ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CẤP TÍN DỤNG HIỆN NAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI


LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam hiện nay đang trong quá trình đổi mới, phát triển kinh tế theo hướng toàn diện và lâu dài để có thể bắt nhịp với nền kinh tế Thế giới. Chặng đường đổi mới của chúng ta đã đi được khá xa và thu được nhiều thắng lợi. Việc chúng ta gia nhập vào WTO hay những con số về các chỉ tiêu kinh tế đáng khích lệ là một minh chứng cho điều đó. Để đạt được thành quả như vậy có sự đóng góp không nhỏ của ngành Ngân hàng với vai trò là ” đòn bẩy kinh tế ” thông qua hoạt động tín dụng.

Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ vốn cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển cân đối của các ngành, các lĩnh vực khác theo định hướng của Nhà nước. Tín dụng ngân hàng đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng ngân hàng lại là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro.

Rủi ro trong hoạt động tín dụng không chỉ tác động tới bản thân ngân hàng thương mại mà còn tác động tiêu cực tới nền kinh tế. Chính vì vậy, công tác hạn chế rủi ro tín dụng luôn được các Ngân hàng thương mại quan tâm.

Xuất phát từ thực tế này  nhóm chúng tôi đã quyết định chọn đề tài: “Đánh giá hiệu quả cấp tín dụng hiện nay của các NHTM VN”

Mục đích của chuyên đề này là :

–         Nghiên cứu vấn đề rủi ro tín dụng trên phương diện lý thuyết: Bản chất của rủi ro tín dụng, các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng cũng như tác động của nó tới bản thân Ngân hàng thương mại và với nền kinh tế. Từ đó xét thấy tầm quan trọng của thông tin tín dụng đối với ngành ngân hàng nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng.

–         Đưa ra giải pháp với các ngân hàng thương mại  về việc quan tâm đến cấp tín dụng  từ đó giảm thiểu tối đa các rủi ro tín dụng.

Để giải quyết những vấn đề trên chuyên đề được thiết kế thành hai chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng trong các NHTM ở Việt Nam hiện nay và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng Ngân hàng

LỜI MỞ ĐẦU.. 0

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT.. 1

1.1  Khái quát về NHTM… 1

1.1.1 Khái niệm về NHTM… 1

1.1.2 Các nghiệp vụ của NHTM… 1

1.1.2.1 Nghiệp vụ nợ. 1

1.1.2.2 Nghiệp vụ có. 2

1.1.2.3 Nghiệp vụ trung gian. 3

1.1.3 Mối quan hệ giữa 3 nghiệp vụ. 3

1.2 Hoạt động tín dụng của NHTM… 4

1.2.1 Khái niệm tín dụng. 4

1.2.2 Khái niệm tín dụng Ngân hàng. 4

1.2.3 Khái niệm về cấp TD và cho vay. 4

1.2.4 Đặc điểm tín dụng. 4

1.2.5 Phân loại tín dụng. 4

1.2.6 Vai trò của tín dụng. 6

1.2.7 Chức năng tín dụng. 6

1.3  Những vấn đề chung trong cho vay. 6

1.3.1  Cơ sở pháp lý và phạm vi áp dụng. 6

1.3.2  Nguyên tắc vay vốn. 7

1.3.3  Điều kiện cho vay. 7

1.3.4  Đối tượng cho vay. 8

1.3.6 Thời hạn cho vay. 8

1.3.7 Chính sách tín dụng. 8

1.4  Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của NHTM… 9

1.4.1 Khái niệm rủi ro. 9

1.4.2 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với các NHTM. 10

1.4.3 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng. 10

1.4.4 Một số nguyên tắc đảm bảo an toàn tín dụng. 10

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG – MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẤP TÍN DỤNG.. 13

2.1 Những thuận lợi và một số thách thức trong hoạt động tín dụng của các NHTM… 13

2.1.1 Một vài nét về cơ sở pháp lý của hoạt động tín dụng ở Việt Nam hiện nay. 13

2.1.2 Những thuận lợi cho hoạt động tín dụng ngân hàng trong giai đoạn hiện nay. 14

2.1.3 Một số thách thức mới trong hoạt động tín dụng ngân hàng. 15

2.2 Thực trạng tín dụng ở các NHTM Việt Nam.. 17

2.2.1 Một số kết quả đạt được. 17

2.2.2 Những vấn đề còn tồn tại. 20

2.3 Một số giải pháp khắc phục những vấn đề còn tồn tại và nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng ngân hàng hiện nay. 21

PHẦN KẾT LUẬN.. i

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1  Khái quát về NHTM ([1])  

    1.1.1 Khái niệm về NHTM

Ngân hàng thương mại (NHTM) là loại NH giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ NH cho các đối tượng nói trên.

Ngân hàng Thương mại (NHTM) là tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế, nó là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ – tín dụng. Theo pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của Hội đồng Nhà nước xác định:” Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.

1.1.2 Các nghiệp vụ của NHTM

1.1.2.1 Nghiệp vụ nợ (huy động tạo nguồn vốn)

+ Nguồn vốn tự có, coi như tự có và vốn dự trữ

* Vốn điều lệ: là số vốn riêng của từng NH, được ghi vào điều lệ hoạt động của mỗi NH. Tùy theo từng thời kỳ khác nhau mà vốn điều lệ được hình thành ở mỗi loại hình TCTD khác nhau dựa trên vốn pháp định do NHNN quy định.

* Vốn coi như tự có: bao gồm lợi nhuận chưa chia, tiền lương chưa đến kỳ thanh toán, các  khoản phải nộp nhưng chưa đến hạn nộp, các khoản phải trả nhưng chưa đến hạn trả.

* Vốn dự trữ: Vốn này được hình thành từ lợi nhuận ròng của ngân hàng được trích thành nhiều quỹ trong đó quan trọng nhất là quỹ dự trữ và quỹ đề phòng rủi ro, được trích theo quy định của ngân hàng trung ương.

+ Nguồn vốn quản lý và huy động

Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong Ngân hàng, thể hiện dưới nhiều dạng:

* Tiền gửi không kỳ hạn của dân cư, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế.

* Tiền gửi có kỳ hạn của dân cư, doanh nghiệp và các tổ chức khác.

* Tiền gửi tiết kiệm

* Tiền phát hành trái phiếu, kỳ phiếu theo mức cho phép của Ngân hàng Nhà nước.

+ Vốn vay: bao gồm vốn vay của ngân hàng trung ương dưới hình thức tái chiết khấu hoặc cho vay ứng trước, vay ngân hàng nước ngoài, vay các tổ chức tín dụng  khác và các khoản vay khác trên thị trường như: phát hành chứng chỉ tiền gửi, phát hành hợp đồng mua lại, phát hành giấy nợ phụ, các khoản vay USD ngoài nước … Với nguồn vốn này NHTM có trách nhiệm sử dụng có hiệu quả và hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi.

+ Các nguồn vốn khác: bao gồm các nguồn vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn uỷ thác đầu tư. Vốn này để cho vay theo các chương trình, dự án xây dựng cơ bản tập trung của Nhà nước hoặc trợ giúp cho đầu tư phát triển những chương trình dự án có mục tiêu riêng.

1.1.2.2 Nghiệp vụ có (sử dụng vốn)

+ Nghiệp vụ ngân quỹ

* Tiền két: tiền mặt hiện có tại quỹ nghiệp vụ. Nhu cầu dự trữ tiền két cao hay thấp phụ thuộc vào môi trường nơi ngân hàng hoạt động và thời vụ.

* Tiền dự trữ

+ Nghiệp vụ cho vay và đầu tư

v Nghiệp vụ cho vay: hoạt động cho vay rất đa dạng và phong phú, nó là hoạt động quan trọng nhất, mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng và có tỷ lệ sinh lợi cao nhất của các NHTM, nó gồm các loại hình sau:

* Tín dụng ứng trước: đây là thể thức cho vay được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó khách hàng được sử dụng một mức cho vay trong một thời hạn nhất định. Có 2 loại là:

  • Ứng trước có bảo đảm như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh.
  • Ứng trước không bảo đảm là việc cho vay chỉ dựa trên uy tín của khách hàng.

* Thấu chi (tín dụng hạn mức): là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó khách hàng được phép sử dụng dư nợ trong một giới hạn và thời hạn nhất định trên tài khoản vãng lai.

* Chiết khấu thương phiếu: khách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí.

* Bao thanh toán: là nghiệp vụ đi mua lại các khoản nợ của doanh nghiệp nào đó để rồi sau đó nhận các khoản chi trả của yêu cầu đó.

* Tín dụng thuê mua: là hình thức tín dụng trung và dài hạn được thực hiện thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, động sản và bất động sản khác. Khi hết hạn thuê bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó.

* Tín dụng bằng chữ ký: gồm tín dụng chấp nhận, tín dụng chứng từ và tín dụng bảo lãnh.

* Tín dụng tiêu dùng: là hình thức tín dụng nhằm tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng của dân cư, có 2 loại:

  • Tín dụng tiêu dùng trực tiếp là việc ngân hàng cho vay trực tiếp khách hàng để tiêu dùng.
  • Tín dụng tiêu dùng gián tiếp là việc ngân hàng mua các phiếu mua bán hàng từ những người bán lẻ hàng hoá, tức là hình thức tài trợ bán trả góp của NHTM.

 v Nghiệp vụ đầu tư: NHTM dùng vốn để kinh doanh bất động sản, góp vốn liên doanh và kinh doanh chứng khoán.

* Trong đó đầu tư vào chứng khoán là một hình thức khá phổ biến, nó mang lại thu nhập cho ngân hàng, nâng cao khả năng thanh khoản (vì chứng khoán rất đa dạng, nhiều thể loại và có tính thanh khoản cao).

* NHTM có thể mua chứng khoán ngắn hạn của Chính phủ, nó vừa tăng thu nhập cho ngân hàng, vừa góp phần cân bằng thu chi ngân sách thường xuyên.

* NHTM còn được phép mua cổ phiếu, trái phiếu của các doanh nghiệp tham gia vào việc thành lập và quản lý các doanh nghiệp.

Nghiệp vụ đầu tư đã giúp cho ngân hàng có thể đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh của ngân hàng nhằm phân tán rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng đồng thời khai thác và sử dụng tối đa nguồn vốn đã huy động.

1.1.2.3 Nghiệp vụ trung gian (thanh toán hộ khách hàng)

Ở đây ngân hàng thực hiện nhiệm vụ phục vụ khách hàng, thực hiện các nhiệm vụ theo sự uỷ thác của khách bao gồm:

Nghiệp vụ thanh toán: ngân hàng là một trung tâm thanh toán không bằng tiền mặt, nó thanh toán dưới các hình thức: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thư tín dụng, thẻ thanh toán, ngân phiếu thanh toán.

Nghiệp vụ thu hộ: ngân hàng thay mặt khách hàng nhận tiền theo các chứng khoán khác nhau như séc, kỳ phiếu, các chứng từ hàng hoá và chứng khoán có giá.

Nghiệp vụ thương mại: ngân hàng mua hộ hoặc bán hộ khách hàng, hàng hoá ở đây chủ yếu là các chứng khoán.

Nghiệp vụ phát hành chứng khoán: đây là một nghiệp vụ quan trọng và ngày càng phát triển. Các công ty cổ phần, các doanh nghiệp muốn phát hành chứng khoán có giá trị như cổ phiếu, kỳ phiếu đầu tư có mục đích… nhằm thu hút vốn để tăng nguồn vốn, hay khi Nhà nước phát hành công trái thì thường nhờ các ngân hàng, thông qua NHTM làm trung gian tiêu thụ các chứng khoán đó và được nhận số tiền thù lao theo tỷ lệ quy định từ người phát hành.

Nghiệp vụ uỷ thác: làm theo các uỷ thác của khách hàng như bảo quản tài sản( đá quý, chứng khoán…), khách hàng phải trả lệ phí cho việc bảo quản; thực hiện các uỷ nhiệm về chuyển quyền thừa kế tài sản: khách hàng nhờ ngân hàng thực hiện các di chúc sau khi họ qua đời.

1.1.3 Mối quan hệ giữa 3 nghiệp vụ

Giữa 3 nghiệp vụ này có một mối liên hệ khăng khít, tương hỗ lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Giữa nghiệp vụ nợ và nghiệp vụ có có tác động qua lại, cùng giúp cho nhau phát triển. Muốn cho vay, kinh doanh thu lời thì phải có vốn, vậy trước tiên ngân hàng phải huy động vốn, bởi vậy nghiệp vụ nợ là tiền đề để phát triển nghiệp vụ có, nghiệp vụ nợ càng phát triển thì càng tạo điều kiện cho nghiệp vụ có được mở rộng. Ngược lại, nếu ngân hàng cho vay, kinh doanh càng nhiều, càng thu được nhiều lãi thì càng bổ sung thêm cho nguồn vốn, tạo điều kiện cho nghiệp vụ có được phát triển.

Giữa nghiệp vụ nợ – có với nghiệp vụ trung gian cũng có tác động qua lại lẫn nhau. Khách hàng vừa là người gửi tiền vừa là người vay đối với ngân hàng, họ có quan hệ thanh toán với nhau qua ngân hàng bởi vậy nghiệp vụ nợ và có phát triển sẽ tác động làm tăng nghiệp vụ trung gian. Mặt khác nghiệp vụ trung gian cũng có tác dụng tích cực đối với nghiệp vụ nợ – có, khi thực hiện các nghiệp vụ trung gian như thu hộ, uỷ thác, thương mại … sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng tập trung được những khoản tiền mà nhờ đó bổ sung cho nghiệp vụ nợ và đồng thời phát triển nghiệp vụ có tức là bổ sung tạm thời vào nguồn vốn để tiến hành cho vay.

Một vấn đề quan trọng nữa là về khả năng thanh toán của mỗi ngân hàng. Nếu cho vay quá lớn, tuy có thể thu lãi nhiều song gặp rủi ro là khi những người gửi tiền ở ngân hàng đồng loạt đến rút tiền sẽ gây ra biến động lớn nguồn vốn khả năng thanh toán làm cho hệ số an toàn và khả năng thanh toán của ngân hàng sẽ giảm xuống. Ngược lại nếu cho vay ít thì khả năng thanh toán cao hơn nhưng thu lãi ít không bổ sung phát triển được nghiệp vụ nợ.

Chính vì vậy mà mối liên hệ mật thiết giữa các nghiệp vụ của ngân hàng là hết sức quan trọng, do đó người làm ngân hàng phải biết bố trí một cách khoa học và phù hợp giữa các nghiệp vụ để đảm bảo ngân hàng hoạt động có hiệu quả.

1.2 Hoạt động tín dụng của NHTM

   1.2.1 Khái niệm tín dụng

Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.

  1.2.2 Khái niệm tín dụng Ngân hàng

Tín dụng ngân hàng là một quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định.

1.2.3 Khái niệm về cấp TD và cho vay

– Cấp TD là việc TCTD thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ khác (Luật các TCTD đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004).

– Cho vay là một hình thức cấp TD theo đó TCTD giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.

1.2.4 Đặc điểm tín dụng

– Người cho vay chuyển quyền sử dụng cho người vay trong một thời gian nhất định.

– Có thời hạn tín dụng được xác định có thỏa thuận.

– Người sở hữu vốn được nhận thu nhập dưới hình thức lợi tức.

1.2.5 Phân loại tín dụng

– Dựa vào thời hạn, có thể phân chia thành các loại sau:

Thông thường NH căn cứ vào thời hạn TD để xác định phân loại TD. Có thể chia làm 3 loại:

+ Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn đến 12 tháng. NH cho khách hàng vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh nhỏ lẻ, và các hoạt động nông nghiệp… có thời gian thu hồi vốn nhanh.

+ Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng. NH cho khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư vào hoạt động SXKD, thương mại, dịch vụ. Đối tượng vay chủ yếu là các doanh nghiệp…

+ Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 60 tháng. NH cho khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu đầu tư vào những dự án đầu tư có quy mô rộng lớn như các công trình: cầu cống, trường học, công viên, bệnh viện…

– Dựa vào mục đích của tín dụng:

+ Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp.

+ Cho vay tiêu dùng cá nhân

+ Cho vay bất động sản

+ Cho vay nông nghiệp

+ Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu

– Dựa vào mức độ tín dụng của khách hàng

+ Cho vay không có đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay.

+ Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác.

– Dựa vào phương thức cho vay

+ Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và TCTD thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết HĐTD.

+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: TCTD và khách hàng xác định và thỏa thuận một HMTD duy trì trong khoảng thời gian nhất định.

+ Cho vay theo dự án đầu tư: TCTD cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển SXKD, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.

+ Cho vay hợp vốn: Một nhóm TCTD cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng. Trong đó, có một TCTD làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các TCTD khác.

+ Cho vay trả góp: Khi vay vốn, TCTD và khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.

+ Cho vay theo HMTD dự phòng: TCTD cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi HMTD nhất định. TCTD và khách hàng thỏa thuận thời gian hiệu lực của HMTD dự phòng, mức phí trả cho HMTD dự phòng.

+ Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: TCTD chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi HMTD để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của TCTD. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, TCTD và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và NHNN Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.

+ Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà TCTD thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và NHNN Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.

– Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay

+ Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn.

+ Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp.

+ Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn trả nợ cụ thể mà tùy khả năng tài chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào.

1.2.6 Vai trò của tín dụng

+ Góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển thông qua những tổ chức trung gian tạo nguồn vốn cho hộ sản xuất: doanh nghiệp, cá nhân…

+ Ổn định tiền tệ và ổn định giá cả, bằng cách: giảm tiền mặt, mở rộng nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần giúp cho công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước phát triển, và kiểm soát được lạm phát.

+ Góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn viêc làm ổn định và giữ gìn  được an ninh, trật tự xã hội.

1.2.7 Chức năng tín dụng

+ Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trên cơ sở có hoàn trả, bao gồm các hoạt động: tham gia điều tiết vốn, góp phần tăng trưởng kinh tế thông qua tổ chức trung gian, tín dụng trực tiếp mua bán chịu, tăng nhịp độ vòng quay của vốn, kể cả nợ lưu thông, phát triển nghiệp vụ thanh toán như tiền ngân hàng làm giảm chi phí,…

+ Kiểm soát các hoạt động kinh tế: biết được khối lượng tiền nhàn rỗi, nhu cầu vốn, đối tượng và sự biến động của từng kỳ, kiểm tra tình hình tài chính, sử dụng vốn của các đơn vị vay, tạo điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt để nhìn tương đối tài chính của các đơn vị.

1.3  Những vấn đề chung trong cho vay

 1.3.1  Cơ sở pháp lý và phạm vi áp dụng

– Cơ sở pháp lý

Luật Các TCTD: Luật số 02/1997/Q10.

Các nghị định của Chính phủ hướng dẩn thực hiện Luật TCTD.

Quy chế cho vay theo quyết định của Thống đốc NHNN Việt Nam.

– Phạm vi áp dụng

+ Bên cho vay:

Các TCTD thành lập được cấp giấy phép hoạt động trên toàn lãnh thổ Việt Nam theo quy định của Luật TCTD, đều được phép huy động vốn và cho vay ngắn hạn tài trợ cho hoạt động kinh doanh cho các tổ chức kinh tế, bao gồm:

  • NHTM quốc doanh
  • NH TMCP
  • NH liên doanh
  • Chi nhánh NH nước ngoài
  • NH 100% vốn nước ngoài
  • Công ty tài chính
  • Quỹ tín dụng nhân dân

+ Bên đi vay:

Bên đi vay là những pháp nhân, thể nhân hoạt động SXKD theo đúng pháp luật Việt Nam, gồm:

  • Doanh nghiệp nhà nước
  • Công ty cổ phần
  • Công ty trách nhiệm hữu hạn
  • Hợp tác xã
  • Doanh nghiệp tư nhân
  • Các xí nghiệp, công ty liên doanh với nước ngoài
  • Các công ty, xí nghiệp 100% vốn nước ngoài
  • Các hộ gia đình và các thể nhân đủ điều kiện vay vốn

1.3.2  Nguyên tắc vay vốn

Khách hàng vay vốn của các TCTD phải đảm bảo:

+ Sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong HĐTD.

Tín dụng đúng mục đích là phương châm hoạt động của tín dụng, góp phần thúc đẩy nền kinh tế-xã hội phát triển tạo ra khối lượng hàng hóa-dịch vụ phong phú, đa dạng. Đồng thời, góp phần tạo ra giá trị thặng dư tạo điều kiện để thực hiện tái sản xuất mở rộng quy mô.

+ Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn đúng thời hạn đã thỏa thuận trong HĐTD.

Nguyên tắc này nhằm đảm bảo cho NH tồn tại và phát triển lâu dài. Bởi vì, nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng được huy động từ nguồn tiền nhàn rỗi trong dân như gửi tiết kiệm, mua giấy tờ có giá (cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu,…). Nếu người vay không hoàn trả đúng hạn sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của NH.

 1.3.3 Điều kiện cho vay

         – Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định pháp luật:

+ Đối với khách hàng là pháp nhân và cá nhân Việt Nam:

Có đủ năng lực pháp luật dân sự, đủ năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

+ Đối với khách hàng là pháp nhân và cá nhân nước ngoài:

Có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự  theo quy định pháp luật của nước mà pháp nhân đó có quốc tịch, hoặc cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật nước ngoài đó được Bộ Luật Dân Sự của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc được điều ước quốc tế mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định.

– Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.

– Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.

– Có dự án đầu tư, phương án SXKD, dịch vụ khả thi và có hiệu quả.

– Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Thống đốc NHNN Việt Nam.

1.3.4  Đối tượng cho vay

Đối tượng cho vay của NH là phần thiếu hụt trong tổng giá trị cấu thành TSCĐ, TSLĐ và các khoản chi phí cho quá trình SXKD của khách hàng trong một thời gian nhất định.

* NH cho vay các đối tượng sau:

      – Giá trị vật tư, hàng hóa, máy móc thiết bị, và các khoản chi phí để khách hàng thực hiện các dự án SXKD, dịch vụ, đời sống, đầu tư và phát triển.

– Số tiền vay trả cho các tổ chức tín dụng trong thời gian thi công chưa bàn giao và đưa TSCĐ vào sử dụng đối với cho vay trung hạn và dài hạn để đầu tư TSCĐ mà khoản lãi được tính trong giá trị TSCĐ đó.

* NH không cho vay các đối tượng sau:

      – Số tiền thuế phải nộp (trừ số tiền thuế xuất khẩu, nhập khẩu).

– Số tiền để trả nợ gốc và lãi vay cho tổ chức tín dụng khác.

– Số tiền vay trả cho chính tổ chức tín dụng.

1.3.5  Lãi suất cho vay

Lãi suất cho vay và khách hàng vay vốn thỏa thuận và ghi vào HĐTD.

TGĐ (Giám đốc) NH cho vay xác định và công bố công khai lãi suất cho vay theo từng loại khách hàng, từng đối tượng cho vay.

1.3.6 Thời hạn cho vay

– Thời hạn cho vay được tính từ ngày phát tiền vay đến ngày thu hết nợ.

– Thời hạn cho vay được xác định căn cứ vào các yếu tố:

  • Chu kỳ SXKD
  • Thời hạn thu hồi vốn của thương vụ hoặc của phương án SXKD
  • Khả năng trả nợ của khách hàng
  • Khả năng và mức cho vay của NH

Nói chung thời hạn cho vay tối đa không quá 12 tháng.

1.3.7 Chính sách tín dụng

Một trong những phương pháp quan trọng nhất mà một ngân hàng có thể vận dụng để đảm bảo rằng các khoản cho vay của nó thoả mãn được những tiêu chuẩn do các cơ quan quản lý ngân hàng đặt ra là thiết lập một chính sách cho vay bằng văn bản. Mỗi một NHTM đều xây dựng cho mình một chính sách tín dụng riêng. Một chính sách tín dụng sẽ cung cấp cho cán bộ tín dụng và các nhà quản lý ngân hàng đường lối chỉ đạo cụ thể trong việc ra quyết định cho vay và xây dựng danh mục cho vay. Cấu trúc thực tế của danh mục cho vay sẽ phản ánh những gì mà chính sách cho vay của ngân hàng đặt ra. Nếu điều này không xảy ra thì đó là một chính sách cho vay không hiệu quả và nên xem xét lại. Thông thường một chính sách cho vay tốt gồm một số yếu tố quan trọng sau:

– Một tuyên bố về tiêu chuẩn đối với danh mục cho vay của ngân hàng (ví dụ như nêu lên các đặc điểm của một danh mục cho vay chất lượng cao như loại hình, thời gian đáo hạn, quy mô và chất lượng của các khoản cho vay).

– Một bản tiêu chuẩn chất lượng thích hợp áp dụng cho toàn bộ danh mục cho vay. Công bố mức giới hạn tối đa đối với tổng dư nợ.

– Xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm đối với cán bộ tín dụng và ban thẩm định tín dụng. Giới hạn về trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao và trong việc thông báo thông tin trong phạm vi phòng tín dụng.

– Những thủ tục và hoạt động cần thiết cho việc chào mời, xem xét, đánh giá và ra quyết định đối với đơn xin vay của khách hàng.

– Những tài liệu được yêu cầu phải kèm theo đơn xin vay và phải được lưu lại trong hồ sơ tín dụng của ngân hàng (báo cáo tài chính, thoả thuận cam kết…). Những hướng dẫn về việc tiếp nhận, đánh giá và bảo quản tài sản thế chấp cho các món vay.

– Một bản trình bầy về chính sách và thủ tục đối với việc xác định lãi suất cho vay, các khoản phí và thời hạn hoàn trả món vay.

– Miêu tả rõ ràng thị trường tín dụng chính của ngân hàng.

– Miêu tả các bước cần được tiến hành để phát hiện và phân tích những khoản cho vay có vấn đề…

* Một chính sách cho vay rõ ràng sẽ mang lại nhiều lợi thế và thuận lợi cho ngân hàng. Nó hướng dẫn cho đội ngũ nhân viên tín dụng các thủ tục, các bước phải tuân thủ và chỉ rõ phạm vi trách nhiệm của họ. Nó giúp cho ngân hàng hướng tới một danh mục cho vay hiệu quả, có thể đạt nhiều mục tiêu như tăng cường khả năng sinh lợi, hạn chế rủi ro và đáp ứng được những đòi hỏi của cơ quan quản lý.

Đối với Việt Nam để phục vụ tốt cho mục tiêu phát triển kinh tế, chính sách tín dụng đã và đang được đổi mới đồng bộ và hữu hiệu đáp ứng các yêu cầu mới, tạo bước đột phá trong việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn nội lực và nguồn lực bên ngoài. Để nền kinh tế có tăng trưởng cao, chính sách tín dụng của các ngân hàng nên tập trung vào việc mở rộng đáp ứng các nhu cầu vay vốn có hiệu quả với phương châm không để các dự án đầu tư có hiệu quả bị thiếu vốn. Cơ cấu tín dụng cần tiếp tục chuyển dịch có lợi cho đầu tư và phát triển, tăng cường cho vay trung và dài hạn. Không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng, giảm tỷ lệ nợ quá hạn và nợ khó đòi xuống mức lành mạnh theo tiêu chuẩn quốc tế, tăng vòng quay và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của xã hội. Tiếp tục mở rộng đối tượng cho vay đến tất cả các thành phần kinh tế, chú ý thích đáng việc cho vay đối với nông dân và các đối tượng chính sách góp phần khuyến khích phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng, địa phương.

 

1.4  Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của NHTM

1.4.1 Khái niệm rủi ro

Rủi ro là một biến cố hay một sự kiện xấu ngoài mong đợi, không thể dự báo trước có thể quảng trị.

Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân

hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ

không đúng hạn cho ngân hàng.

1.4.2 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với các NHTM.

Nếu một khoản vay nào đó bị thất thoát, không thu hồi được, thì ngân hàng phải sử dụng nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền. Vì vậy nếu xảy ra quá nhiều rủi ro trong hoạt động tín dụng mà ngân hàng phải dùng vốn của mình để trang trải cho các khoản thất thoát này thì đến một chừng mực nào đó sẽ không thể thực hiện việc “xoá sổ” những khoản thất thoát này nữa và ngân hàng có thể bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền thậm chí dẫn đến phá sản.

1.4.3 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng.

Rủi ro tín dụng xảy ra rất phức tạp và đa dạng, nó có thể do khách hàng mất khả năng trả nợ hay do họ cố ý chây ỳ, tìm cách lừa đảo chiếm đoạt vốn của ngân hàng. Nguyên nhân rủi ro tín dụng thì có nhiều nhưng người ta thường chia làm 2 loại nguyên nhân rủi ro xuất phát từ các hành động có thể kiểm soát và không thể kiểm soát.

– Những nguyên nhân có thể kiểm soát:

+ Quyết định cho vay sai lầm từ ban đầu do khâu phân tích thu thập thông tin không đủ hay sai lầm, hoặc việc xây dựng ký kết hợp đồng có sự khó hiểu thiếu sót.

+ Không nhận ra các dấu hiệu cảnh báo.

+ Không có khả năng theo sát kiểm soát các khoản vay.

+ Không hành động kịp thời khi phát hiện khoản nợ có vấn đề.

– Những nguyên nhân không thể kiểm soát được:

+ Sự phá sản của các doanh nghiệp vay nợ, hay hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả do quản lý không tốt, sản phẩm công nghệ lạc hậu, thiếu vốn và khả năng cạnh tranh yếu…

+ Một số nguyên nhân bất ổn khác từ bên ngoài như khách hàng gặp rủi ro bất chợt nên chưa thể trả nợ ngay, hay tài sản cầm cố thế chấp bị mất giá trị … khiến ngân hàng không thể thu hồi được khoản nợ…

Việc phân loại theo các nguyên nhân có thể kiểm soát hay không thể giúp cho ngân hàng định hướng được việc ngăn chặn rủi ro tập trung vào những rủi ro mà nguyên nhân có thể kiểm soát. Trước hết là hệ thống các thể chế tạo hành lang và môi trường hoạt động an toàn và hiệu quả của tín dụng. Sau đó là các quy định điều kiện cụ thể đối với mỗi loại vay, mỗi đối tượng vay, để xác định các điều kiện và hình thức về giá trị vật chất, giá trị uy tín làm đảm bảo vốn vay tuỳ theo năng lực tài chính, tính chất và loại hình sản xuất kinh doanh, uy tín và mức độ rủi ro của người vay. Đối với rủi ro bất khả kháng, các ngân hàng chỉ có cách chống đỡ bằng việc thành lập các dự phòng tài chính, đủ khả năng chống đỡ cho mọi rủi ro có thể xẩy ra bất kỳ lúc nào. Khả năng dự phòng càng cao, tính chủ động chống đỡ rủi ro càng lớn.

1.4.4 Một số nguyên tắc đảm bảo an toàn tín dụng.

Để phòng tránh rủi ro trong hoạt động tín dụng, hiện nay các ngân hàng đã và đang thực hiện một số nguyên tắc đảm bảo an toàn tín dụng sau:

– Mở rộng tín dụng trên cơ sở nâng cao chất lượng tín dụng. Việc mở rộng khối lượng tín dụng là cần thiết để mở rộng kinh doanh, song vấn đề chất lượng tín dụng mới có ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển thực chất của ngân hàng. Chất lượng tín dụng chính là kết quả của các khoản tín dụng được thực hiện trọn vẹn, người vay thực hiện đúng các cam kết và ngân hàng thu được gốc và lãi đúng hạn. Vì vậy, khi phân tích mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải khi cho vay cần phải suy xét kỹ càng về kinh nghiệm quản lý, tiềm năng, các chính sách, khả năng sinh lời, luân chuyển vốn và giá trị thực của khách hàng. Cán bộ tín dụng phải xem xét và tự đưa ra quyết định cho rằng nên cho khách hàng vay bao nhiêu, mục đích khoản vay và thời gian thu hồi nợ.

– Hiệu quả và chất lượng tín dụng dựa trên cơ sở hiệu quả của sản xuất kinh doanh của người vay vốn. Khi người vay vốn hoạt động sản xuất kinh doanh không có hiệu quả dẫn đến tình trạng thua lỗ sẽ là nguyên nhân trực tiếp làm cho các khoản tín dụng không được thực hiên đúng hạn, do đó ngân hàng có thu được gốc và lãi hay không là phụ thuộc chủ yếu vào việc người vay vốn sử dụng vốn có hiệu quả hay không.

– Quyết định cho vay trên cơ sở phải xác định và hiểu rõ người vay. Việc tìm hiểu và đánh giá người vay cần được xem xét trên nhiều mặt. Trước hết là phẩm chất đạo đức kinh doanh, tính trung thực trong quan hệ kinh tế, tính nghiêm túc trong việc chấp hành luật lệ. Thứ hai là người vay vốn phải có đủ năng lực pháp lý và năng lực tài chính để sử dụng tiền vay và thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết đối với khoản vay. Thứ ba là đảm bảo xây dựng được các phương án dự phòng trả nợ.

– Cho vay phải do chính ngân hàng quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định đó. Việc có cho vay hay không là một quyết định mang tính độc lập, không hề chịu ảnh hưởng bởi những người có liên quan và ngân hàng phải cảm thấy thoải mái khi đưa ra quyết định cho vay. Mọi sự can thiệp bên ngoài đối với mỗi khoản cho vay đều phi kinh tế, thiếu tính nghiệp vụ ngân hàng, thường đưa đến những sai lầm và gây ra những tổn thất, do đó khi ngân hàng chịu trách nhiệm hoàn toàn về những khoản cho vay, thì ngân hàng cũng phải hoàn toàn chủ động với quyết định của các khoản vay đó.

– Chủ động phân tán rủi ro để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro. Việc phân tán rủi ro được thực hiện thông qua phân tán dư nợ và cộng đồng tài trợ. Cụ thể là mỗi ngân hàng không nên tập trung quá nhiều vốn cho một người vay, những dự án lớn cần huy động nhiều ngân hàng tham gia tài trợ và cùng quản lý vốn cho vay, hạn chế cho vay trong các lĩnh vực có tỷ lệ rủi ro cao. Nhờ đó sẽ phân tán rủi ro, tránh tập trung rủi ro lớn vào một ngân hàng, làm cho ngân hàng có nguy cơ đổ vỡ ảnh hưởng đến môi trường kinh tế chung. Phân tán rủi ro là một yêu cầu và xu thế quan trọng của mỗi NHTM hiện nay.

– Cho vay phải có đảm bảo tiền vay với tính khả thi cao. Trong các điều kiện vay vốn thì điều kiện về đảm bảo tiền vay được coi là quan trọng nhất. Đảm bảo có thể bằng cầm cố, thế chấp hay bảo lãnh để phòng khi khách hàng không có khả năng trả nợ thì có thể dùng tài sản bảo đảm trả nợ thay. Vì vậy bản thân tài sản phải có giá trị, và bản thân nó phải trở thành hàng hoá để có thể chuyển thành giá trị để trả nợ ngân hàng, đồng thời tài sản phải có giá trị lớn hơn giá trị khoản vay, và có thị trường tiêu thụ hàng hoá đó để thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

* Trên thực tế, ở Việt Nam hiện nay việc tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc bảo đảm tín dụng là một vấn đề rất quan trọng để tránh được rủi ro tín dụng. Theo số liệu do NHNN công bố đến đầu năm 2001 kết quả phân tích, đánh giá của NHNN đối với nợ xấu của các NHTM trên toàn quốc là 15 nghìn tỷ đồng, tương đương với 1 tỷ USD, tuy nhiên nguồn tin từ các tổ  chức tài chính quốc tế đánh giá có thể lên đến 2-3 tỷ USD. Như vậy rủi ro tín dụng ở Việt nam là rất lớn, đó là do việc chấp hành các nguyên tắc đảm bảo tín dụng còn lỏng lẻo như: chất lượng tín dụng của các NHTM còn thấp, tỷ lệ nợ quá hạn còn cao; việc quyết định cho vay còn chịu nhiều can thiệp từ bên ngoài, điển hình là việc các cơ quan chính quyền các cấp đề nghị, thậm chí yêu cầu ngân hàng phải đáp ứng nhu cầu về vốn nào đó vì quyền lợi của người vay…; hay các tài sản đảm bảo nợ vay khi phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì lại không thể hoán chuyển thành giá trị được, tức là không thể bán để thu hồi nợ khi các ngân hàng phát mại tài sản đó. hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng còn kém hiệu quả do nhiều lý do về trình độ, môi trường kinh doanh, pháp lý…; đồng thời môi trường kinh doanh của nước ta còn kém, doanh nghiệp làm ăn có lãi thì ít hơn là các doanh nghiệp sản xuất cầm chừng, không có lãi thậm chí lỗ, hay do pháp luật còn nhiều kẽ hở khiến nhiều doanh nghiệp gian lận, lừa đảo. Vì vậy đã xảy ra những vụ rủi ro tín dụng lớn như trong vụ án TAMEXCO, Minh Phụng – Epco… mà đó chính là một bài học đắt giá cho các NHTM Việt Nam.

Chính vì vậy việc nhận biết và nghiên cứu kỹ các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng, các loại rủi ro, cách phát hiện, xử lý rủi ro cũng như đảm bảo thực hiện một cách nghiêm túc nguyên tắc an toàn tín dụng là những vấn đề hết sức quan trọng đối với các NHTM ở Việt Nam hiện nay. Các NHTM cần phải tăng cường các hoạt động này nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mình cũng như hiệu quả hoạt động của nền kinh tế.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG – MỘT SỐ GIẢI PHÁP

CẤP TÍN DỤNG CÁC NHTM VIỆT NAM

2.1 Những thuận lợi và một số thách thức trong hoạt động tín dụng của các NHTM

2.1.1 Một vài nét về cơ sở pháp lý của hoạt động tín dụng ở Việt Nam hiện nay.

Hiện nay môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng được hoàn thiện, đầy đủ, rõ ràng chặt chẽ và phù hợp với thông lệ quốc tế hơn. NHNN đã chỉnh sửa, bổ sung, ban hành mới một loạt quyết định, thông tư phù hợp với cơ chế hiện nay; những vướng mắc, sơ hở, chồng chéo của cơ chế cũ đã được tháo gỡ, bãi bỏ làm cho hoạt động tín dụng được  thuận lợi hơn, tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức tín dụng. Một số văn bản pháp lý quan trọng được tập trung ban hành trong thời gian qua bao gồm:

Các văn bản quy phạm pháp luật về biện pháp bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng như: Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2007 của Chính phủ “về đảm bảo tiền vay của TCTD”; Quyết định số 992/2001 của NHNN, ngày 06/08/2001 về việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với NHTM cổ phần, công ty tài chính cổ phần và ngân hàng liên doanh; Quyết định số 26/2006 ngày 26/06/2006 của NHNN, ban hành quy chế bảo lãnh ngân hàng; Thông tư số 06/2000 ngày 4/4/2000 và Thông tư số 10/2000 ngày 31/8/2000 của NHNN, hướng dẫn thực hiện bảo đảm tiền vay của TCTD…

Về xử lý tài sản đảm bảo của ngân hàng thì có Thông tư liên tịch số 03/2001/ TTLT-NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC được ban hành ngày 23/04/2001 hướng dẫn việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho các TCTD.

Về một số hoạt động khác của tín dụng thì có Quyết định số 67/1999/QĐ- TTg được Chính phủ ban hành ngày 30/3/1999 về “Một số chính sách tín dụng Ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn”; NHNN ban hành Quyết định số 423/2000 ngày 22/9/2000 về chính sách tín dụng ngân hàng đối với kinh tế trang trại; Ngày 29/6/1999 Chính phủ đã ra Nghị định 43/1999/NĐ-CP “về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước”; Quyết định số 488/2000/QĐ-NHNN5 về việc phân loại tài sản Có, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng được Thống đốc NHNN ban hành ngày 27/11/2000; Quyết định số 418/2000 ngày 21/9/2000 về đối tượng cho vay bằng ngoại tệ của các TCTD,…

Một số văn bản chung quan trọng khác như: Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam do Quốc hội ban hành quy định về Ngân hàng Nhà nước; Luật các tổ chức tín dụng của Quốc hội ban hành được chủ tịch nước công bố ngày 26/12/1997, luật này quy định về tổ chức và hoạt động của các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác; Quyết định số 324/1998/QĐ-NHNN1 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành về Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng…

Từ các văn bản quy phạm pháp luật chung, mỗi ngân hàng lại tự ban hành cho mình những văn bản cụ thể riêng để điều hành, quản lý hoạt động của mình. Ví dụ như NHNO&PTNT VN có một số văn bản sau: Quyết định số 180/QĐ/HĐQT về việc ban  hành quy định cho vay đối với khách hàng và có Quy định cho vay đối với khách hàng ban hành kèm theo quyết định này; Hướng dẫn thẩm định, tái thẩm định các điều kiện vay vốn của doanh nghiệp; Hướng dẫn nội dung thẩm định cho vay đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác…

Với các văn bản về cơ chế, chính sách nói trên, ngoài ra còn có thêm nhiều văn bản pháp luật về các vấn đề liên quan cũng được bổ sung và sửa đổi khiến cho hoạt động tín dụng đã được phát triển lành mạnh và an toàn hơn. Tạo điều kiện cho các NHTM mạnh dạn hơn trong hoạt động cho vay góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

2.1.2 Những thuận lợi cho hoạt động tín dụng ngân hàng trong giai đoạn hiện nay.

Việt Nam đã gia nhập khối ASEAN; tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA); ký Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ và  đang trong quá trình đàm phán để gia nhập WTO; tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế quốc tế cũng như ký kết các hiệp định thúc đẩy quan hệ thương mại song phương khác.

Hoà chung vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các ngân hàng thương mại Việt Nam (NHTM VN) một mặt sẽ có nhiều cơ hội về nguồn lực, công nghệ, thị trường; mặt khác cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, rủi ro khi mức vốn của các NHTM VN còn thấp so với các ngân hàng khác trong khu vực. Điều này đòi hỏi toàn bộ hệ thống NHTM VN phải nỗ lực và cố găng hết mình, chủ động nhận thức và sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, kiên trì tham gia quá trình hội nhập. Hiện nay, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, hệ thống NHTM VN có rất nhiều thuận lợi trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Hệ thống NHTM VN sau gần 15 năm xây dựng và phát triển đã đạt được một số thành tựu tạo nền tảng để phát triển:

NHTM VN đã huy động nguồn vốn đáng kể cả nội và ngoại tệ, tăng trưởng đầu tư cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.

Với vai trò trung tâm thanh toán của nền kinh tế, NHTM VN góp phần quan trọng đẩy nhanh tốc độ chu chuyển thanh toán, chu chuyển vốn.

Nền kinh tế càng phát triển, chu chuyển thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng tăng vai trò của NHTM trong thanh toán ngày càng mạnh hơn. Với việc áp dụng công nghệ kỹ thuật, tốc độ thanh toán qua ngân hàng đã tăng nhanh. Hiện có 5 chi nhánh NHNN, 23 NHTM với 159 đơn vị tham gia hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, bình quân mỗi ngày xử lý 7.000 chứng từ với số tiền 3.000 tỷ đồng, ngày cao điểm 12.000 chứng từ với 5.500 tỷ đồng. Mỗi thanh toán thực hiện chỉ dưới 10 giây. (Trước kia chuyển tiền từ Hà Nội đi TP Hồ Chí Minh phải mất trung bình từ 3 đến 5 ngày).

NHTM VN từng bước mở rộng nghiệp vụ ngân hàng hiện đại phục vụ nhu cầu cầu của nền kinh tế, đời sống, như: dịch vụ ngân hàng tại nhà, Internet Banking, hệ thống thanh toán thẻ, ATM…

Đội ngũ khách hàng của NHTM VN khá đông đảo. Sau gần 15 năm hoạt động trong kinh tế thị trường, các NHTM VN đã có mối quan hệ với hầu hết các đối tượng khách hàng. Chẳng hạn như:

  • Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam có thế mạnh trong việc cung cấp các khoản tín dụng trung và dài hạn cho các dự án lớn.
  • Ngân hàng Ngoại thương tập trung vào cung cấp các dich vụ quốc tế như thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ…
  • Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt nam lại tập trung vào tài trợ cho các dự án tài chính phát triển nông thôn Việt Nam với mạng lưới chi nhánh dày đặc trên cả nước.
  • Ngân hàng thương mại cổ phần tập trung phục vụ đối tượng khách hàng là doanh nghiệp tư nhân…
  • Các NHTM VN luôn chú trọng tới mối quan hệ với khách hàng, đặc biệt là có thể phục vụ các khách hàng có mức độ rủi ro rất cao theo tiêu chí của các ngân hàng nước ngoài.

NHTM VN đã thiết lập được đội ngũ chi nhánh đông đảo trong tất cả các tỉnh thành trong cả nước. Đây là điều kiện thuận lợi giúp các ngân hàng tăng cường khả năng huy động vốn và tín dụng đến những vùng tiềm năng.

2.1.3 Một số thách thức mới trong hoạt động tín dụng ngân hàng

* Những thách thức từ môi trường kinh tế

Bất cứ một doanh nghiệp nào hoạt động cũng chịu tác động của các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế vĩ mô như chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng thời kì, môi trường pháp lý cho hoạt động của doanh nghiệp… Trong điều kiện hội nhập, các NHTM VN trước hết phải đương đầu với những thách thức do môi trường kinh tế trong nước và quốc tế gây ra.

* Nền kinh tế Việt Nam có xuất phát điểm thấp và cơ cấu kinh tế không hợp lý

Thách thức lớn của nền kinh tế Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế, trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đầu tư… cũng chính là những thách thức của ngành ngân hàng, của hệ thống NHTM – “kênh truyền dẫn vốn quan trọng trong nền kinh tế”.

* Môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh nói chung, hoạt động ngân hàng nói riêng của Việt Nam chưa hoàn thiện

Đối với hoạt động ngân hàng, vấn đề này càng trở nên cấp bách. Trong khi đó môi trường pháp lý cho hoạt động ngân hàng của chúng ta còn chưa hoàn thiện, còn nhiều vấn đề phải chỉnh sửa, bổ sung, mà việc này lại liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, vào sự thay đổi nhận thức pháp luật và ý thức pháp luật của người dân, do vậy việc thực hiện không phải dễ dàng. Nó đòi hỏi phải có thời gian và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cơ sở hạ tầng kinh tế, trình độ của người làm luật..

Đây thực sự là một thách thức lớn đối với ngành ngân hàng nói chung và hệ thống NHTM VN nói riêng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

* Biến động của môi trường kinh tế thế giới

Những thách thức do nguyên nhân từ nội tại hệ thống NHTM VN

– Tổ chức bộ máy còn nhiều bất cập

Hầu hết các NHTM VN hiện nay có mô hình tổ chức theo kiểu truyền thống. Tiêu thức phân định các phòng, ban của hầu hết các NHTM hiện nay là theo loại hình nghiệp vụ (trong khi ở các ngân hàng tiên tiến, các hoạt động hướng tới khách hàng của họ lại được phân theo tiêu thức đối tượng khách hàng – sản phẩm nhằm đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của khách hàng và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng). Trong điều kiện các NHTM hoạt động với quy mô nhỏ, tính chất đơn giản thì mô hình trên tỏ ra phù hợp với mức độ tập trung quyền lực cao. Song khi ngân hàng phát triển với quy mô ngày càng lớn, với số lượng chi nhánh ngày càng mở rộng, khối lượng và tính chất công việc ngày càng nhiều và phức tạp thì mô hình trên dần dần sẽ bộc lộ những điểm bất hợp lý.
– Năng lực quản lý, điều hành còn nhiều hạn chế so với yêu cầu của NHTM hiện đại
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng trong việc đổi mới nhưng các công cụ và cách thức quản lý điều hành của NHTM VN còn chưa theo kịp với yêu cầu của NHTM hiện đại. Kế hoạch hoạt động kinh doanh hiện tập trung vào tăng trưởng về số lượng chứ không phải chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế.

Hệ thống thông tin, theo dõi nợ, quản lý rủi ro không kịp thời chính xác, đặc biệt sẽ dẫn tới sự thiếu minh bạch trong hoạt động tài chính ngân hàng. Các NHTM VN chủ yếu vẫn coi tài sản thế chấp là cơ sở đảm bảo tiền cho vay, kể cả đối với tín dụng ngắn hạn. Các ngân hàng còn xem nhẹ bảo đảm theo dự án, trong khi việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là vấn đề khó khăn do vướng mắc về mặt pháp lý, vì vậy khó thu hồi được vốn vay. Khả năng chi trả của các NHTM VN rất thấp. Vấn đề quản trị chiến lược của các NHTM VN cũng còn rất hạn chế. Thực tế cho thấy một chiến lược quản lý kinh doanh tiền tệ của các NHTM Việt Nam thường không vượt ra ngoài phạm vi quốc gia. Nợ quá hạn của các NHTM vẫn ở mức cao.

– Vốn điều lệ và vốn tự có thấp

Vốn điều lệ và vốn tự có có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và đặc biệt đối với NHTM – loại hình doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, thu hút vốn đầu tư của các doanh nghiệp khác và dân cư.

Vốn điều lệ là tiềm lực tài chính, là điều kiện đảm bảo an toàn trong hoạt động tài chính của NHTM, là uy tín của NHTM để tạo lòng tin với công chúng. Vậy mà hiện nay vốn điều lệ của NHTM VN còn nhỏ bé, kể cả các NHTM Quốc doanh, khoảng từ 2.000 – 3.000 tỷ đồng, tương đương với khoảng 130 – 150 triệu USD. Hiện nay, NHNN quy định các NHTM VN phải có vốn pháp định 3000 tỷ đồng, đó là một vấn đề khó khăn cho các NHTM VN trong giai đoạn này. Do đó việc sáp nhập là xu hướng chung của các NHTM có quy mô không đủ lớn.

Một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức an toàn của ngân hàng là tỷ trọng vốn tự có so với tổng tài sản có rủi ro. Điều 81 – Luật các tổ chức tín dụng 12/1997 đã quy định tổ chức tín dụng phải duy trì tỷ lệ đảm bảo an toàn này. Theo thông lệ quốc tế, tỷ trọng này tối thiểu là 8%. Vậy mà các NHTM VN mới chỉ đạt mức cao nhất là gần 5%.
Mức vốn tự có nhỏ bé còn làm hạn chế khả năng mở rộng cho vay bảo lãnh do quy định của Luật các tổ chức tín dụng – Điều 79: Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng. Điều này hạn chế NHTM cho vay bảo lãnh các dự án lớn.

– Trình độ cán bộ nhân viên ngân hàng chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ chế thị trường
Phù hợp với tình hình thực tế hiện nay khi yêu cầu về chất lượng và trình độ cán bộ là một yếu tố quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh, các NHTM, đặc biệt là các NHTM cổ phần, Ngân hàng Ngoại thương… đã tổ chức thi tuyển cán bộ, nhân viên mới theo tiêu chuẩn, trình độ được đưa ra về chuyên môn, tin học và ngoại ngữ.
Do đó, chúng ta phải thừa nhận rằng trình độ cán bộ làm việc trong các NHTM đang ngày một nâng cao.

– Máy móc, công nghệ ngân hàng còn nghèo nàn, lạc hậu

Mặc dù trong thời gian qua, các ngân hàng đã đẩy mạnh tin học hoá vào hệ thống ngân hàng nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu. Do đó không có khả năng cung cấp thông tin kịp thời và chính xác để phục vụ công tác quản lý điều hành. Các NHTM đã tập trung nhập khẩu trang thiết bị máy móc. Song ở nhiều NHTM, máy móc trang bị vẫn còn lạc hậu so với mặt bằng chung của thế giới. Loại máy ATM cho phép nhận cả tiền mặt tự động, giao dịch như một chi nhánh không người đã được áp dụng từ lâu ở các nước trên thế giới thì gần đây mới có mặt ở một số ngân hàng ở Việt Nam, mà hầu hết là các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đặt tại Việt Nam. Điều này gây ra một thách thức vô cùng lớn buộc các NHTM VN phải dũng cảm học hỏi, đầu tư để theo kịp các ngân hàng khác trong khu vực và trên thế giới.

– Tính liên kết, hợp tác giữa các ngân hàng trong nước để tạo nên sức mạnh cạnh tranh còn nhiều bất cập

Việc liên kết, hợp tác sẽ cho phép phát huy được hiệu quả của hệ thống máy móc thiết bị, nâng cao sức cạnh tranh, tiết kiệm chi phí…Tuy nhiên, hợp tác của các NHTM trong nước mới chỉ dừng lại ở phạm vi cho vay hợp đồng tài trợ mà chưa đẩy mạnh sang các phạm vi khác. Như thế sẽ làm giảm thế mạnh của hệ thống ngân hàng trong nước, giảm sức cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài.
– Nhiều đối thủ cạnh tranh mạnh

Trong quá trình hội nhập, chúng ta không tránh khỏi việc bắt gặp những đối thủ cạnh tranh mạnh trên thị trường. Họ là các ngân hàng nước ngoài hơn hẳn chúgn ta về vốn, công nghệ, năng lực tổ chức quản lý cũng như kinh nghiệm…Điều này buộc NHTM VN phải đối mặt và đề ra các biện pháp chính sách hợp lý nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
Như vậy khó khăn đối với NHTM VN trong quá trình hội nhập là rất nhiều buộc các ngân hàng của chúng ta phải có những biện pháp, chính sách hợp lý để khắc phục và đưa NHTM VN phát triển hơn nữa trong tương lai, bắt kịp với các NHTM trong khu vực và trên thế giới.

2.2 Thực trạng tín dụng ở các NHTM Việt Nam

2.2.1 Một số kết quả đạt được

Một số tác động hoạt động của NHTM đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

Từ năm 1988, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã thực hiện những bước đổi mới căn bản khiến cho các NHTM cũng phát triển mạnh và đa dạng với các NHTM quốc doanh, NHTM cổ phần, ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hệ thống ngân hàng đang không ngừng cải thiện và áp dụng công nghệ hiện đại và đã giải quyết được hai vấn đề kinh niên của những năm trước đây: nợ quá hạn trước đây có lúc lên đến từ 15 – 20% thì hiện nay chỉ đang xoay ở mức 3%. Tình trạng thiếu vốn đã được giải quyết bằng nhiều phương thức tăng vốn điều lệ. Các NHTM nhà nước tuy lớn nhưng đang bị cạnh tranh gay gắt từ các NHTM cổ phần trên phương diện về thị phần, công nghệ và các sản phẩm, dịch vụ mới… Hoạt động của các NHTM đã tác động đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trên các lĩnh vực sau:

 (1) Các hoạt động tài trợ của ngân hàng giúp cho các doanh nghiệp duy trì ổn định sản xuất, đầu tư công nghệ, thay đổi máy móc, nhờ đó nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế.

Ngoài ra, hoạt động cho vay tiêu dùng góp phần kích thích cầu tiêu dùng, qua đó góp phần tăng trưởng kinh tế.Trong thời gian qua, hoạt động tín dụng của các NHTM đã được mở rộng tới tất cả các thành phần kinh tế, dưới các hình thức cho vay ngày một đa dạng: cho vay vốn lưu động, cho vay vốn cố định, tín dụng thuê mua,… Đặc biệt, việc chuyển hướng mở rộng cho vay tiêu dùng thực sự là một hướng kích cầu có hiệu quả. Thông qua quan hệ tín dụng của các NHTM Nhà nước với các tổ chức tín dụng trong nước thể hiện chủ yếu ở sự biến động của khoản mục cho vay, có thể thấy số lượng giao dịch giữa các tổ chức tín dụng tăng lên liên tục. Mặc dù duy trì được mức tăng trưởng dư nợ trong năm cao song các ngân hàng vẫn kiểm soát được rủi ro ở mức độ an toàn. Tỷ lệ nợ quá hạn luôn được kiềm chế ở mức thấp.

Theo con số được Ngân hàng Nhà nước công bố: “Dư nợ tín dụng năm 2008 ước tăng 21-22% so với cuối năm 2007”. Vốn tín dụng đầu tư vào khu vực dân doanh tăng 35-37%, khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 12-14%, lĩnh vực xuất khẩu tăng 35-37%, khu vực sản xuất tăng 34-36%, khu vực nông nghiệp và nông thôn tăng 30%. Vốn cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác tăng 40-42%. Đến cuối năm 2008, vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống ngân hàng tăng 30% so với cuối năm 2007, tỷ lệ an toàn vốn tăng từ 8,9% lên 9,7%. Các tổ chức tín dụng có điều kiện đẩy mạnh huy động vốn, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 27,3%/năm trong giai đoạn 2001-2010, mở rộng đầu tư, cho vay với dư nợ tăng trưởng bình quân 30,4%/năm.

Kết thúc quý 1/2009, với một loạt giải pháp chống suy giảm kinh tế của Chính phủ, trong đó có nới lỏng dần chính sách tiền tệ, dư nợ tín dụng chỉ tăng vỏn vẹn 2,67% so với cuối năm 2008. Tuy nhiên, đến hết tháng 7/2009, mọi chuyện đã đảo ngược khi nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế từ các tổ chức tín dụng tăng khá, lên tới gần 20% so với cuối năm 2008. Theo số liệu được Ngân hàng Nhà nước công bố, nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế thông qua các tổ chức tín dụng tăng khoảng trên 24% so với cuối năm 2008, cá biệt một số tổ chức tín dụng còn trên 50%.

 

Biểu 2: Tình hình hoạt động tín dụng của các NHTM giai đoạn 2004 – 2009

 

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước)

(2) Sự đóng góp của hoạt động các NHTM đến tổng thu nhập kinh tế quốc dân.

Ngoài việc tăng trưởng mạnh các hoạt động huy động và cho vay, các hoạt động có nguồn thu khác của NHTM cũng ngày càng được quan tâm và phát triển. Đây là xu hướng của các NHTM ở các nước phát triển. Đặc biệt khi các hoạt động cho vay và huy động vốn rất nhạy cảm với tình hình kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế, các hoạt động khác chính là “phao cứu sinh” cho các NHTM, cụ thể là:

Trong năm 2008, trước tình hình hạn chế tăng trưởng tín dụng từ chính sách thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng đã tính đến các biện pháp khác để thu hút khách hàng, cải thiện cơ cấu thu nhập. Biện pháp đầu tiên các NHTM đưa ra là nâng cấp, phát triển dịch vụ, chính vì vậy, hoạt động dịch vụ trong năm 2008 tăng trưởng cao, tăng 67% so với năm trước. Trong đó, tăng nhiều nhất là thanh toán trong nước, tăng 72%. Qua đó, kéo theo tổng thu tiền mặt qua quỹ Ngân hàng Nhà nước trong năm 2008 tăng 76%.

(3) Hệ thống NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, từ đó tác động đến nền kinh tế.

Từ cuối năm 2008, Chính phủ bắt đầu thực hiện gói kích cầu nền kinh tế, trong đó các biện pháp tài chính, tiền tệ là chủ đạo. Các biện pháp tiền tệ gồm:

Giảm lãi suất cơ bản: Tính từ ngày 21/10 cho đến hết năm 2008, Ngân hàng Nhà nước đã 5 lần giảm lãi suất cơ bản, khiến lãi suất cơ bản đã giảm mạnh từ mức đỉnh 14%/năm (ngày 11/6) xuống còn 8,5%/năm.

Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc: tính đến hết tháng 6/2009, Ngân hàng Nhà nước đã 5 lần giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc cũng có 2 lần điều chỉnh giảm.

Hỗ trợ lãi suất vay vốn nói chung: hỗ trợ 4% lãi suất cho vay ngắn hạn (thời hạn giải ngân khoản vay tính từ ngày 1/2/2008 đến ngày 31/12/2008) và hỗ trợ 4% lãi suất cho vay trung hạn (thời hạn giải ngân khoản vay tính từ ngày 1/4/2009 đến ngày 31/12/2011). Quy mô gói hỗ trợ lãi suất trị giá 1 tỷ đô la Mỹ, tương đương với tổng cung tín dụng khoảng 496.362 tỷ đồng.

Bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của NHTM: Ngân hàng Phát triển Việt Nam đứng ra bảo lãnh cho các doanh nghiệp có vốn điều lệ tối đa 20 tỷ đồng và sử dụng tối đa 500 lao động, trừ một số lĩnh vực kinh doanh bất động sản, chứng khoán hay đảo nợ.

Xử lý nợ quá hạn: Không phạt nợ quá hạn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn. Các NHTM thực hiện việc cơ cấu lại thời hạn nợ và áp dụng các giải pháp xử lý nợ vay vốn ngân hàng phù hợp với quy định của pháp luật đối với các hộ nông dân bị thiệt hại do thiên tai và các doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm.

Điều này cho thấy vai trò quan trọng của các NHTM trong chính sách kích thích tăng trưởng kinh tế.

(4) Tăng trưởng tín dụng vượt định hướng

Từ cuối năm 2008, chính sách tiền tệ bắt đầu có sự chuyển hướng, từ thắt chặt sang dần nới lỏng. Cùng với chủ trương kích cầu và ngăn chặn suy giảm kinh tế, sự chuyển hướng trên là một yếu tố tạo điều kiện để tín dụng tăng trưởng mạnh trở lại trong năm 2009.

Tuy nhiên, so với các mốc định hướng mà Ngân hàng Nhà nước dự kiến ở các thời điểm trong năm, tăng trưởng tín dụng thực tế đã vượt xa. Cụ thể, đầu năm, tăng trưởng tín dụng dự kiến từ 21% – 23%; giữa năm là định hướng không quá 30%; còn theo dự tính cả năm con số này thực tế có thể lên tới trên 36%, tăng mạnh so với năm 2008 (21%) và ở mức cao trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây.

Tăng trưởng tín dụng cao năm 2009 cũng là một cơ sở để Ngân hàng Nhà nước xem xét bắt đầu có hướng thắt chặt dần chính sách tiền tệ, cụ thể ở tín hiệu nâng lãi suất cơ bản, phòng ngừa lạm phát cao có thể trở lại trong năm 2010.

2.2.2 Những vấn đề còn tồn tại.

(1) Chính sách tiền tệ chưa ổn định

Năm 2008, việc thắt chặt tiền tệ đầu năm và nới lỏng dần cuối năm đã tạo nên tần suất điều chỉnh chính sách nhiều chưa từng có trong lịch sử: 8 lần điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu; 5 lần điều chỉnh dự trữ bắt buộc và lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc; 3 lần nới biên độ tỷ giá, 2 lần tăng mạnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng.

(2) Thị trường ngoại hối căng thẳng

Căng thẳng trên thị trường bắt đầu xuất hiện từ quý 2 năm 2009, khi nhiều doanh nghiệp giữ ngoại tệ, không chịu bán lại cho ngân hàng dẫn đến mất cân đối cung – cầu. Tình trạng này kéo dài cho đến cuối năm. Bên cạnh đó, tín dụng ngoại tệ giảm rất mạnh trong nửa đầu năm (chủ yếu do doanh nghiệp ngại vay vì lo rủi ro tỷ giá, đến tháng 5 giảm tới 9,55% so với cuối năm 2008) lại tạo ra hiện tượng đối ngược là ứ đọng vốn ngoại tệ tại các ngân hàng. Từ đây, năm 2009 có tình huống ít thấy: tháng 6, 5 ngân hàng lớn “bắt tay” giảm lãi suất huy động USD, áp tối đa 1,5%/năm và áp lãi suất vay cao nhất chỉ 3%/năm để kích cầu.

Một diễn biến nổi bật khác là trong phần lớn thời gian của năm, các ngân hàng thương mại duy trì trạng thái niêm yết giá mua ngoại tệ ngang với giá bán. Giá USD của ngân hàng cũng chính thức vượt mốc 18.000 VND; trên thị trường tự do có thời điểm lên gần mốc 20.000 VND; tỷ giá bình quân liên ngân hàng cả năm dự kiến tăng 5,7%. Và đáng chú ý là dự trữ ngoại tệ từ 20,7 tỷ USD (tháng 6/2008) đã giảm mạnh còn khoảng 16,5 tỷ USD hiện nay.

(3) Lãi suất huy động dồn ép

Sau năm 2008 biến động và leo thang chưa từng có trong lịch sử, năm 2009, lãi suất huy động và cho vay VND cùng ổn định, theo sự ổn định của lãi suất cơ bản. Tuy nhiên, căng thẳng của lãi suất huy động bắt đầu bộc lộ từ giữa năm.Lãi suất cơ bản từ 7% lên 8% có hiệu lực từ 1/12, các ngân hàng thương mại đồng loạt đẩy lãi suất huy động lên mức cao, một số thành viên có tới 10,5%/năm (chưa tính các hình thức khuyến mại, cộng thưởng gián tiếp). Điều này dẫn đến một hệ quả ít thấy là tỷ lệ lãi biên của các ngân hàng giảm rất mạnh; trong năm 2008 chênh lệch lãi suất động và cho vay đạt khoảng 3,7%, và năm 2009 chỉ xoay quanh 1% (đối với cho vay sản xuất kinh doanh).

(4) Tăng trưởng tín dụng nóng rồi sau đó siết chặt tín dụng

Mức độ tăng trưởng tín dụng trong nửa cuối năm 2007 và vài tháng đầu năm 2008 được xem là “nóng”. Điều đó cũng dẫn đến tình trạng “nóng” trong các hoạt động đầu tư của xã hội và là một trong những nhân tố thúc đẩy lạm phát, bên cạnh những yếu tố khách quan khác. Việc tăng trưởng tín dụng ồ ạt cũng đã nâng nợ xấu tại một số ngân hàng lên một cách rõ rệt, đặc biệt là ở lĩnh vực cho vay đầu tư với thị trường bất động sản.

(5) Được bảo hộ

Hiện nay ngành ngân hàng đang được bảo hộ khá nhiều. Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận một thực tế là, cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO, sức ép cạnh tranh đến từ các ngân hàng nước ngoài đang ngày càng gia tăng. Do vậy, phải chuẩn bị đối mặt với sự cạnh tranh khi bị giảm bảo hộ là việc cần thiết đối với các ngân hàng trong nước hiện nay.

(6) Chất lượng dịch vụ của ngân hàng trong nước còn yếu kém

Hiện tượng nhân viên làm việc đủng đỉnh trong khi khách hàng đang chờ đợi là hiện tượng còn khá phổ biến tại một số ngân hàng trong nước. Còn có những ngân hàng yêu cầu khách hàng phải đến rút tiền đúng nơi gửi, vì thông tin của khách hàng chưa được “post” lên mạng của ngân hàng. Những hạn chế tương tự như vậy gây nhiều phiền toái cũng như cảm giác không hài lòng cho khách hàng.

(7) Công nghệ lỗi thời

Mặc dù gần đây các ngân hàng trong nước đã đẩy mạnh việc hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin ngân hàng, tuy nhiên hiệu quả của những đầu tư không đồng đều. Đặc biệt, tại các ngân hàng thương mại nhà nước, việc đầu tư thường được chú trọng nhiều vào “bề nổi” là các hệ thống thông tin, nhưng lại không tiếp cận được vấn đề cốt lõi là tạo lập cơ sở nguyên tắc nghiệp vụ và quản trị để tận dụng tối đa những tiện ích do các hệ thống công nghệ thông tin mang lại.

(8) Khả năng quản lý rủi ro còn yếu kém

Có thể nói, cho đến thời điểm này, đây là một đặc điểm nổi bật của nhiều ngân hàng Việt Nam. Hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam đều có lịch sử phát triển chỉ khoảng 20 năm (khoảng thời gian quá non trẻ so với con số 158 năm tuổi của Lehman Brothers- ngân hàng Mỹ vừa bị phá sản). Tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới của kinh tế Việt Nam cũng chỉ chừng ấy năm. Hệ thống pháp luật về phòng ngừa rủi ro và nghiệp vụ quản trị rủi ro trong ngành tài chính vẫn còn lỏng lẻo và yếu. Nhiều ngân hàng vẫn chưa chú trọng đầy đủ đến vấn đề quản lý rủi ro tác nghiệp và rủi ro thị trường.

2.3 Một số giải pháp khắc phục những vấn đề còn tồn tại và nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng ngân hàng hiện nay.

Trên đây ta đã thấy một số mặt được và chưa được trong hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM, để nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong nền kinh tế nước ta hiện nay thì cần tập trung giải quyết các vấn đề còn tồn tại theo một số giải pháp sau:

– Để có thể mở rộng tín dụng, mỗi NHTM cần phải xây dựng cho mình một chính sách tín dụng riêng, xác định rõ chiến lược phát triển, xây dựng chiến lược kinh doanh trước mắt và lâu dài.

+ Giữ vững và phát triển khách hàng truyền thống. Trước hết là các công ty lớn, chủ động lựa chọn khách hàng tốt, dự án tốt để đầu tư. Đồng thời, tích cực xác định những lĩnh vực trọng điểm, các khu vực trọng điểm để tiếp tục mở rộng khách hàng, nâng thị phần.

+ Cơ cấu lại danh mục cho vay theo dòng sản phẩm, theo hướng mở rộng thêm đối tượng cho vay để phân tán rủi ro như cho vay mua xe, mở rộng các sản phẩm cho vay có ưu thế như cho vay mở rộng tỷ lệ đảm bảo, cho vay đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời.

+ Nghiên cứu nền kinh tế, chuyên sâu vào các xí nghiệp, công ty, khu chế xuất, cá nhân sản xuất,…để có thể phân loại khách hàng chiến lược và nghiên cứu thị trường để xác định khách hàng chiến lược, khách hàng mục tiêu, khách hàng tiềm năng và vòng đời lưu giữ khách hàng, nắm bắt được các thành phần có nhu cầu mở rộng, cải tiến, phát triển DN. Từ đó có kế hoạch cấp TD phù hợp.

+ Thực hiện tuyên truyền, quảng bá hình ảnh thương hiệu của Chi nhánh nhiều hơn nữa trên các phương tiện thông tin như: tạp chí NH, áp phích, đài truyền thanh,… về những thông tin có liên quan đến hoạt động TD như: lãi suất, các phương thức cho vay, điều kiện, thủ tục khi vay, đặc biệt là hiệu quả khi vay của từng đối tượng. Từ đó thu hút thêm nhiều khách hàng mới.

                        * Mở rộng hoạt động tín dụng

                         – Đa dạng hóa các lĩnh vực đầu tư, NH cần mở rộng lĩnh vực đầu tư trung – dài hạn nhằm phân tán rủi ro. Muốn vậy NH phải:

+ Có chính sách, thể lệ tín dụng rõ ràng, thủ tục đơn giảm nhằm thu hút khách hàng, tăng sức cạnh tranh đối với NH khác.

+ Phải thực sự nhạy bén, biết nhìn nhận đâu là khách hàng đáng tin cậy, từ đó phân tích khách hàng có khả năng trả được nợ, khách hàng nào không có khả năng trả được nợ để có biện pháp xử lý kịp thời.

                        – Mở rộng các phương thức cho vay dưới nhiều hình thức khác nhau để khách hàng có điều kiện thuận lợi hơn trong việc vay vốn. Sự kết hợp nhiều phương thức cho vay sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cả người vay lẫn NH. Bởi vì, người đi vay có thể lựa chọn hình thức vay phù hợp nhất, còn NH sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn. Từ đó có thể tăng DSCV và mở rộng quy mô hoạt động trên địa bàn Tỉnh.

– Nâng cao nhận thức đạo đức nghề nghiệp, có trách nhiệm hơn với công việc cho nhân viên. Từ đó chất lượng TD cũng sẽ được nâng lên, đây cũng chính là biện pháp hữu hiệu nhất để thu hút khách hàng.

– Đối với vấn đề lãi suất, nhằm khắc phục những hạn chế trong cạnh tranh lãi suất cần thực hiện một số biện pháp sau: NHNN cần ban hành lãi suất sàn trong cho vay để đảm bảo thực thực thi công cụ lãi suất, đem lại môi trường kinh doanh bình đẳng hơn cho cả ngân hàng và doanh nghiệp. Đẩy mạnh kích cầu qua tín dụng ngân hàng, làm đòn bẩy cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao tỷ suất lợi nhuận trong kinh doanh nói chung;

– Về việc xử lý nợ xấu thì cần có giải pháp đồng bộ và hữu hiệu nhằm xử lý tốt nợ xấu của NHTM.

                         + Từ những nơi có dư nợ cao, có thể cử nhân viên đến tận nơi để thu nợ nhằm giảm tải công việc cho các CBTD tại Chi nhánh khi cùng lúc khách hàng đến quá đông. Từ đó giúp NH chủ động hơn trong việc thu hồi nợ, và khách hàng cũng giảm được chi phí phát sinh.

                        + Rà soát và kiểm tra lại dư nợ cho vay đối với khách hàng, trên cơ sở đó tăng thị phần cho vay đối với khách hàng SXKD có hiệu quả, tình hình tài chính lành mạnh, có tín nhiệm đối với NH và giảm dư nợ cho vay đối với khách hàng không hội tụ các điều kiện vay vốn. Đẩy mạnh cho vay đối với các thành phần kinh tế trên cơ sở cho vay có tài sản đảm bảo, tiếp tục tiếp thị các khách hàng mới, tiếp cận các dự án mới.

                        + Tăng trưởng TD trên cơ sở ưu tiên khách hàng sử dụng nhiều dịch vụ và chọn lọc năng lực tài chính của khách hàng nhằm hạn chế tối đa phát sinh nợ quá hạn.

                        + Tổ chức công tác thu hồi nợ nhất là các khoản nợ đã đưa vào xử lý rủi ro, nợ quá hạn. Cần thiết duy trì và phát huy hiệu quả hoạt động của tổ xử lý nợ, tập trung xử lý dứt điểm các khoản nợ quá hạn, nợ tồn đọng, kiên quyết không để tình trạng nợ kéo dài.

                        + Liên hệ với phòng hỗ trợ, phòng kế toán tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát quản lý danh mục dư nợ và tình hình thu hồi nợ.

                        – Thực hiện theo sát, nắm chắc khách hàng, nguồn thu để thực hiện thu hồi nợ vay đầy đủ, đúng hạn.

                        + Tuân thủ đúng các quy chế về chuyên môn nghiệp vụ, thực hiện đúng quy định trong hoạt động TD. Ngoài ra, CBTD cần bổ sung thêm kiến thức về lĩnh vực kinh doanh nhằm hỗ trợ cho công tác thẩm định trước khi cho vay.

                        + Tăng cường công tác kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay, luôn được đề cao và xem đây là nhiệm vụ then chốt trong nghiệp vụ TD, nhằm hạn chế rủi ro. CBTD cần phải tích cực trong việc thẩm định và xét duyệt cho vay để hạn chế nợ quá hạn mới phát sinh.

                        + CBTD cần phối hợp chặt chẽ với phòng kế toán trong việc theo dõi tình hình trả nợ và lãi của khách hàng để dễ dàng hơn trong kiểm soát nợ đến hạn của khách hàng.

                        + Kết hợp với các ban ngành đoàn thể ở địa phương nhằm thuận tiện trong việc quản lý từng hộ.

 

PHẦN KẾT LUẬN

 

            Trong những năm vừa qua ngành ngân hàng nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng ,các ngân hàng thương mại vừa thực hiện nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng, vừa thực hiện nhiệm vụ là công cụ của nhà nước giữ vững định hướng XHCN trong sự phát triển và tăng trưởng kinh tế của đất nước, đã có nhiều đóng góp vào những thành tựu chung của nền kinh tế. Các hoạt động của ngành ngân hàng góp phần không nhỏ cho sự phát triển của nền kinh tế nước nhà trong đó có hoạt động tín dụng. Nó không những cung ứng vốn cho các doanh nghiệp tăng cường mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn có vai trò quan trọng trong việc tài trợ các dự án, chương trình xây dựng cơ bản, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của đất nước. Tín dụng ngân hàng đã đạt được một số thành tựu nhất định, chứng tỏ nó là một bộ phận chủ yếu trong hệ thống tín dụng ở nước ta, đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển góp phần vào quá trình xây dựng đất nước đưa đất nước đi lên theo con đường chủ nghĩa xã hội.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn – Nghiệp Vụ Ngân Hàng Thương Mại, Nhà xuất bản đai học quốc gia TP.HCM 2009
  2. TS. Nguyễn Minh Kiều. 2009. Nghiệp vụ ngân hàng thương mại. NXB Thống kê.
  3. Quyết định số 1627/2001/QĐ – NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân Hàng Nhà nước.
  4. Các trang web:

http://www.google.com

http://www.thuvienluanvan.com

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s