ngân hàng, tức lượng tiền cung ứng của ngân hàng cho nền kinh tế và cuối cùng sẽ làm thay đổi mức lãi suất thị trường.

– Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách thị trường mở: có nghĩa là ngân hàng trung ương thực hiện việc mua bán giấy tờ có giá trên thị trường chứng khoán. Nhiệm vụ chính của chính sách thị trường mở là điều hòa cung cầu về các chứng phiếu có giá để tác động vào các ngân hàng thương mại trong việc cung cầu tiền tệ, cung ứng tín dụng.

– Ngân hàng trung ương tăng hay giảm mức dự trữ bắt buộc: khi tỷ lệ dự trữ tăng lên ức là ngân hàng trung ương quyết định giảm bớt số vốn khả dụng của ngân hàng kéo theo những khó khăn ngân quỹ cho các ngân hàng, hạn chế tín dụng của ngân hàng và ngược lại. Do đó cũng ảnh hưởng gián tiếp đến lãi suất trên thị trường.

*Chính sách thu nhập: đó là chính sách về giá cả và tiền lương. Nếu mức giá cả giảm mà cung tiền tệ không thay đổi, giá trị của đơn vị tiền tệ theo giá trị thực tế tăng, bởi vì nó có thể dùng để mua nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn. Do vây cũng như ảnh hưởng của một sự tăng lên trong cung tiền tệ khi mức giá được giữ cố định, làm lãi suất giảm. Ngược lại một mức giá cao hơn làm giảm cung tiền tệ theo giá trị thực tế, làm tăng lãi suất. Như vậy một sự thay đổi về chính sách giá cả cũng làm thay đổi lãi suất.

Yếu tố cấu thành quan trọng nhất của chi phí sản xuất là chi phí tiền lương, khi tiền lương tăng làm chi phí sản xuất tăng, làm giảm lợi nhuận theo đơn vị sản phẩm tại một mức giá cả, giảm nhu cầu đầu tư, cầu tiền tệ giảm, lãi suất giảm.

*Chính sách tỷ giá: bao gồm các biện pháp liên quan đến việc hình thành quan hệ về sức mua giữa tiền của nước này so với một ngoại tệ khác, nhất là đối với các ngoại tệ có khả năng chuyển đổi.

Tỷ giá sẽ tác động đến quá trình sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu hàng hóa của một nước. Khi nhà nước tăng tỷ giá ngoại tệ sẽ làm tăng giá của hàng nhập khẩu, dẫn đến tăng chi phí đầu vào của các xí nghiệp, giá hàng hóa trong nước tăng lên, lợi nhuận giảm, nhu cầu đầu tư giảm, cầu tiền tệ giảm, lãi suất giảm. Mặt khác, khi tỷ giá ngoại tệ tăng, lượng tiền cung ứng để đảm bảo cân đối ngoại tệ cần chuyển đổi tăng lên, lãi suất giảm.

Vì vậy khi thấy đồng tiền của nước mình sụt giá, ngân hàng trung ương sẽ theo đuổi một chính sách tiền tệ thặt chặt hơn, giảm bớt cung tiền tệ, năng lãi suất trong nước, làm cho đồng tiền của mình vững mạnh.

Khi tỷ giá ngoại tệ giảm, đồng tiền tăng giá, không kích thích xuất khẩu, nền công nghiệp trong nước có thể bị sự cạnh tranh của nước ngoài tăng lên, kích thích nhập khẩu. Lượng tiền tệ tăng do với một tỷ giá thấp, với một lượng vốn đầu tư nhất định, tài sản đầu tư sẽ nhiều hơn, kích thích đầu tư vào sản xuất, lãi suất tăng lên. Như vậy khi có một sự cạnh tranh giữa nền công nghiệp trong nước với công nghiệp nước ngoài tăng lên, có thể gây áp lực buộc ngân hàng trung ương phải theo đuổi một tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ cao hơn nhằm hạ thấp tỷ giá.

Chương 2: CƠ CHẾ QUẢN LÝ LÃI SUẤT TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM

2.1. Giai đoạn Từ ngày 01/6/2002 – 19/5/2008:

Các NHTM thực hiện theo cơ chế lãi suất thoả thuận theo quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN ngày 30/5/2002 lãi suất cho vay được hoàn toàn thả nổi theo nguyên tắc tự do thỏa thuận giữa bên đi vay và NHTM. Thị trường tài chính ngân hàng ổn định, nền kinh tế phát triển tốt, lạm phát thấp, DN làm ăn có hiệu quả.

Lần đầu tiên, lãi suất cơ bản được giữ vững trong khoảng thời gian khá dài ở mức 8,25%/năm từ 1/12/2005 đến cuối tháng 1/2008 đã giúp ngành ngân hàng đã có bước tiến dài về môi trường pháp lý. Cơ chế tín dụng, cơ chế bảo đảm tiền vay được hoàn thiện theo hướng một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp vay vốn. Mặt khác, mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức tín dụng, bảo đảm an toàn cho toàn hệ thống. Chính sách tiền tệ được điều hành một cách thận trọng, linh hoạt và phù hợp với diễn biến thực tế. Chính vì vậy việc cho áp dụng lãi suất thỏa thuận, là bước đột phá để thực hiện tự do hóa lãi suất, lãi suất trên thị trường vẫn tương đối ổn định. Lãi suất VND có xu hướng tăng nhẹ phản ánh đúng quan hệ cung cầu. Chênh lệch giữa VND và USD khá rộng, khoảng 5%/năm, nhờ đó đã hạn chế chuyển dịch từ VND sang USD. Nhưng vào ngày 1/2/2008 thì NHNN đã quyết định điều chỉnh tăng mức lãi suất cơ bản từ 8,25% lên 8,75%/năm.

Đầu năm 2008, với hàng loạt các biện pháp kiềm chế lạm phát, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra Quyết định số 187/2008/QĐ-NHNN về việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm rút bớt tiền từ lưu thông về, chủ động kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng dư nợ tín dụng phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Theo Quyết định, Ngân hàng Nhà nước sẽ mở rộng diện các loại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc, bao gồm các loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, thay cho việc áp dụng dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn từ 24 tháng trở xuống. Tiếp đó là quyết định số 346/QĐ-NHNN về việc phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước bằng tiền đồng dưới hình thức bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng nhằm thu hút 20.300 tỉ đồng. Chính sách thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước đã gay ra sự căng thẳng về thanh khoản của các ngân hàng thương mại. Các ngân hàng thương mại phải đối mặt với khó khăn thiếu hụt nguồn cung tiền đồng sau những quyết định của Ngân hàng Nhà nước. Tình trạng thiếu hụt tiền đồng của các ngân hàng thể hiện qua việc lãi suất cho vay qua đêm của các ngân hàng trong vòng một tháng qua đã có lúc lên tới 30%. Điều này đã đẩy các ngân hàng đến chỗ đua nhau tăng lãi suất huy động. Dẫn đến lãi suất huy động VND có kỳ hạn biến động mạnh nhất từ trước tới nay. Cuộc chạy đua bùng phát trong tháng 5 và tạo những đỉnh điểm nóng sốt trong tháng 6. Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất ghi nhận kỷ lục “treo” tới 43%/năm; nhiều thành viên đồng loạt đẩy mức huy động trong dân cư lên tới trên 19%/năm, cá biệt có trường hợp áp tới 20%/năm. Đó cũng là thời điểm mà hoạt động cho vay của nhiều ngân hàng thương mại cầm chừng, doanh nghiệp vay vốn khó khăn cả về lãi suất cao lẫn khả năng tiếp cận vốn, tín dụng tiêu dùng gần như bị cắt bỏ, tốc độ tăng trưởng tín dụng bước vào vùng thấp nhất trong năm (liên tục tăng dưới 1%/tháng; cả năm ước chỉ tăng khoảng 21% thay vì mức dự kiến khống chế 30%). Trước tình hình đó, Ngân hàng Nhà nước đã quy định trần lãi suất huy động là 12%/năm theo công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 nhằm hạn chế cuộc đua này. Đặc biệt, trong lần điều chỉnh ngày 19/5 (lên 12%), lãi suất cơ bản được trả lại đúng chức năng của nó, trở thành một cơ sở để xác định hành lang pháp lý cho lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại, thay vì xơ cứng và mờ nhạt trước đó.

2.2. Giai đoạn từ 19/05/2008 đến nay:

Thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản. Cơ chế này linh hoạt hơn cơ chế lãi suất thỏa thuận tạo điều kiện cạnh tranh giữa các NHTM làm giảm chi phí hoạt động ngân hàng, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ: thẻ tín dụng…Lãi suất có xu hướng giảm xuống, cả lãi suất tiền vay và lãi suất huy động đều giảm.

Ngày 19/5/2008, Ngân hàng Nhà nước chính thức áp cơ chế lãi suất trần trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng. Đó chính là Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam. Theo Quyết định này, các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh (lãi suất huy động và lãi suất cho vay) bằng đồng Việt Nam không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố áp dụng trong từng thời kỳ; quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 5 năm 2002 về việc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng VNĐ của tổ chức tín dụng đối với khách hàng hết hiệu lực thi hành. Việc huy động vốn bằng VNĐ của các tổ chức tín dụng phù hợp với quy định về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mức trần lãi suất huy động 12%/năm theo công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 cũng không còn hiệu lực. Từ thời điểm đó, hoạt động cho vay của các các ngân hàng có sự thay đổi căn bản; khái niệm “lãi suất cho vay tối đa” xuất hiện trên thị trường, đồng nghĩa với những mức lãi suất cho vay từ 22% – 25% trước đó được loại bỏ cùng với các loại phí thu thêm, trần lãi suất huy động thỏa thuận giữa các thành viên Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam có từ những năm trước cũng bị xóa bỏ. Đến cuối tháng 7, cùng với sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước với nguồn vốn khả dụng của hệ thống tăng mạnh lên, lãi suất trên thị trường bắt đầu có đợt thoái trào. Đặc biệt từ tháng 9 đến cuối năm, gắn với những điều chỉnh các lãi suất chủ chốt của Ngân hàng Nhà nước, cả lãi suất huy động và cho vay dồn dập giảm; ít nhất có 8 đợt điều chỉnh trên diện rộng. Từ đỉnh điểm trên 19%/năm, lãi suất huy động VND rút về quanh mốc 8%/năm; lãi suất cho vay tối đa từ 21%/năm về còn 12,75%/năm. Qua đó, đã ngăn chặn được nguy cơ xáo trộn thị trường tiền tệ và mất khả năng thanh toán của các Ngân hàng thương mại trong những tháng cuối năm 2008, an toàn hệ thống ngân hàng được đảm bảo, củng cố lòng tin của các nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân đối với hệ thống ngân hàng. Khắc phục được tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong huy động vốn giữa các Ngân hàng thương mại. Cùng với diễn biến lạm phát có xu hướng giảm, kinh tế vĩ mô ổn định và hoạt động của các Ngân hàng thương mại đảm bảo khả năng thanh toán, làm cho thị trường tiền tệ và lãi suất trong năm 2009 tương đối ổn định.

Thực ra vào đầu năm 2009, khi Chính phủ cho áp dụng cơ chế hỗ trợ lãi suất 4%/năm, NHNN cũng đã cho áp dụng lãi suất thỏa thuận đối với các đối tượng vay VNĐ ngắn hạn phục vụ đời sống, dù những đối tượng này chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng dư nợ vay ngân hàng.

Trong thời gian gần đây, những tháng đầu năm 2010, lãi suất huy động có dấu hiệu nhích dần lên. Một số ngân hàng công bố mức lãi suất tiết kiệm vượt trên “mức sàn” 11,5%, xuất hiện trở lại các hình thức khuyến mãi, huy động kỳ hạn siêu ngắn như trước đây, đẩy lãi suất thực vượt quá 12%/năm. Thực tế này khiến nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất cho vay trở nên khó khăn hơn, ngược với mong muốn của Chính phủ, thậm chí làm tăng thêm sự hoài nghi đối với tiến trình tự do hóa lãi suất theo cơ chế thỏa thuận, mặc dù cơ chế này đã chứng minh được vai trò không thể thay thế của nó trong việc điều tiết có hiệu quả quan hệ cung cầu vốn. Nguyên nhân là do một số ngân hàng vẫn chạy theo lợi nhuận đơn thuần, dựa dẫm vào mô hình kinh doanh tín dụng theo kiểu “đầu tư cơ hội” như: tiêu chí cho vay dễ dãi, quay vòng vốn nhanh, lãi suất thỏa thuận cao, tập trung vốn vào lĩnh vực nhạy cảm như đầu cơ bất động sản, lướt sóng chứng khoán, khuyến khích tiêu dùng, tăng trưởng tín dụng nóng… Cách kinh doanh này tiềm ẩn những rủi ro khó lường về khả năng thanh toán và đạo đức nghề nghiệp, cho dù đối lập hoàn toàn với tôn chỉ kinh doanh chuyên nghiệp, nhưng vẫn đang được tận dụng tối đa để đáp ứng các “nhu cầu khả dụng” vốn dĩ rất đa dạng trên thị trường, đồng thời là “đầu ra lý tưởng” để tiêu hóa khối lượng vốn “đầu vào lãi suất cao”. Cách thức kinh doanh như vậy dễ dàng biến ngân hàng trở thành bạn đồng hành với những khuyết tật của cơ chế chính sách, càng làm gia tăng thêm sự bất ổn đối với nền kinh tế.

2.3. Các quy định pháp lý về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản ở Việt Nam hiện nay:

Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sử dụng  nhiều công cụ khác nhau trong đó có lãi suất, để thực hiện điều hành chính sách tiền tệ quốc gia thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của mình. Tuỳ theo chính sách, chủ trương của Đảng, chỉ đạo của Chính phủ trong từng thời kỳ và những diễn biến trên thị trường tài chính-tiền tệ trong nước, quốc tế mà NHNN quy định cơ chế điều hành lãi suất cho phù hợp. Bên cạnh đó, các văn bản quy phạm pháp luật do NHNN ban hành quy định về cơ chế điều hành lãi suất phải đảm bảo nguyên tắc: đúng thẩm quyền và phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên. Sau nhiều năm thực hiện điều hành cơ chế lãi suất thoả thuận, ngày16/5/2008, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN quy đinh về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam ( quyết định số 16) trên cơ sở quy định của Bộ luật dân sự được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 (có hiệu lực ngày 1/1/2006). Theo đó, kể từ ngày 19/5/2008, NHNN thực hiện cơ chế lãi suất trần huy động bằng đồng Việt Nam và sử dụng công cụ lãi suất cơ bản để điều tiết lãi suất kinh doanh bằng đồng Việt Nam của các tổ chức tín dụng theo tín hiệu của thị trường. Việc NHNN thay đổi cơ chế điều hành lãi suất này đã làm cho nhiều ngân hàng và doanh nghiệp lúng túng xác định lãi suất cho vay trong các hợp đồng tín dụng đã được kí kết.

2.3.1. Lãi suất cho vay bằng VND:

Trong những tháng đầu năm 2008, lạm phát diễn biến phức tạp và có xu hướng tăng, NHNN đã thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm ưu tiên thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Chính vì vậy, các doanh nghiệp và ngân hàng Việt Nam đã gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh. Cho đến giữa tháng 10/2008, khi nền kinh tế thế giới đã bước đầu được phục hồi bởi các biện pháp giải cứu, hỗ trợ của NHNN. Chính phủ các nước và tình hình lạm phát trong nước đã có những tín hiệu được kiềm chế ( chỉ số giá tiêu dùng giảm, nhập siêu giảm…), NHNN ban hành 1 loạt các quyết định về giảm lãi suất cơ bản (từ 14%/năm xuống 13%/năm hay 12%/năm), giảm lãi suất tái cấp vốn (từ 15%/năm xuống 14%/năm hay 13%/ năm), giảm lãi suất tái chiết khấu (từ 13%/năm xuống 12%/năm hay 11%/năm), tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc (từ 5%/năm lên 10%/năm) và cho phép các tổ chức tín dụng (nếu có nhu cầu) được thanh toán tín phiếu bắt buộc trước hạn… để tạo điều kiện cho các ngân hàng chủ động hơn về nguồn vốn, thanh khoản và giảm lãi suất cho vay. Ngay sau khi NHNN ban hành các quyết định nêu trên, nhiều ngân hàng thương mại đã hạ lãi suất cho vay để hỗ trợ các doanh nghiệp vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh, phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an ninh xã hội. Mức giảm lãi suất cho vay cụ thể phụ thuộc vào chính sách cho vay, nguồn vốn huy động hiện có và khả năng, điều kiện thực tế của mỗi ngân hàng. Mức lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam được đa số các ngân hàng áp dụng hiện nay là khoảng từ  15%/năm – 16%/năm.

Mặc dù đã áp dụng các biện pháp nói trên để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và ngân hàng, nhưng NHNN vẫn yêu cầu  các ngân hàng nghiêm túc thực hiện những biện pháp ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ và dấu hiệu suy thoái kinh tế toàn cầu, chấp hành đúng quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh, kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng và tiếp tục điều chỉnh cơ cấu tín dụng để tăng vốn cho các lĩnh vực sán xuất, xuất khẩu, nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu, nông nghiệp và nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, các dự án đầu tư khả thi, có hiệu quả và khả năng trả nợ đúng hạn.

Việc NHNN thay đổi cơ chế điều hành lãi suất cơ bản và giảm lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam từ 14%/năm xuống 13%/năm rồi 12%/năm đã dẫn đến việc thay đổi lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam mà ngân hàng ấn định đối với khách hàng. Đối với những hợp đồng tín dụng được ký sau ngày áp dụng lãi suất cơ bản nói trên, ngân hàng và doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc thoả thuận lãi suất cho vay vì các bên đã biết, hiểu cơ chế điều hành lãi suất mới và lãi suất cơ bản 13%/năm hoặc 12%/năm. Song, đối với những hợp đồng tín dụng bằng đồng Việt Nam được ký kết trước ngày 21/10/2008 mà trong đó, lãi suất cho vay được ấn định trên cơ sở lãi suất cơ bản bằng 14%/năm, thì ngân hàng và doanh nghiệp không biết có nên điều chỉnh lãi suất cho vay trong  các hợp đồng tín dụng đó hay không? Nguyên nhân là ở chỗ,việc điều chỉnh hạ lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam nói trên của NHNN diễn ra trong một thời gian ngắn (trong vòng hơn 01 tháng áp dụng 3 mức lãi suất cơ bản) : bắt đầu từ 01/10/2008 áp dụng lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 14%/năm; từ ngày 21/10/2008 áp dụng lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 13%/năm và từ ngày 05/11/2008 áp dụng lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 12%/năm. Sự kiện điều chỉnh hạ lãi suất cơ bản nêu trên được công bố sau khi ngân hàng và doanh nghiệp đã ký kết nhiều hợp đồng tín dụng có lãi suất  cho vay được xác định trên cơ sở lãi suất cơ bản cũ (14%/năm). Do vậy, một số ngân hàng đã thận trọng gửi văn bản đề nghị NHNN hướng dẫn ấn định lãi suất và hạ lãi suất cơ bản nêu trên.

Hợp đồng tín dụng được coi là “luật chơi” giữa bên cho vay và bên đi vay, ghi nhận ý chí của các bên phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội. Ý chí của các bên được thể hiện thông qua những cam kết, thoả thuận cụ thể trong hợp đồng tín dụng. Khi  hợp đồng tín dụng được kí kết, thì ý chí của các bên được xác lập và các bên phải có nghĩa vụ tuân thủ những cam kết, thoả thuận trong hợp đồng tín dụng đó. Những văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý để các bên thương lượng đàm phán, thể hiện ý chí và ghi trong hợp đồng tín dụng phải đang còn hiệu lực tại thời điểm kí hợp đồng và điều chỉnh nội dung của hợp đồng tín dụng đó. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 80 Luật ban hành văn bản quy phạm năm 1996: Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực.

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định trong những trường hợp cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật mới được quy định hiệu lực trở về trước, với điều kiện quy định hồi tố không được làm nặng hơn và phát sinh thêm trách nhiệm pháp lý mới. Trường hợp có quy định hiệu lực trở về trước, thì văn bản quy phạm pháp luật đó phải quy định rõ thời điểm có hiệu lực. Quyết định số 16 không quy định hiệu lực áp dụng đối với các hợp đồng tín dụng đã được kí kết trước ngày 19/05/2008, nên lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam trong các hợp đồng tín dụng đã được kí trước thời điểm này không chịu sự điều chỉnh theo lãi suất trần (không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố) được quy định tại Quyết định số 16. Đối với các hợp đồng tín dụng quy định lãi suất cho vay có điều chỉnh, thì khi đến kì hạn điều chỉnh lãi suất, NH được quyền ấn định lãi suất cho vay cuủakì hạn điều chỉnh dóvà thông báo cho khách hàng biết, thực hiện mà không cần có sự đồng ý của khách hàng vay. Tất nhiên, lãi suất cho vay của kì hạn điều chỉnh do NH ấn định không được vi phạm pháp luật, hợp đồng tín dụng đã được kí kết và phải phù hợp với mặt bằng lãi suất cho vay chung được các NH khác áp dụng trên thị trường. NếuNH ấn định lãi suất cho vay của kì hạn điều chỉnh quá cao, thì khách hàng vay có thể có phản ứng và không muốn duy trì quan hệ lâu dài với NH nữa hoặc cố tình chây ì không trả nợ đến hạn. Do vậy, việc NH điều chỉnh lãi suất cho vay không hợp lý có thể dẫn đến những hậu quả kinh doanh ngoài mong muốn: nợ xấu và nợ quá hạn tăng, giảm khách hàng và giảm dư nợ…

Trong trường hợp các bên thoả thuận về việc xác định lãi suất cho vay có điều chỉnh nêu trên, thì lãi suất cho vay của kì hạn điều chỉnh không chịu sự điều chỉnh của văn bản quy phạm pháp luật được ban hành và có hiệu lực tại thời điểm ấn định lãi suất cho vay của kì hạn điều chỉnh, mà được ấn định theo thoả thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng đã được kí kết và văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực tại thời điểm kí hợp đồng tín dụng vì các lí do sau:

–         Việc NH ấn định lãi suất cho vay của từng kì hạn điều chỉnh theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng đã dược kí kết không làm phát sinh 1 hợp đồng hoặc thoả thuận mới giữa NH với khách hàng vay,mà chỉ là việc thực hiện 1 điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã đựơc kí kết giữa các bên.

–         Hành vi kí hợp đồng tín dụng giữa NH với khách hàng vay là đối tượng chịu sự diều chỉnh và áp dụng của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực tại thời điểm kí hợp đồng. Do đó, hành vi ấn định lãi suất cho vay của NH đôí với kì hạn điều chỉnh theo hợp đồng tín dụng đã được kí kết chỉ tuân theo văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực tại thời điểm kí hợp đồng và thoả thuận trong hợp đông tín dụng đã được kí kết (trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác), chứ không thực hiên theo văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực tại ngày ấn định lãi suất cho vay của kì hạn điều chỉnh. Trường hợp hợp đồng tín dụng đã được kí trước khi quyết định số 2316/QĐ-NHNN ngày 20/10/2008 (Quyết định số 2316) hoặc quyết định số 2559/QĐ-NHNN ngày 03/11/2008 của Thống đốc NHNN (Quyết định số 2559) có hiệu lực nhưng chưa giải ngân hoặc chưa giải ngân hết, thì NH và khách hàng vay đều tiếp tục thực hiện theo lãi suất đã ghi trong hợp đồng tín dụng. Việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực sau ngày kí hợp đồng như Quyết định số 2316 hoặc Quyết định số 2559 là do NH và khách hàng tự thoả thuận. Nếu các bên thoả thuận được với nhau, thì lãi suất cho vay của kì hạn điều chỉnh được ấn định không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản được áp dụng tại thời điểm ấn định lãi suất cho vay của kì hạn điều chỉnh, chứ không phải là lãi suất cơ bản được công bố tại thời điểm đó. NHNN là cơ quan duy nhất được Quốc hội trao cho quyền công bố lãi suất cơ bản, nhưng ngày công bố lãi suất cơ bản không hẳn đã trùng với ngày có hiệu lực áp dụng mức lãi suất cơ bản được công bố đó.Ví dụ, theo thoả thuận của các bên, thì kì hạn điều chỉnh lãi suất cho vay là 3 tháng kể từ ngày kết thúc kì hạn điều chỉnh lãi suất cho vày liền kề trước đó (ngoại trừ 3 tháng đầu tiên kể từ ngày kí hợp đồng tín dụng, lãi suất cho vay được ấn định và ghi trong giấy nhận nợ khi giải ngân) và thời hạn ấn định lãi suất cho vay của từng kì hạn điều chỉnh là 5 ngày đầu của tháng đầu tiên trong kì hạn điều chỉnh; nếu ngày  thứ 5 của tháng đầu tiên trùng với ngày 20/10/2008 thì lãi suất cho vay của kì hạn điều chỉnh được ấn định không quá 21%/năm cảu lãi suất cơ bản do NHNN công bố (lãi suất cơ bản do NHNN công bố đã có hiệu lực áp dụng tại ngày 20/10/2008 là 14%/năm), chứ không ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất cơ bản được NHNN công bố ngày 20/10/2008 (13%/năm) vì mặc dù ngày 20/10/2008 NHNN công bố lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 13%/năm, nhưng mức lãi suất cơ bản này chỉ được áp dụng vào ngày 21/10/2008 (ngày có hiệu lực quyết định số 2316). Tương tự như vậy lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam 12%/năm là căn cứ để NH ấn định lãi suất cho vay của kì hạn điều chỉnh kể từ ngày 05/11/2008, chứ không phải 03/11/2008-ngày Thống đốc NHNN công bố mức lãi suất cơ bản này.

2.3.2. Lãi suất cho vay bằng đồng đô la Mỹ:

   Ngoài vai trò là công cụ điều tiết chính sách vĩ mô, lãi suất còn được sử dụng để ngân hàng cân đối nguồn vốn huy động và vốn cho vay trong từng thời kì. Luật các Tổ chức tín dụng quy định việc cho vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng, trong đó phải có các nội dung chủ yếu như: Điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất… Đối với khoản cho vây bằng đồng Việt Nam, lãi suất cho vay do ngân hàng và khách hàng thoả thuận, nhưng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố để áp dụng trong từng thời kì. Tuy nhiên, đối với khoản vay bằng đô la Mỹ mà doanh nghiệp đề nghị vay vốn ngân hàng để nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu hoặc mua máy móc, thiết bị để sản xuất các mặt hàng phục vụ xuất khẩu, một số ngân hàng băn khoăn lãi suất cho vay bằng đô la Mỹ do ngân hàng ấn định đối với khách hàng vay có phải tuân theo quy định của quyết định số 16 hay không?

Dưới góc độ pháp lí, lãi suất cho vay bằng đô la Mỹ do các ngân hàng ấn định đối với khách hàng không bị khống chế bởi lãi suất trần theo cơ chế điều chỉnh lãi suất cơ bản được quy định tại quyết định số 16 vì các lí do sau đây:

+ Thứ nhất: Theo quy định tại điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do NHNN công bố  đối với loại cho vay tương ứng. Thực tế cho đến nay NHNN chỉ quy định lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam chứ chưa quy định lãi suất cơ bản bằng đô la Mỹ hoặc ngoại tệ khác.

+ Thứ hai: Quyết định số 16 chỉ quy định việc điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam  làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh không vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Do đó, các ngân hàng không có nghĩa vụ phải ấn định lãi suất kinh doanh bằng đô la Mỹ đối với khách hàng theo quy định của Quyết định số 16.

+ Thứ ba: Quyết định số 718/2001/QĐ-NHNN ngày 29/05/2001 của Thống đốc NHNN quy định về cơ chế điều hành lãi suất cho vay bằng đô la Mỹ của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng  cho đến nay chưa bị sửa đổi, bổ sung hay bị thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật khác. Cho nên, Quyết định số 718 vẫn còn hiệu lực và là cơ sở pháp lý để các NH ấn định lãi suất cho vay bằng đô la Mỹ đối với khách hàng vay.

Thứ tư: theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có quyền kinh doanh ngành nghề mà pháp luật không cấm. NH là một loại hình doanh nghiệp nên NH cũng có quyền kinh doanh theo quy định này. Vì vậy, nếu pháp luật không cấm các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất cho vay bằng đô la Mỹ vượt quá 150% lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam do NHNN công bố để áp dụng trong từng thời kì, thì NH và khách hàng vay có quyền thoả thuận lãi suất cho vay cụ thể. Chính vì lẽ đó các NH có quyền ấn định lãi suất cho vay bằng đô la Mỹ đối với khách hàng vay dựa trên cơ sở lãi suất thì trường quốc tế và cung-cầu vốn tín dụng bằng ngoại tệ ở trong nước.

2.3.3. Lãi suất quá hạn:

Trong cơ chế thị trường, không phải tất cả các doanh nghiệp đều luôn hoạt động kinh doanh có lãi và đủ khả năng trả nợ vay đến hạn cho NH. Thực tế không ít doanh nghiệp đã vi phạm cam kết và thoả thuận trong hợp đồng tín dụng khi nợ vay đến hạn. Lúc đó, nếu doanh nghiệp có văn bản đề nghị và NH đánh giá thấy doanh nghiệp có khả năng trả được nợ trong 1 thời gian nhất định tiếp theo thì NH có thể xem xét điều chỉnh kì hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ với thời gian trả nợ phù hợp với nguồn trả nợ của doanh nghiệp. Trường hợp hết thời hạn được điều chỉnh hoặc gia hạn nợ mà doanh nghiệp vẫn không trả được nợ thì NH có quyền chuyển khoản nợ gốc đó sang nợ vay quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn.

Hợp đồng tín dụng giữa NH với doanh nghiệp là dạng hợp đồng thương mại vì hợp đồng tín dụng được lập thành văn bản, các bên tham gia hợp đồng là pháp nhân hoặc có đăng kí kinh doanh và có mục đích lợi nhuận. Cho nên, hoạt động tín dụng  của NH thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại năm 2005. ViệcNH áp dụng lãi suất quá hạn trên khoản nợ gốc thực tế quá hạn đối với doanh nghiệp là 1 hình thức chế tài do doanh nghiệp vi phạm hợp đồng tín dụng. Chế tài phạt hợp đồng có mục đích chủ yếu là trừng phạt giáo dục bên vi phạm ý thức tôn trọng và tuân thủ cam kết trong hợp đồng đã được kí kết. Phạm vi hợp đồng là 1 quy định tuỳ nghi, chứ không phải là 1 quy định bắt buộc trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp các bên không có thoả thuận phạt vi phạm, thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại. Do đó, nếu hợp đồng tín dụng không quy định lãi suất quá hạn, thì NH (bên bị vi phạm) chỉ được yêu cầu khách hàng vay (bên vi phạm) trả lãi theo lãi suất trong thời hạn cho vay đã được thoả thuận trong hợp đồng. Khi các bên có thoả thuận áp dụng lãi suất quá hạn đối với khoản nợ gốc thực tế quá hạn, thì lãi suất quá hạn không được vượt quá 150% lái suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được kí kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng. Quy định này áp dụng cho cả khoản vay bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ.

Hiện nay, có ý kiến cho rằng lãi suất quá hạn cũng là lãi suất kinh doanh vì lãi suất này:

  + Đã bao gồm cả lãi suất cho vay trong hạn và khoản tiền phạt do khách hàng vay không trả được nợ đúng hạn.

          + Được ấn định để phuc vụ mục tiêu lợi nhuận của NH trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng. Cho nên,lãi suất quá hạn đối với khoản vay bằng đồng Việt Nam không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản của NHNN công bố để áp dụng trong từng thời kì (Quyết định số 16). Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng lãi suất kinh doanh không bao gồm lãi suất quá hạn được quy định tại khoản 2 điều 11của quy chế cho vay cua rtổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc NHNN (quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định số 1627) vì khoản 1 điều 1 quyết định số 16 đã quy định lãi suất kinh doanh (lãi suất huy động, lãi suất cho vay), nên có thể hiểu phần trong ngoặc đơn đã giải thích cho cụm từ “lãi suất kinh doanh” tức là lãi suất kinh doanh chỉ bao gồm lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Thêm nữa, cho đến nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định hoặc có định nghĩa về lãi suất kinh doanh. Do vậy, lãi suất quá hạn được áp dụng theo quy định tại khoản 2 điều 11 của Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định số 1627, chứ không thuộc phạm vi điều chỉnh của Quyết định số 16.

Liên quan đến lãi suất quá hạn, khoản 5 điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: Trường hợp hợp đồng vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do NHNN công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ. Do đó, Bộ luật Dân sự năm 2005 và Quy chế cho vay ban hành kèm theo quyết định số 1627 đã quy định không thống nhất nhau về lãi suất quá hạn. Sự không thống nhất này được biểu hiện ở những điểm sau:

–         Theo quy định nêu trên của Bộ luật Dân sự năm 2005, trường hợp không trả được hoặc trả không đầy đủ nợ đến hạn, khách hàng vay phải trả cho NH khoản tiền lãi bằng lãi trong hạn cộng với lãi quá hạn. Lãi trong hạn được tính trên dư nợ gốc thực tế giải ngân  và theo lãi suất cho vay trong hạn được quy định trong hợp đồng tín dụng. Lãi quá hạn được tính trên dư nợ gốc thực tế quá hạn và theo lãi suất cơ bản do NHNN công bố tương ứng với thời hạn cho vay tại thời điểm trả nợ . Hiện tại, lãi suất cơ bản do NHNN công bố là cơ sở chung để ấn định lãi suất cho vay đối với các loại cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn, chứ không có lãi suất cơ bản riêng để ấn định lãi suất cho vay đối với từng loại cho vay.

–         Quy chế cho vay ban hành kèm theo quyết định số 1627 không phân chia lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc thực tế quá hạn bao gồm lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn như quy định nói trên của Bộ luật Dân sự năm 2005, mà cho phép NH và khách hàng tự thoả thuận nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn. Cho nên, khi nợ vay gốc được chuyển sang nợ quá hạn, NH ấn định thoả thuận với khách hàng về mức lãi suất quá hạn cụ thể.

Chương 3: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CƠ CHẾ QUẢN LÝ LÃI SUẤT TÍN DỤNG

 

3.1. Những hiệu quả  đạt được của các cơ chế quản lý lãi suất tín dụng:

Vào năm 1999 với việc áp dụng công cụ trần lãi suất cho vay thay vì khống chế lãi suất cho vay của các NHTM là cơ sở để các tổ chức tin dụng tăng lãi suất huy động vốn , tạo điều kiện cho việc huy động đủ vốn nhằm đáp ứng các yêu cầu về phát triển kinh tế xã hội , đồng thời phù hợp với quan hệ cung – cầu về vốn tín dụng đối với nền kinh tế.

Sau này, với việc từ bỏ lãi suất trần huy động vốn và áp dụng mức lãi suất cơ bản đã tạo ra một mặt bằng lãi suất ổn định trên thị trường , giúp ngăn ngừa những biến động lớn trên thị trường tiền tệ và tín dụng. Nó là cơ sở để các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh của mình và đưa hoạt động tín dụng đi theo đúng khuôn khổ pháp luật. Nó cũng giúp chấm dứt cuộc đua lãi suất giữa các NHTM diễn ra gay gắt trong thời gian trước đó. Ngoài ra, cơ chế này còn giúp xua đi những tín hiệu xấu về tình hình tài chính cảu các NHTM và phản ánh tình hình tài chính của các NH này.

Biện pháp điều hành lãi suất đã có hiệu lực và hiệu quả đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại và lãi suất thị trường, thể hiện là lãi suất huy động và cho vay của các Ngân hàng thương mại biến động theo cung – cầu vốn và tăng, giảm theo sự thay đổi của các mức lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước, đã tác động làm thu hẹp hoặc mở rộng tín dụng. Năm 2008 và những tháng đầu năm 2009, tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng phù hợp với chủ trương thắt chặt hoặc nới lỏng tiền tệ một cách thận trọng.

Việc điều hành linh hoạt lãi suất, vừa là công cụ điều tiết thị trường, vừa là động thái phát tín hiệu về chủ trương của Chính phủ và giải pháp điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước là thắt chặt hay mở rộng tiền tệ, đã và đang trở thành một chỉ số kinh tế quan trọng trên thị trường tài chính, tiền tệ, được các tổ chức, các nhân trong và ngoài nước quan tâm, theo dõi, dự báo và có phản ứng khá nhanh nhạy, tích cực về hoạt động đầu tư, tiết kiệm và tiêu dùng. Kết quả này có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện được vai trò và những tác động tích cực của chính sách tiền tệ đối với việc kiềm chế lạm phát và điều tiết kinh tế vĩ mô.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 01/2009/TT-NHNN hướng dẫn về lãi suất thoả thuận của các Ngân hàng thương mại đối với cho vay các nhu cầu vốn phục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, đi kèm theo đó là cơ chế thống kê, theo dõi và thanh tra, giám sát nhằm hạn chế rủi ro. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/02/2009. Thông tư được ban hành nhằm thực hiện Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 627/VPCP-KTTH ngày 23 tháng 01 năm 2009 của Văn phòng Chính phủ về áp dụng lãi suất cho vay thoả thuận của các tổ chức tín dụng.

3.2. Những tồn tại của cơ chế quản lý lãi suất tín dụng:

Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản phù hợp với quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước và Bộ luật Dân sự. Tuy vậy, cơ chế điều hành lãi suất cơ bản là công cụ can thiệp trực tiếp đối với lãi suất kinh doanh của Ngân hàng thương mại, có hạn chế nhất định việc thử nghiệm và đưa ra thị trường các sản phẩm tín dụng có độ rủi ro cao, nhằm tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường.

Chính sách lãi suất như hiện nay chưa khuyến khích được các tổ chức tín dụng cho vay trung và dài hạn. Thực tế cho thấy, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm tỉ trọng rất lớn trong tổng số nguồn vốn cho vay của các ngân hàng. Do đó các dự án trung và dại hạn thường gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm các nguồn vốn từ Ngân hàng.

Ngoài ra, các chính sách điều chỉnh lãi suất của NHTW còn chưa linh hoạt, thường chậm hơn so với các diễn biến của nền kinh tế và do đó chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Lấy ví dụ như tình trạng lạm phát diễn ra trong năm 2007 với mục tiêu kiềm chế tốc độ lạm phát thấp hơn tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên khi tình trạng lạm phát diễn ra (lên đến 12.63%) thì NHNN vẫn duy trì mức lãi suất cơ bản như năm 2006 là 8,25% trong khi mức độ lạm phát năm 2006 chỉ là 6,6%. Tiếp đó vào thời điểm lạm phát được kiểm soát vào khoảng cuối năm 2008 thì lãi suất cơ bản không những không giảm mà còn tiếp tục tăng lên (lên đến 14% năm),  điều này đã đẩy nhiều Doanh nghiệp vào thế khó khi lãi suất quá cao gây khó khăn cho việc vay vốn trong khi giá sản phẩm đã giảm xuống do tác động của lạm phát đã được đẩy lùi. Mặt khác, nếu NHNN thi hành ngay việc tăng lãi suất cơ bản vào cuối năm 2007 thì lạm phát đã không thể bùng phát mạnh mẽ như vậy và kéo dài sang cả năm 2008.

Thêm nữa, trong ngành nông nghiệp dù được sự quan tâm của Nhà nước thì việc cho vay đối với từng hộ gia đình là điều cần thiết. Tuy nhiên, thực tế đây lại là một khu vực nhạy cảm, có mức độ rủi ro cao, nợ gốc khó đòi nên dễ gây thua lỗ cho các Ngân hàng, ảnh hưởng đến tâm lý đối với các cán bộ tín dụng và làm ảnh hưởng đến các hoạt động của Ngân hàng. Chính sách hỗ trợ lãi suất của ngân hàng Nhà nước vào năm nay cũng chưa đạt được hiệu quả mong muốn bởi vì trên thực tế thủ tục cũng khá phức tạp lại không được hướng dẫn cụ thể từ phía Ngân hàng nhà nước, và các ngân hàng thương mại lo ngại rằng khi đoàn thanh tra của Ngân hàng Nhà nước kết luận họ cho vay không đúng đối tượng sẽ không nhận được tiền hỗ trợ lãi suất của Ngân hàng nhà nước. Mặt khác, các Doanh nghiệp cũng không mấy mặn mà bởi hàng tồn trong kho còn nhiều nên họ cũng không mấy hào hứng mở rộng sản xuất, hơn nữa đối tượng hỗ trợ lãi suất chỉ là các Doanh nghiệp vừa và nhỏ với lượng vốn vay ít nên mức giảm này cũng không nhiều ý nghĩa đối với chi phí bỏ ra để giải trừ hàng tồn kho.

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực vẫn còn tác động ảnh hưởng đến nền kinh tế nước ta trước tình hình đó Nhà nước đã đề ra những giải pháp kịp thời nên tốc độ tăng trưởng kinh tế không bị tụt hậu so với một số nước trong khu vực. Đối với người cho vay thì việc giảm lãi suất cho vay là biện pháp hữu hiệu sẽ giảm một phần chi phí đầu ra để tiêu thụ sản phẩm. Nhưng lại có một số doanh nghiệp Nhà nước chưa nắm bắt được điều này nên còn thụ động trông chờ vào Nhà nước, thiếu tính cạnh tranh trong việc tiêu thu hàng hoá tồn đọng và chưa tận dụng chính sách kích cầu của chính phủ nên khối lượng sản phẩm tồn kho lớn như: mía 540 tỷ, ximăng 700 tỷ, dệt may 500 tỷ…

Có một số doanh nghiệp phàn nàn rằng lãi suất cho vay là quá cao dẫn đến chi phí trả lãi tiền vay cao nhưng một thực tế đặt ra là bấy lâu nay chưa ai chịu thừa nhận rằng có rất nhiều doanh nghiệp Nhà nước “sống” chủ yếu  dựa vào vốn vay cho nên dù có tiếp tục hạ lãi suất thì các doanh nghiệp vẫn kêu ca lại có ý kiến cho rằng để tăng sức thu vốn , hút vốn của các doanh nghiệp thì trước hết doanh nghiệp phải tự đổi mới chính mình để nâng cao sức cạnh trang cho chính doanh nghiệp , đơn vị của mình .Nhưng việc tăng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế quyết định mức tăng trưởng tín dụng , lãi suất chỉ là bịên pháp kích cầu .Khi các nhà thương mại quốc doanh cải tiến phương thức cho vay theo phương châm: Vững chắc – chất lượng – an toàn và hiệu quả thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự đỏi mới chính để tăng sức cạnh tranh trên thị trường , sử dụng vốn có hiệu quả đồng thời phải có sự hỗ trợ vốn của Nhà nước trong việc đầu tư đổi mới công nghệ cấp vốn ngân sách cho các doanh nghiệp tạo điều kiện cho doanh nghiệp hấp thụ vốn là giải pháp hữu hiệu nhất để Nhà nước mở rộng vốn cho vay.

Đối với nghành nông nghiệp – một ngành vốn được Nhà nước ta ưu tiên từ trước đến nay thì phải cho vay tới từng hộ gia đình mở rộng địa bàn, nhất là những vùng thuộc chính sách kinh tế xã hội. Những địa bàn này có trở ngại to lớn đó là mức rủi ro cao , nợ gốc khó trả còn lãi lại còn khó hơn chính vì thế mà hầu hết các Ngân hàng ở các khu vực này thường xuyên bị thua nỗ và dễ gây tâm lý nản lòng đố với các cán bộ nhân viên tín dụng làm ảnh hưởng không tốt đến hoạt động Ngân hàng.

Vốn ngắn hạn cần cho các để tư bổ xung dưới nhiều hình thức khác nhau dẫn đến vốn lưu động bị bão hoà, vốn mà ngân hàng cần là vốn trung và dài hạn với mục đích để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thay thế trang thiết bị máy móc đã lỗi thời đổi mới quy trìng công nghệ nâng cao  năng suất lao động, hiệu quả lao động… nhưng cho đến nay hầu hết các ngân hàng thương mại quốc doanh đề chưa đáp ứng đựơc yêu cầu này, chính vì thế mà để có vốn cho vay ngân hàng nhà nứoc đã cho phép các ngân hàng thương mại quốc doanh dành 20% vốn huy đọng ngắn hạn để nuôi vay trung dài hạn. Đây cũng chính là tiêu đề vật chất cho sự tăng trưởng tín dụng ngắn hạn.

Một vấn để nữa còn đang đựoc đề cập là vốn nhàn rỗi trong dân nó chiếm một lưọng rất lớn và chưa đựơc đưa vào quỹ đạo của nền kinh tế. Theo số liệu điều tra cho thấy vốn nhàn rỗi trong dân khoảng từ 10 – 12 tỷ USD với 44% dùng để mua vàng, ngoại tệ, 20% mua đất, mua nhà và các phương tiện sinh hoạt 19% dùng cho sản xuất và chỉ có 17% là gửi tiết kiệm chủ yếu là ngắn hạn. Tiền thừa trong dân sử dụng vào sản xuất khoảng 32% còn lại sử dụng cho hoạt động phi kinh tế, khối lưọng tiền nhàn rỗi trong dân này sẽ là nguy cơ ngây khó khăn cho việc quản lý điều hoà quá trình lưu thông tiền tệ của nhà nước và có thể dẫn đến hiện tượng cho vay nặng lãi. Có những người thừa tiền sẵn sàng đáp ứng rất nhanh cho những người cần tiền khi chưa đủ điều kiện vay ngân hàng và tất nhiên phải đi kèm vối lãi suất rất cao cũng có những ý kiến cho rằng thủ tục vay ngân hàng quá phiền hà cho nên họ ngại đến ngân hàng có thể lấy một ví dụ như sau: khi đến thời vụ sản xuất không ít hộ nông dân, ngư dân, chủ trang trại… do nhu cầu cấp bách, khẩn trương về vốn đã phải chấp nhận vay ngoài với lãi suất cao hơn vay ngân hàng nhưng lợi thế nhanh chóng và kịp thời. Đây cũng là vấn đề nóng, đáng quan tâm trước thực trạng tín dụng ngân hàng, cần mở rộng giải pháp kích cầu của chính phủ.

3.3. Giải pháp định hướng việc điều hành lãi suất ở Việt Nam:

Trong xu hướng hội nhập toàn cầu, Việt Nam đang tường bước chuyển mình để hào nhập với nền kinh tế thế giới, hoà nhập nhưng không hoà tan – đó là điều kiện không đơn giản. Từ nhưỡng kinh nghiệm học hỏi một số nước kết hợp với kinh nghiệm thực tế, Việt Nam đã và đang tìm ra những bước đi phù hợp với điều kiện của mình nhằm tiến tới chính sách lãi suất hoàn thiện, Việt Nam đã liên tục điều chỉnh lãi suất cho phù hợp với nền kinh tế.

3.3.1.  Đổi mới cơ chế điều hành cơ chế lãi suất Ngân hàng

Lãi suất là giá mua bán vốn trên thị trường cơ sở kinh tế của lãi suất là do các hiện tượng tạm thời thừa và thiếu vốn tiền tệ trong nền kinh tế hàng hoá và gắn với nó là vai trò trung gian của Ngân hàng trong việc tập chung và phân phối lại vốn tiền tệ thông qua công cụ lãi suất.

Đối với Việt Nam trong thời kỳ xây dựng lại nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc nghiên cứu để luân có một  chính sách cho phù hợp vắi nước ta hiện nay là hết sức cần thiết.

Trên thực tế từ năm 1990 chúng ta đã từng bước chuyển từ  cơ chế lãi suất âm sang cơ chế lãi suất dương và từ tháng 6 /1991 ta đã thực hiện triệt để chính sách lãi suất dương trong hoạt động tín dụng .Lãi suất vướt trên chỉ số lạm phát và được điều chỉnh theo sự biến động của thị trường, có tham khảo lãi suất trên thị trường và khu vực quốc tế.

Nghị quyết Trung ương IV cũng nêu “thực hiện cơ chế lãi suất tín dụng theo quan hệ cung cầu trên thị trường vốn”. Chúng ta phải có chính sách lãi suất phù hợp với đường nối đổi mới kinh tế vừa đảm bảo các yêu cầu quản lý vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước, thực hiện tính định hướng xã hội chủ nghĩa và vai trò quản lý của Nhà nước trong việc xây dựng và phát triển kinh tế. Bởi vì chúng ta đổi mới kinh tế trong điều kiện nền kinh tế đang trong quá trình phát triển, giá trị sản xuất nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu GDP, còn nhiều vùng, nhiều nơi kinh tế hàng hoá chưa phát triển thị trường chưa sôi động.

Chúng ta có thể quy định lãi suất một cách cứng nhắc theo kiểu hành chính gò bó áp đặt. Thị trường tiền tệ luôn luôn sôi động có độc quyền. Do đó quá trình tự do lãi suất là quá trình hoàn toàn mang tính quy luật, như vậy lãi suất mới trở thành đòn bẩy trong nền kinh tế. Song cũng không thể thả nổi lãi suất mà phải có định hướng chính sách lãi suất cụ thể cho các tổ chức tín dụng khác nhau hoạt động ở những vùng có điều kiện kinh tế xã hội khác nhau… có như vậy, các tổ chức tín dụng mới hoạt động được trong một cơ chế cạnh tranh lành mạnh đảm bảo kinh doanh có lãi phục vụ có hiệu quả cho khách hàng và nền kinh tế.

Chính sách lãi suất phải đảm bảo Ngân hàng Nhà nước thống nhất quản lý một cách ổn định theo cơ chế định hướng còn các lãi suất cụ thể phải đi cơ chế thị trường trong cơ chế định hướng ấy. Tuy nhiên nền kinh tế có định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước mà cụ thể là Ngân hàng Nhà nước nên làm rõ phần chính sách lãi suất để thực hiện các mục tiêu xã hội như chính sách đối với dân tộc vùng sâu vùng xa, chính sách xoá đói giảm nghèo xong việc đầu tư phải được rạch ròi cũng đã đến lúc phải giao cho Ngân hàng chính sách làm việc này được Ngân hàng xử lý cụ thể, chỉ như là các tổ chức tín dụng mới hoạt động tốt được mà cũng đúng với cơ chế lãi suất thực có của nước ta.

Như ta đã biết công cụ lãi suất có hai mặt rất nhạy cảm. Tăng lãi suất tiền gửi có lợi cho tiết kiệm bất lợi cho đầu tư và ngược lại. Điều hành công trong phát triển kinh tế như các nước công nghiệp mới của châu á áp dụng chính sách lãi suất không giống nhau thậm chí trái ngược nhau. Nhiều nước thực hiện chính sách tự do hoá lãi suất, các nước khác chính phủ lại can thiệp mạnh vào khung lãi suất có nước lại sử dụng chính sách lãi suất thấp như Hàn Quốc, có nước lại thực hiện một chính sách lãi suất cao như Đài Loan.

Có thể nói Việt Nam đang thi hành một chính sách lãi suất cao có sự can thiệp mạnh mẽ của Nhà nước , trong đó Nhà nước ổn định trần lãi suất cho vay. Chính sách lãi suất này về cơ bản được đánh giá tích cực có đóng góp nhất định vào việc kiềm chế làm phát và huy động tiết kiệm cho đầu tư phát triển trong giai đoạn vừa qua .

Nên hạ mức lãi suất xuống cho ngang bằng với mức trung bình quốc tế, thực hiện chính sách tự do hoá lãi suất để cho cung cầu thị trường tự thiết lập. Từ thực tế trong những năm vừa qua cho thấy tại giai đoạn phát triển của Việt Nam hiện nay vẫn rất cần có sự can thiệp từ phía Nhà nước và việc hình thành lãi suất vẫn cần duy trì lãi suất tiền gửi ở mức cao hơn so với mức trung bình trên thị trường quốc tế.

3.3.2. Đổi cơ chế quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng (TCTD)

Đã đến lúc Ngân hàng Nhà nước điều hành kinh doanh của các Ngân hàng thương mại bằng những cơ chế, chính sách để các Ngân hàng thương mại đi đúng quỹ đạo của cơ chế thị trường là. Cạnh tranh giảm chi phí nhiệm vụ ,đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ có chất lượng ngày càng cao chứ không phải cạnh tranh tăng lãi suất huy động để huy động vốn giảm lãi suất cho vay đẻ thu hút khách hàng Ngân hàng Nhà nước là người điều hành nguần vốn từ Ngân hàng thương mại thừa vốn sang Ngân hàng thương mại thiếu vốn không cần huy động thêm nguồn vốn nhàn rỗi từ nền kinh tế thông qua thị trường liên Ngân hàng và nghiệp vụ của Ngân hàng Trung ương nhằm đưa lãi suất tiền gửi tiết  kiệm, tín phiếu, kỳ phiếu về mức hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu kinh doanh của các  Ngân hàng thương mại .

Tiếp đến Ngân hàng Nhà nước cần nhanh chóng chuyển sang điều hành theo lãi suất  cơ bản trên cơ sở tiền đề của nó là tạo ra sự thông thoáng trong cơ chế tác động vào lĩnh vực huy động vốn của các Ngân hàng thương mại, làm sao cho lãi suất huy động vốn thể hiện được diễn biến cân đối cung cầu về vốn trên thị trường.

Để làm được điều này ,Ngân hàng Nhà nước cần tập trung vào một số vấn đề sau đây:

3.3.2.1 Giảm lãi suất cho vay và lãi suất huy động

Thực tế hiện nay các nước cho thấy có hai xu hướng sử lý vấn đề lãi suất Ngân hàng. Hướng thứ nhất: Giảm lãi suất cho vay để kích thích tăng trưởng kinh tế. Hướng thứ hai tăng lãi suất để huy động tối đa vốn nhàn rỗi trong dân cư vào sản xuất thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Cả hai xu hướng này đều có mục tiêu như nhau nhưng phương pháp khác nhau. Việc vận động phương pháp nào là tuỳ theo điều kiện của mỗi nước trong từng thời kỳ nhất định.

 Đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay nên kết hợp hài hoà giữa hai hướng đó ưu tiên cho hướng thứ nhất, tức là giảm lãi suất cho vay kích thích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh bởi những lý do sau đây:

Thứ nhất: các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiện nay rất cần vay vốn để đầu tư chiều sâu phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm tăng sức mạnh cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Thế nhưng, yêu cầu đó gặp khó khăn là lãi suất quá cao so với tỷ suất lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh.

Thứ hai: vốn nhàn rỗi trong dân cư còn nhiều nhưng chưa huy động được hết. Muốn tăng sức hấp dẫn đối với dân cư  ngoài lãi suất chưa hợp lý còn phải đảm bảo tính ổn định và an toàn của giá trị đồng tiền. Để đạt yêu cầu đó, vấn đề quan trọng nhất là sản xuất kinh doanh phát triển thu chi ngân sách cân đối, tài chính quốc gia lành mạnh và hoạt động của Ngân hàng phải có hiệu quả.

Xu hướng giảm lãi suất cho vay, lãi suất huy động có tính tích cực nhiều hơn và suy cho cùng  hạn chế được rủi ro trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại đồng thời tạo được tâm lý ổn định của khách hàng bao gồm cả người gửi và người vay.

3.3.2.2.  Nâng cao tính ổn định của lãi suất tín dụng và tỷ lệ lãi suất ổn định phải thấp hơn tỷ lệ lạm phát:

Điều này có nghĩa đặc biệt quan trọng cả về kinh tế và xã hội. Lãi suất tín dụng là yếu tố quan trọng của nền kinh tế tài chính của một nước, sự biểu hiện của lãi suất là biểu hiện của sự ổn định giá trị đồng tiền. Vì vậy ổn định lãi suất tín dụng là xu hướng phổ  biến của các nước cơ nền kinh tế phát triển.

Ở nước ta hiện nay tuy tiềm lực kinh tế và dự trữ ngoại tệ chưa đạt đến trình độ phát triển nên vấn đề ổn định lãi suất càng chỉ nên đặt ra trong một khoảng thời gian nhất định ít nhất là một năm. Lý do là: sau một năm tỷ lệ lạm phát đã thay đổi đó là căn cứ để điều chỉnh lãi suất tín dụng. Hơn thế giảm bớt khối lượng hạch toán của các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng ổn địng tâm lý khách hàng.

3.3.2.3. Phân định rõ chức năng xã hội trong hoạt động của các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng theo hướng xoá bỏ dần cơ chế bao cấp qua lãi suất tín dụng:

Theo hướng này các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng chỉ làm chức năng kinh doanh tiền tệ theo luật Ngân hàng. Chuyên chức xã hội cho các tổ chức tài chính khác nhau, Ngân hàng đầu tư và phát triển, Ngân hang nông nghiệp và phát triển nông thôn… Muốn vạy cần phải hạn chế và tiến tới soá bỏ tính bao cấp của Nhà nước qua lãi suất tín dụng của Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng của Nhà nước. Chừng nào còn tồn tại bao cấp của Nhà nước qua tín dụng thì các Ngân hàng thương mại chưa thể thực hiện  chức năng tiền tệ theo đúng luật Ngân hàng. Tính chủ động trong sản xuất kinh doanh của các chủ nhà băng vẫn còn hạn chế hiệu quả hoạt động của Ngân hàng không thể hoạch toán rõ được về kinh tế và xã hội. Yêu cầu tạo sân trơi bình đẳng giữa các Ngân hàng thương mại quốc doanh với các Ngân hàng thương mại cổ phần và Ngân hàng thương mại liên doanh với nước ngoài cũng đòi hỏi phải xoá bỏ bao cấp.

3.3.2.4. Tạo lập môi trường pháp lý lành mạnh dể khuyến khích sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng phù hợp với chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước:

Các Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng trong hệ thống Ngân hàng thuộc mọi thành phần kinh tế đều có chức năng kinh doanh tiền tệ phục vụ nhu cầu lưu thông tiền tệ của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sau khi xoá bỏ bao cấp qua tín dụng thì các Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng chỉ làm chức năng kinh doanh theo luật Ngân hàng. Vì vậy Ngân hàng cần tạo sân chơi bình đẳng giữa các Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng thực hiẹn đầy đủ phương trâm “đi vay để cho vay”

 Và nguyên tắc “kinh doanh tiền tệ phải có lãi”, ổn định bền vững và đúng pháp luật của Nhà nước nhất là luật Ngân hàng. Tôn trọng  tính độc lập, tính tự chủ của kinh doanh của các Ngân hàng thương mại đi đôi với vai trò tăng cường vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước thông qua điều hành lãi suất cơ bản.

 Chương 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

 

4.1. Kết luận:

Việt Nam là một nước đang xây dựng một nền kinh tế hàng hóa thị trường nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vì thế việc nghiên cứu để có một chính sách lãi suất cho phù hợp là vô cùng cần thiết để xây dựng nền kinh tế. Trên thực tế, trong suốt thời gian qua chúng ta đã không ngừng thay đổi cơ chế điều hành lãi suất cho phù hợp: năm 1990 chúng ta đã chuyển từ cơ chế lãi suất âm sang cơ chế lãi suất dương, đồng thời duy trì lãi suất vượt trên lạm phát và điều chỉnh theo biến động của nền kinh tế thị trường, có tham khảo sự thay đổi của các nước trong khu vực và quốc tế. Đầu năm 1996 lại có sự thay đổi theo hướng tự do hóa, hủy bỏ quy định về lãi suất tiền gửi điều chỉnh trần lãi suất cho vay phù hợp với cung cầu vốn và mức độ lạm phát.

Vì vậy, có thể thấy rằng chúng ta không thể quy định lãi suất một cách cứng nhắc theo kiểu hành chính gò bó áp đặt. Chúng ta đều biết, thị trường tiền tệ luôn luôn rất sôi động, do đó việc tự do lãi suất là một quy luật tất yếu và có như vậy lãi suất mới trở thành đòn bẩy trong nền kinh tế. Mức chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn không nên bị khống chế quá chặt chẽ, cứng nhắc mà nên điều chỉnh phụ thuộc vào thị trường và hiệu quả kinh doanh của từng tổ chức tín dụng. Tuy nhiên không vì thế mà thả nổi lãi suất mà phải có các chính sách lãi suất cụ thể cho các tổ chức tín dụng. Có như vậy các tổ chức tín dụng mới có thể hoạt động được trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh đảm bảo hoạt động hiệu quả phục vụ cho khách hàng và nền kinh tế.

Chúng ta phải có một chính sách lãi suất phù hợp với đường lối đổi mới nền kinh tế, tuân thủ theo định hướng XHCN đảm bảo vai trò quản lý của Nhà nước trong việc xây dựng và phát triển kinh tế. Chính sách quản lý phải thống nhất ổn định và đi theo định hướng của thị trường, đồng thời khắc phục những biến cố phát sinh của nền kinh tế. Ngoài ra, NHNN còn cần phải làm rõ phần chính sách lãi suất để thực hiện các mục tiêu xã hội như xóa đói giảm nghèo, đầu tư cho giáo dục, y tế…

Hơn nữa, công cụ lãi suất là một công cụ rất nhạy cảm và có tác động rất lớn đến nền kinh tế, do đó NHNN phải thận trọng khi đưa ra các quyết định liên quan đến chính sách lãi suất, đồng thời phải đưa ra các biện pháp kịp thời, chính xác để can thiệp nhằm giữ ổn định cho thị trường. Hiện nay chúng ta đang thực hiện cơ chế lãi suất là cơ chế mang tính chỉ đạo, chứ không phải tự do vận động theo nhu cầu thị trường, nên lãi suất phải căn cứ trên cung cầu của thị trường tiền tệ, chính sách này về cơ bản có thể giúp chúng ta kiềm chế được lạm phát nhưng nó khiến cho chính sách lãi suất khá cứng nhắc, đôi khi gây khó khăn cho việc huy động vốn. Đồng thời cũng phải thấy rằng nếu như trong chống lạm phát công cụ lãi suất có thể phát huy hiệu quả là một cái phanh hãm lại nền kinh tế đi quá nhanh, mang lại hiệu quả tức thời thì trong chống suy thoái kinh tế nó lại không mang đến hiệu quả ngay như chống lạm phát. Việc lầm tưởng CSTT sẽ phát huy ngay tác dụng chống suy giảm kinh tế như đã từng phát huy vai trò trong chống lạm phát là một sai lầm, đồng thời công cụ này cũng không phát huy được hiệu quả nếu không đi kèm với các chính sách khác. Đây chính là điểm tồn tại của chính sách hỗ trợ năm 2009. Vì vậy, phải nhìn nhận chính sách lãi suất là một trong những chính sách tiền tệ chung và phải kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với các chính sách tiền tệ khác.

 

4.2. Kiến nghị:

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản là một giải pháp thích hợp, phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô, cung – cầu vốn thị trường. Việc điều tiết lãi suất thị trường theo hướng ổn định, được thực hiện kết hợp giữa điều tiết khối lượng tiền thông qua các công cụ gián tiếp, điều hành linh hoạt các mức lãi suất chủ đạo và làm tốt công tác truyền thông. Sự thay đổi cơ chế điều hành lãi suất theo hướng tự do hoá phải trên cơ sở đánh giá một cách khoa học và thực tiễn các điều kiện kinh tế, thị trường tài chính – tiền tệ ở trong và ngoài nước, cũng như các rủi ro có thể xảy ra và các biện pháp xử lý để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, sự an toàn và phát triển của hệ thống tài chính.

Bên cạnh việc điều hành có hiệu quả thị trường liên ngân hàng, NHNN cũng cần mạnh dạn mở rộng thêm kênh tái cấp vốn trực tiếp đến những ngân hàng thương mại đáp ứng được các tiêu chí an toàn, cạnh tranh lành mạnh, kinh doanh có hiệu quả và có trách nhiệm với cộng đồng, thông qua đó góp phần động viên các nỗ lực tham gia bình ổn thị trường vốn và lãi suất.

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s