Thực trạng và giải pháp sử dụng hiệu quả vốn đầu tư từ ngân sách cho đầu tư phát triển trên địa bàn thị xã Hồng Lĩnh (tỉnh Hà Tĩnh) giai đoạn 2000 – 2010


BẢNG KÊ CHỮ VIẾT TẮT

Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp : CN – TTCN
Ngân sách Nhà nước : NS NN
Uỷ ban nhân dân : UBND
Xây dựng cơ bản : XDCB
Kế hoạch : KH
Hội đồng nhân dân : HĐND
Đầu tư : ĐT
Giáo dục – đào tạo : GD – ĐT
Văn hoá – Thể dục – Thể thao : VH – TD – TT
Trung ương : TW
Bình quân : BQ
Kế hoạch – tài chính : KH – TC
Tài sản cố định : TSCĐ
Khu vực : KV
Xã hội : XH

LỜI NÓI ĐẦU

Một trong những vấn đề chủ yếu của nền kinh tế hiện nay là làm sao thu hút được nhiều vốn đầu tư cho công cuộc phát triển đất nước, đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu.
Vấn đề cốt yếu của đầu tư là tính hiệu quả, làm sao để với một số vốn nhất định có thể mang lại được lợi ích cao nhất. Vốn ngân sách Nhà nước là một phần quan trọng trong công cuộc đổi mới kinh tế nói chung cũng như đầu tư nói riêng.
Nhìn lại 10 năm phát triển kinh tế của thị xã Hồng Lĩnh có những thành tựu đáng tự hào, tuy nhiên cũng còn những vấn đề tồn tại cần khắc phục.
Một trong những yếu tố làm nên sự thành công của kinh tế thị xã Hồng Lĩnh trong 10 năm phát triển chính là hoạt động đầu tư. Sự nỗ lực của địa phương trong việc huy động vốn đầu tư, tạo ra được nhiều công trình đầu tư có hiệu quả. Nguồn vốn mà thị xã Hồng Lĩnh sử dụng trong những năm qua chủ yếu là vốn ngân sách Nhà nước (Vốn ngân sách tỉnh, ngân sách của Hồng Lĩnh), các nguồn vốn khác cũng có nhưng chưa nhiều. Việc sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước trên địa bàn thị xã Hồng Lĩnh có hiệu quả đầu tư cao là vấn đề nổi cộm cần được quan tâm hàng đầu. Vì vậy, chuyên đề “Thực trạng và giải pháp sử dụng hiệu quả vốn đầu tư từ ngân sách cho đầu tư phát triển trên địa bàn thị xã Hồng Lĩnh (tỉnh Hà Tĩnh) giai đoạn 2000 – 2010 được hoàn thành với mong muốn đóng góp một số ý kiến cho vấn đề trên.
Hoạt động đầu tư có rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu như : Quản lý dự án đầu tư, thẩm định dự án đầu tư, rủi ro trong đầu tư, đầu tư và chuyển giao công nghệ, lập dự án đầu tư … Nhưng do hạn chế trong việc thu thập số liệu và hạn chế về thời gian, trình độ nên chuyên đề chỉ dừng lại ở mức khảo sát đánh giá hoạt động đầu tư của thị xã Hồng Lĩnh một cách nói chung và việc sử dụng nguồn vốn ngân sách nói riêng.
ã Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi bài viết do thời gian, nguồn số liệu và trình độ hạn chế nên chỉ đi vào nghiên cứu về thực trạng sử dụng Vốn ngân sách cho đầu tư phát triển trên địa bàn thị xã Hồng Lĩnh những mặt đạt được, chưa được trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005. Từ đó đưa ra một số giải pháp sử dụng hiệu quả vốn ngân sách trên địa bàn giai đoạn 2006 – 2010.
ã Về nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu tập trung vào vấn đề sử dụng hiệu quả vốn ngân sách cho đầu tư phát triển trên địa bàn thị xã Hồng Lĩnh (tỉnh Hà Tĩnh) giai đoạn 2000 – 2005 và các giải pháp cho giai đoạn 2006 – 2010.
ã Kết cấu bài viết
Kết cấu bài viết được chia làm 3 chương (không kể lời nói đầu và phần kết luận), với các nội dung như sau:
Chương 1: Tổng quan về đầu tư phát triển và đầu tư từ nguồn vốn ngân sách.
Chương 2: Thực trạng sử dụng hiệu quả vốn ngân sách cho đầu tư phát triển trên địa bàn thị xã Hồng Lĩnh (tỉnh Hà Tĩnh) giai đoạn 2000 – 2005.
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp cho việc sử dụng hiệu quả vốn ngân sách cho đầu tư phát triển trên địa bàn thị xã Hồng Lĩnh giai đoạn 2006 – 2010.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, đặc biệt là thầy giáo TS. Phạm Văn Hùng cùng các bác, các cô chú tại cơ quan thực tập đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này chuyên đề này.

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ ĐẦU TƯ
TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH

1.1. VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
1.1.1. Khái niệm
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu hút về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư.
Trong lĩnh vực đầu tư có nhiều hình thức đầu tư như đầu tư thương mại, đầu tư tài chính, đầu tư tài sản vật chất và sức lao động …
Đầu tư thương mại: Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra để mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và khi bán. Loại đầu tư này không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến ngoại thương) mà chỉ làm tăng tái sản xuất cho chính người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa người bán với người đầu tư và giữa người đầu tư với khách hàng của họ.
Đầu tư tài chính: Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra cho vay hoặt mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Đầu tư tài sản vật chất và sức lao động: Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội. Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, lắp đặt chúng trên nền bệ và bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thương xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hôị. Loại đầu tư này được gọi chung là đầu tư phát triển.
Trên góc độ tài chính thì đầu tư phát triển là quá trình chi tiêu để duy trì sự phát huy tác dụng của vốn cơ bản hiện có và bổ sung vốn cơ bản mới cho nền kinh tế, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội trong dài hạn.
Đầu tư phát triển: Là một phương thức Đầu tư trực tiếp trong đó việc bỏ vốn là nhằm gia tăng giá trị tài sản. Trong đầu tư phát triển nhằm tạo ra năng lực sản xuất mới và (hoặc) cải tạo, mở rộng, nâng cấp năng lực sản xuất hiện có vì mục tiêu phát triển.
Trong đầu tư các nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Trong đầu tư các nguồn lực đóng vai trò quyết định, nó là cái đầu tiên phải có khi tiến hành một công cuộc đầu tư.

1.1.2. Đặc điểm của đầu tư phát triển
Hoạt động đầu tư phát triển ngoài những đặc điểm chung của đầu tư như là tính rủi ro, lượng vốn đầu tư, đầu tư đòi hỏi phải có thời gian, đầu tư là một sự hi sinh các nguồn lực hiện tại….Còn có các đặc điểm khác biệt so với các loại hình đầu tư khác đó là:
Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi một số vốn lớn và để nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Đây là cái giá phải trả khá lớn cho hoạt động đầu tư phát triển. Lượng vốn này cần được đảm bảo thì công cuộc đầu tư mới có thể mang lại hiệu quả. Vì hoạt động đầu tư phát triển là đầu tư vào nhiều lĩnh vực thuộc nền kinh tế – xã hội nên lượng vốn đầu tư phải lớn mới đảm bảo hiệu quả đầu tư . Đầu tư phát triển gắn liền với các hoạt động khác của xã hội nên khi tiến hành đầu tư phải phân tích nhiều và sâu về các lĩnh vực liên quan, làm được điều này đòi hỏi phải có vốn lớn và để nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư. Ví dụ như một dự án đầu tư vào phát triển mạng lưới giao thông đường bộ quốc gia thì lượng vốn bỏ ra rất lớn, công cuộc đầu tư keo dài. Đường Hồ Chí Minh được đầu tư với số vốn hàng ngàn tỷ đồng, thời gian đầu tư kéo dài trong nhiều năm, huy động một lượng nhân công lớn, có ảnh hưởng tới nhiều vấn đề như môi trương văn hóa …
Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động xẩy ra. Do đó không thể tránh khỏi sự tác động của hai mặt tích cực và tiêu cực của các yếu tố không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế, văn hoá …Có nhiều dự án đầu tư phải dừng lại giữa chừng không thể tiến hành đầu tư được nữa do các yếu tố tiêu cực từ tự nhiên gây ra. Vì thế khi tiến hành công cuộc đầu tư phát triển cần phải nghiên cứu và dự báo các sự cố có thể xẩy ra với dự án sau này.
Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu dài nhiều năm, có khi hàng trăm, hàng ngàn năm, thậm chí còn lâu hơn nữa như những công trình : Vạn lý trường thành (Trung Quốc), Tháp chàm (Việt Nam), Kim tự tháp (Ai Cập), Angcovat (Campuchia)… Điều này nói lên giá trị lớn của các thành quả đầu tư phát triển. Các công cuộc đầu tư phát triển mang lại cho nhân loại nhiều giá trị về kinh tế – xã hội, quốc phòng an ninh.
Mọi công cuộc đầu tư đều hướng tới các thành quả của nó, các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển thường là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng lên. Do đó các điều kiện về địa lý, địa hình tại đó có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư cũng như các tác dụng sau này của các kết quả đầu tư. Công cuộc đầu tư phát triển của một vùng hay một địa phương là việc bỏ ra các nguồn lực để đầu tư xây dựng các công trình tại đó để phục vụ công cuộc phát triển. Điều kiện địa lý, địa hình có một ảnh hưởng rất lớn tới các công trình xây dựng nên khi thực hiện đầu tư phải tính đến yếu tố này.
Mọi thành quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của không gian như : Động đất, núi lửa, chiến tranh … Do hoạt động đầu tư phát triển phải tiến hành với thời gian dài nên rủi ro là rất lớn. Các yếu tố không ổn định đó có thể khác phục được, nhưng cũng có thể không khắc phục được chính vì thế các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển không phải lúc nào cũng mang lại cho con người kết quả như mong muốn.
Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội cao đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư. Sự chuẩn bị này được thể hiện ngay trong việc biên soạn các dự án đầu tư, có nghĩa là phải thực hiện đầu tư theo dự án được soạn thảo với chất lượng tốt. Trong các dự án đầu tư được biên soạn đó các yếu tố về kỹ thuật, kinh tế xã hội, khía cạnh tài chính, về các rủi ro … được nghiên cứu kỹ và khoa học.
1.1.3. Các nguồn vốn cho đầu tư phát triển
Vốn đầu tư là tiền tích lũy của xã hội, của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, là tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác như viện trợ của nước ngoài, liên doanh liên kết, vay của các chính phủ hay các tổ chức phi chính phủ … nhằm tái sản xuất, duy trì, mở rộng các tài sản cố định. Đổi mới và bổ sung cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, cho các ngành, cho các địa phương, cho các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ.
1.1.3.1. Nguồn vốn trong nước
Vốn ngân sách Nhà nước là nguồn vốn mà Nhà nước bỏ ra cho các công cuộc đầu tư. Chi cho các địa phương để tiến hành các hoạt động của mình trong đó có hoạt động đầu tư nói chung và đầu tư phát triển nói riêng. Vốn ngân sách được hình thành từ vốn tích luỹ của nền kinh tế và được Nhà nước duy trì trong kế hoạch ngân sách để cấp cho các đơn vị thực hiện các công trình thuộc kế hoạch Nhà nước.
Là những nguồn vốn được huy động trong nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách Nhà nước, ngồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước, nguồn vốn tín dụng của các doanh nghiệp Nhà nước, nguồn vốn từ khu vực tư nhân…
ã Nguồn vốn ngân sách Nhà nước:
Đây là nguồn chi của ngân sách Nhà nước cho đầu tư. Là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước, chi cho công tác lập và thực hiện các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và phát triển nông thôn.
ã Vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước:
Cùng với quá trình phát triển của đất nước, tín dụng đầu tư của Nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước. Với cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay. Chủ đầu tư là người vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn. Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ phương thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp.
Bên cạnh đó, vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước còn phục vụ công tác quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô. Thông qua nguồn vốn tín dụng đầu tư, Nhà nước khuyến khích phát triển kinh tế – xã hội của ngành, vùng, lĩnh vực theo định hướng chiến lược của mình. Đứng ở khía cạnh là công cụ điều tiết vĩ mô, nguồn vốn này không chỉ thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn thực hiện cả mục tiêu phát triển xã hội. Việc phân bổ và sử dụng vốn tín dụng đầu tư còn khuyến khích phát triển vùng kinh tế khó khăn, giải quyết các vấn đề xã hội như xoá đói giảm nghèo. Và trên hết nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có tác dụng tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá.
ã Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước:
Được xác định là thành phần giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn nắm giữ một một khối lượng vốn Nhà nước khá lớn. Mặc dù vẫn còn một số hạn chế nhưng đánh giá một cách công bằng thì khu vực kinh tế Nhà nước với sự tham gia của các doanh nghiệp Nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay. Lượng vốn mà các doanh nghiệp nắm giữ để đưa vào đầu tư thường cho hiệu quả cao, góp một phần quan trọng thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển.
ã Nguồn vốn từ khu vực tư nhân :
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã. Theo nhận định sơ bộ thì thì khu vực kinh tế ngoài Nhà nước vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà chưa được huy động triệt để.
Cùng với sự phát triển của đất nước, một bộ phân không nhỏ trong dân cư có tiềm năng kinh tế cao, có một lượng vốn khá lớn do có nguồn thu nhập gia tăng hoặc do tích luỹ truyền thống. Nhìn tổng quan, nguồn vốn tiềm năng trong dân cư không phải là nhỏ, lượng vốn này tồn tại dưới dạng vàng, ngoại tệ, tiền mặt…. Nguồn này ước tính xấp xỉ 80% tổng nguồn vốn huy động của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Thực tế phát hành trái phiếu của một số ngân hàng thương mại quốc doanh cho thấy chỉ trong thời gian ngắn đã huy động được hàng ngàn tỷ đồng và hàng chục triệu USD từ khu vực dân cư.
1.1.3.2. Nguồn vốn từ nước ngoài
ã Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình di chuyển vốn quốc tế trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn. Đầu tư trực tiếp nước ngoài được hình thành từ lâu, chủ yếu là sự di chuyển vốn giữa các nước tư bản phát triển, ngày nay các nước đang phát triển cũng tiếp nhận lượng vốn đầu tư này cho quá trình phát triển triển kinh tế của mình. Đây là một nguồn quan trọng đối với các nước đang phát triển. Kinh nghiệm cho thấy các nước như Thái Lan, Hàn Quốc, Malaysia, Singapo … đã tận dụng nguồn vốn này rất tốt cho quá trình phát triển kinh tế của nước họ, hiện nay các nước này đang là một trong những nước có nền kinh tế phát triển nhanh, kinh tế ổn định.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có các đặc điểm như sau:
Các chủ đầu tư nước ngoài phải góp một số vốn tối thiểu vào vốn pháp định, tuỳ theo luật đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Quyền quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn. Đối với doanh nghiệp liên doanh và hợp động hợp tác kinh doanh thì quyền quản lý doanh nghiệp và quản lý đối tượng hợp tác tuỳ thuộc vào mức độ vốn góp của các bên tham gia, còn đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì bên nước ngoài (chủ đầu tư) toàn quyền quản lý doanh nghiệp.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài ít chịu sự chi phối của chính phủ. Đầu tư trực tiếp nước ngoài do các nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp tư nhân thực hiện nên nó ít chịu sự chi phối của chính phủ, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài ít phụ thuộc vào mối quan hệ giữa nước chủ đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư so với các hình thức di chuyển vốn đầu tư quốc tế khác.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra một nguồn vốn dài hạn cho nước chủ nhà: Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường dài hạn nên không dễ rút đi trong thời gian ngắn. Do đó, nước chủ nhà sẽ được tiếp nhận một nguồn vốn lớn bổ sung cho vốn đầu tư trong nước mà không phải lo trả nợ. Điều này khác với nguồn vốn ODA, các nước nhận vốn đầu tư phải trả nợ trong một khoảng thời gian nào đó theo quy định ký kết giữa các bên chủ nhà và nhà viện trợ.
Quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn đầu tư gắn liền với chủ đầu tư. Chủ đầu tư cũng chính là nhà đầu tư, họ trực tiếp đứng ra quản lý nguồn vốn của mình và chịu mọi rủi ro có thể xẩy ra khi đầu tư. Tuy nhiên cũng như các nhà đầu tư trong nước, các nhà đầu tư nước ngoài cũng phải tuân theo các quy định của pháp luật, các văn bản pháp quy liên quan đến lĩnh vực đầu tư của Việt Nam.
ã Nguồn viện trợ chính thức (ODA)
ODA bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại, hoặc tín dụng ưu đãi của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống liên hợp quốc (United Natinons-UN), các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang phát triển và chậm phát triển.
ODA cùng với các nguồn vốn khác như tín dụng thương mại từ các ngân hàng, đầu tư trực tiếp nước ngoài, viện trợ cho không của các tổ chức phi chính phủ ( NGO), tín dụng tư nhân chủ yếu chảy vào các nước đang và chậm phát triển. Các dòng vốn quốc tế này có những mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Nếu một nước kém phát triển không nhận được vốn ODA đủ mức cần thiết để cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội thì cũng khó có thể thu hút được nguồn vốn FDI cũng như vay các nguồn vốn tín dụng khác để mở rộng kinh doanh. Nhưng nếu chỉ tìm và phụ thuộc vào ODA mà không tìm cách thu hút các nguồn vốn khác thì nước đó không có điều kiện tăng trưởng nhanh sản xuất, dịch vụ, không có đủ thu nhập để trả nợ ODA.
Vốn ODA mang tính ưu đãi: Đây chính là một sự ưu đãi dành cho nước vay, nhiều khi nước nhận các khoản vốn này không phải hoàn lại.Thông thường trong ODA có thành tố viện trợ không hoàn lại, đây chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại. Các nhà tài trợ thường áp dụng nhiều hình thức khác nhau trong ưu đãi, như kết hợp một phần ưu đãi và một phần tín dụng gần với điều kiện thương mại.
Vốn ODA còn thể hiện ở chỗ nó chỉ dành riêng cho các nước đang và chậm phát triển, vì mục tiêu phát triển. Có hai điều kiện cơ bản nhất để các nước đang phát triển và chậm phát triển nhận được ODA là:
Thứ nhất: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người thấp. Nước nào có GDP bình quân đầu người càng thấp thì thường nhận được tỷ lệ viện trợ không hoàn lại của ODA càng cao và khả năng vay với lãi suất thấp, thời hạn ưu đãi càng lớn. Khi các nước này đạt trình độ phát triển nhất định qua ngưỡng đói nghèo thì sự ưu đãi này sẻ giảm đi.
Thứ hai: Mục tiêu sử dụng vốn ODA cua các nước này phải phù hợp với chính sách và phương hướng ưu tiên xem xét trong mối quan hệ giữa bên cấp và bên nhận ODA.
Thông thường, các nước cung cấp ODA đều có những chính sách ưu tiên riêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay lĩnh vực mà họ có khả năng kỹ thuật và tư vấn (công nghệ, kinh nghiệm quản lý…). Đồng thời, đối tượng ưu tiên của các nước cung cấp ODA cũng có thể thay đổi theo thời gian tuỳ từng điều kiện cụ thể. Vì vậy, nắm được hướng ưu tiên và tiềm năng của các nước, các tổ chức cung cấp ODA là rất cần thiết.
Về thực chất, ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn lại trong những điều kiện nhất định một phần Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển. Như vậy nguồn gốc thực chất của ODA chính là một phần của tổng sản phẩm quốc dân của các nước giàu được chuyển sang các nước nghèo. Do thế, ODA rất nhạy cảm về mặt xã hội và chịu sự điều chỉnh của dư luận xã hội từ nước cung cấp cũng như từ nước tiép nhận ODA.
Vốn ODA mang tính ràng buộc: Có thể là ràng buộc một phần hoặc không ràng buộc đối với nước nhận, thông thường đi kèm với vốn ODA là sự ràng buộc, tuy nhiên sự ràng buộc nhiều hay ít còn tuỳ thuộc vào bên cho vay và bên nhận vay. Ngoài ra nước viện trợ vốn họ còn có điều kiện, yêu cầu riêng khác nhau, các ràng buộc này thường chặt chẽ với nước nhận ODA.
Các nước viện trợ nói chung đều không quên dành được lợi ích cho mình, vừa gây ảnh hưởng về chính trị, vừa thực hiện xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tư vấn vào nước nhận viện trợ. Như các nước Đức, Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hoá và dịch vụ của nước mình, Canađa yêu cầu lên tới 65%, riêng Thuỵ Sĩ chỉ yêu cầu 1,7%; Hà Lan 2,2% là hai nước có yêu cầu thấp nhất.
Kể từ khi ra đời đến nay viện trợ luôn chứa đựng 2 mục tiêu cùng tồn tại song song. Mục tiêu thứ nhất là thúc đẩy tăng trưởng bền vững và giảm đói nghèo ở các nước đang phát triển. Động cơ thúc đẩy các nhà tài trợ chính là thị trường tiêu thụ sản phẩm, thị trường đầu tư. Viện trợ thường gắn với các điều kiện kinh tế cho nên xét về lâu dài các nhà tài trợ sẻ có lợi về mặt an ninh, kinh tế, chính trị khi kinh tế các nước nghèo tăng trưởng. Mối quan tâm mang tính cá nhân này được kết hợp với tinh thần nhân đạo và tính cộng đồng. Vì một số vấn đề mang tính toàn cầu như sự bùng nổ dân số, bảo vệ môi trường sống, bình đẳng giới, chống dịch bệnh, giải quyết xung đột sắc tộc, tôn giáo… đòi hỏi sự hợp tác, nỗ lực của cả cộng đồng quốc tế, không phân biệt nước giàu, nước nghèo. Mục tiêu tiếp theo là tăng cường vị thế về chính trị của các nước viện trợ, các nước phát triển sử dụng ODA như một công cụ chính trị: xác định vị trí ảnh hưởng của mình tại các nước và khu vực tiếp nhận ODA. Mỹ là một trong những nước đi đầu trong chính sách dùng ODA để tạo tầm ảnh hưởng về chính trị cho mình. Tiếp theo là Nhật Bản là nước sử dụng ODA để tạo tầm ảnh hưởng về mặt kinh tế và chính trị.
ODA là vốn có khả năng gây nợ: Vì đây là nguồn vốn của các tổ chức nước ngoài cho vay, thông qua hình thức đầu tư gián tiếp nên nước nhận đầu tư phải trả nợ cho nước vay. Sự phức tạp là ở chỗ vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi viện trợ lại dựa vào xuất khẩu ngoại tệ nên khả năng nợ là rất cao, điều này khác với nguồn vốn FDI là nguồn vốn không có khả năng gây nợ.
Hiện nay Việt Nam là một trong những nước nhận viện trợ lớn của khu vực, điều này đòi hỏi chúng ta phải đầu tư từ nguồn vốn này sao cho hiệu quả của nó cao. Vốn ODA có khả năng gây nợ nên hiệu quả đầu tư của nguồn vốn này cần phải nghiên cứu xem xét kỹ trước khi nhận viện trợ từ các nước, phải nghiên cứu xem xét tính khả thi của các dự án trước khi ra quyết định đầu tư.
Xu hướng của nguồn vốn ODA ngày nay là: ngày càng có thêm nhiều cam kết quan trọng trong quan hệ hỗ trợ phát triển chính thức, bảo vệ môi trường sinh thái đang là trọng tâm ưu tiên của các nhà tài trợ, mục tiêu và yêu cầu của các nhà tài trợ ngày càng cụ thể, tuy nhiên ngày càng có sự nhất trí cao giữa các bên về mục tiêu này; cạnh tranh giữa các nước đang phát triển trong việc thu hút ODA đang tăng lên. Có thể khẳng định ODA là nguồn vốn có vai trò quan trọng đối với các nước đang và chậm phát triển.

KẾT LUẬN

            Vốn đầu tư là cái cốt lõi cho quá trình phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương trong cả nước nói chung và thị xã Hồng Lĩnh nói riêng. Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước là một nguồn vốn quan trọng, việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn này sẽ góp phần tích cực trong công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của thị xã Hồng Lĩnh trong những năm tới.

          Trong những năm qua, thị xã Hồng lĩnh thực hiện công cuộc đầu tư phát triển kinh tế – xã hội của mình chủ yếu dựa vào nguồn vốn ngân sách Nhà nước, hiệu quả sử dụng nguồn vốn này không chỉ là quan tâm hàng đầu của thị xã Hồng Lĩnh mà đang là sự quan tâm của các địa phương khác trong cả nước cũng như của tỉnh. Nó là yếu tố then chốt cho sự phát triển của địa phương sau này. Đề tài này hoàn thành với mong muốn góp một số ý kiến xây dựng cho vấn đề trên.

          Những khó khăn và thách thức đang chờ đợi phía trước, đặc biệt là nhu cầu vốn đầu tư cho toàn xã hội ngày càng tăng cao, vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước lại có hạn, chính vì vậy việc sử dụng hiệu quả đồng vốn mà mình có được là quan tâm hàng đầu của địa phương và đó cũng chính là vấn đề mà đề tài quan tâm.

          Do hạn chế về kinh nghiệm thực tế; trình độ có hạn nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót, em mong nhận được sự góp ý, giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn cùng các thầy cô giáo trong bộ môn Kinh tế đầu tư. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn thầy giáo      TS.Phạm Văn Hùng, cùng các thầy cô giáo trong bộ môn Kinh tế đầu tư, trường Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội; các bác, các cô chú trong phòng Kế hoạch – Tài chính – UBND Thị xã Hồng Lĩnh đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề thực tập này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. 1.     Đặng Duy Báu, Hà Tĩnh tiềm năng và cơ hội, Báo Hà Tĩnh số tháng 1/2005.
  2. 2.     Nguyễn Thiệu Huy, Hồng lĩnh tiềm năng du lịch, Báo Hà Tĩnh số tháng 12/2004.
  3. 3.     Cao Minh, Đầu tư Hà Tĩnh giai đoạn 1996-2000, Báo Hà tĩnh  số tháng 11/2004.
  4. 4.     Nguyễn Hồng Minh, Đinh Đào Ánh Thuỷ, Bài giảng: Quản trị Đấu Thầu,  ĐHKTQD Hà Nội.
  5. 5.     TS.Nguyễn Bạch Nguyệt, TS.Từ Quang Phương, Giáo trình kinh tế đầu tư , Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội
  6. 6.     TS. Nguyễn Bạch Nguyệt, Giáo trình Lập và quản lý dự án đầu tư,  Đại hoc KTQD Hà Nội.
  7. 7.     Niên giám thống kê Hà Tĩnh các năm 2002, 2004.
  8. 8.     Niên giám thống kê thị xã Hồng Lĩnh các năm 2000, 2001, 2002, 2003, 2004.
  9. 9.     Quy định pháp luật về quản lý quy hoạch đô thị và đầu tư xây dựng – Nhà xuất bản chính trị quốc gia-2003.
  10. 10.                         Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2010 – UBND tỉnh Hà Tĩnh-2004.


MỤC LỤC

BẢNG KÊ CHỮ VIẾT TẮT.. 1

LỜI NÓI ĐẦU.. 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ ĐẦU TƯ   TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH    4

1.1. VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN.. 4

1.1.1. Khái niệm.. 4

1.1.2. Đặc điểm của đầu tư phát triển. 5

1.1.3. Các nguồn vốn cho đầu tư phát triển. 7

1.1.3.1. Nguồn vốn trong nước. 7

1.1.3.2. Nguồn vốn từ nước ngoài 9

1.2.       ĐẦU TƯ TỪ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.. 14

1.2.1. Nội dung của vốn ngân sách Nhà nước. 14

1.2.2.  Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn ngân sách  16

1.2.3.  Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng hiệu quả vốn đầu tư. 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ HỒNG LĨNH (TỈNH HÀ TĨNH) GIAI ĐOẠN 2000 – 2005. 31

2.1.     KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ – XÃ HỘI TỈNH HÀ TĨNH VÀ THỊ XÃ HỒNG LĨNH   31

2.2.     TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ HỒNG LĨNH GIAI ĐOẠN 2001 – 2005  35

2.2.1.  Kết quả huy động vốn đầu tư xã hội cho phát triển kinh tế –  xã hội ở thị xã Hồng Lĩnh thời gian qua. 35

2.2.2.  Những hạn chế trong việc huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế ở thị xã Hồng Lĩnh  45

2.3. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TỪ VỐN NGÂN SÁCH ĐƯỢC CẤP CỦA THỊ XÃ HỒNG LĨNH GIAI ĐOẠN 2001 – 2005. 46

2.3.1.  Quá trình thực hiện đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước  46

2.3.2.  Quản lý vốn đầu tư. 55

2.3.3.  Hiệu quả đạt được trong công tác đầu tư phát triển thị xã Hồng Lĩnh từ vốn ngân sách  57

2.3.3.1. Những kết quả đạt được. 59

2.3.3.2. Những tồn tại chủ yếu. 65

2.4. NGUYÊN NHÂN CỦA THÀNH CÔNG VÀ HẠN CHẾ.. 66

2.4.1. Nguyên nhân thành công. 66

2.4.2. Nguyên nhân của tồn tại 67

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO VIỆC SỬ DỤNG HIỆU QUẢ VỐN NGÂN SÁCH ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ HỒNG LĨNH GIAI ĐOẠN 2006 – 2010. 68

3.1. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU CHO VIỆC SỬ DỤNG HIỆU QUẢ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ HỒNG LĨNH GIAI ĐOẠN 2006 – 2010  68

3.1.1. Phương hướng phát triển kinh tế – xã hội Thị xã Hồng Lĩnh giai đoạn 2006 – 2010  68

3.1.2. Phương hướng sử dụng hiệu quả vốn ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển trên địa bàn Thị xã Hồng Lĩnh giai đoạn 2006 -2010. 72

3.1.3.  Mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn Thị xã Hồng Lĩnh giai đoạn 2006 – 2010  73

3.2.CÁC GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ VỐN ĐẦU TƯ TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ HỒNG LĨNH GIAI ĐOẠN 2006 – 2010  75

3.2.1.  Giải pháp để huy động và sử dụng hiệu quả vốn ngân sách Nhà nước cho từng ngành, lĩnh vực cụ thể. 75

3.2.2.  Nâng cao chất lượng công tác kế hoạch hoá huy động và sử dụng vốn ngân sách cho đầu tư phát triển. 78

3.2.3.  Tăng cường công tác huy động vốn đầu tư ngoài vốn ngân sách Nhà nước để đầu tư có hiệu quả tránh sự phụ thuộc quá nhiều vào vốn ngân sách. 81

3.2.4.  Nâng cao chất lượng dự án, đặc biệt là dự án khả thi 83

3.2.5.  Về công tác chọn nhà thầu và khảo sát thiết kế. 83

3.2.6. Nâng cao năng lực cán bộ quản lý vốn đầu tư và đào tạo đủ cán bộ cho công tác kế hoạch – đầu tư của Thị xã Hồng Lĩnh trong những năm tới 85

3.3.MỘT SỐ KIẾN NGHỊ. 86

3.3.1. Kiến nghị với UBND Thị xã Hồng Lĩnh. 86

3.3.2. Kiến nghị với trung ương, tỉnh Hà Tĩnh: 87

KẾT LUẬN.. 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO.. 89

��7sz�2 �) line-height: 150%;mso-ansi-language:FR’> là dao động của nền kinh tế theo thời gian, trong đó trải qua hai giai đoạn đặc trưng là đỉnh và đáy. nếu như đỉnh là giai đoạn cực thịnh của nền kinh tế thì ngược lại đáy là thời kỳ suy thoái, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều đình trệ. Như chúng ta đã biết một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường là các hoạt động kinh tế đều có mối liên hệ nhất định với nhau, đến toàn bộ nền kinh tế và ngược lại. Nhà ở mặc dù là nhu cầu thiết yếu nhưng để thoả mãn cũng đòi hỏi một lượng tài chính không nhỏ, do vậy kinh doanh trong lĩnh vực này sẽ thuận lợi hơn rất nhiều khi nền kinh tế đang trên đà phát triển, thu nhập của người lao động được nâng lên và có khả năng chi trả cho những nhu cầu cao như nhà ở.

Ngoài ra còn nhiều nhân tố khác tác động đến đầu tư nói chung và đầu tư nhà ở nói riêng như mức độ rủi ro, tính chất của thị trường (cạnh tranh hay độc quyền), chính sách của Nhà nước…Mọi nhân tố cần phải được xem xét, đánh giá trong môi liên hệ phong phú đa dạng của môi trường đầu tư để nhà đầu tư có thể đưa ra những chiến lược và giải pháp thích hợp trong những giai đoạn cụ thể.

1.3.2 Đặc điểm của Hà nội và những yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển nhà ở.

Bên cạnh việc chịu ảnh hưởng của những nhân tố trên, đầu tư phát triển nhà ở tại Hà nội còn chịu sự  tác động của các yếu tố cụ thể khác xuất phát từ đặc điểm của thủ đô, một trung tâm kinh tế – chính trị lớn của cả nước.

Thứ nhất, với vị trí là một Thủ đô, mật độ dân số của Hà nội lớn và không ngừng tăng lên chủ yếu do tăng cơ học dẫn đến sức ép lớn về nhu cầu nhà ở. Hơn nữa nhu cầu lại rất phong phú như cho đối tượng chính sách, người có thu nhập cao, trung bình và thấp, cho sinh viên, cho người lao động ngoại tỉnh cư trú tạm thời hay định cư dài hạn….Tuy nhiên trong số này nhà ở cho người thu nhập thấp và trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 60 đến 70%, đây là những đối tượng ít hoặc không có khả năng sở hữu đất riêng để tự lo chỗ ở. Đây chính là thuận lợi cho các đơn vị kinh doanh nhà để xây dựng những chung cư cao tầng với chi phí thấp vừa tiết kiệm diện tích đất, vừa tranh thủ được chính sách khuyến khích của Thành phố và đặc biệt có thể nói là không phải lo đầu ra.

Thứ hai, đầu vào cho hoạt động đầu tư xây dựng nhà ở Hà nội cũng rất thuận lợi. Đó là nguồn vốn dồi dào đang ứ đọng trong các Ngân hàng thương mại, lượng tiền tiết kiệm trong dân chúng, thị trường nguyên vật liệu đa dạng về chủng loại và giá cả, máy móc thiết bị sử dụng trong ngành xây dựng thuộc loại hiện đại của Việt nam, đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân có trình độ cao đến từ khắp các địa phương trong cả nước. Tất cả các yếu tố đó làm cho Hà nội có khả năng đảm nhiệm những công trình nhà ở với quy mô lớn phù hợp với những khu đô thị văn minh hiện đại.

Thứ ba, đầu tư phát triển nhà ở Hà nội còn nhận được sự hướng dẫn, hỗ trợ thiết thực của UBND Thành phố và Trung ương thông qua các chủ trương chính sách như chương trình số 12 về “phát triển nhà ở Hà nội đến 2000 và 2010”, pháp lệnh Thủ đô vừa được công bố ngày 11/1/2001, Quyết định của UBND Thành phố về “ban hành Quy định thực hiện ưu đãi đầu tư xây dựng nhà ở để bán và cho thuê trên địa bàn Thành phố Hà nội” năm 2002….những chính sách, cơ chế này đang ngày càng tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động đầu tư phát triển nhà ở vốn nhạy cảm và mang tính xã hội cao, liên quan đến quyền lợi và nghiã vụ của nhiều đối tượng trong xã hội.

Thứ tư, địa bàn Thủ đô còn là nơi tập trung nhiều đơn vị xây dựng bao gồm các công ty và tổng công ty lớn như Tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng (VINACONEX), Công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị, Công ty tu tạo và phát triển nhà, Tổng công ty xây dựng Sông Đà, Tổng công ty đầu tư và phát triển nhà Hà nội…Đây là những đơn vị mạnh, có truyền thống trong ngành xây dựng của Việt nam, có đóng góp lớn lao đối với sự nghiệp xây dựng đất nước trước kia cũng như trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay. Với tiềm lực sẵn có cộng với kinh nghiệm lâu năm chắc chắn đây sẽ là những đơn vị xứng đáng đảm trách vai chủ đấu tư trong sự nghiệp phát triển nhà ở của Thủ đô thời gian tới.

2. Vốn và nguồn vốn phát triển nhà ở :

2.1  Vốn đầu tư:

Trên thế giới hiện tồn tại một số khái niệm, định nghĩa không hoàn toàn giống nhau về vốn đầu tư. Tuy nhiên nếu xét theo nguồn hình thành và mục tiêu sử dụng ta có khái niệm vốn đầu tư như sau:

“Vốn đầu tư là tiền tích lũy của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân cư và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội, nhằm duy trì tiếm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội”.

2.2 Nguồn vốn đầu tư phát triển nhà ở:

Với chủ trương do chương trình 12 đề ra là phát triển nhà ở theo mô hình dự  án, đảm bảo sự đồng bộ thống nhất trong kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội hoàn chỉnh, đầu tư phát triển nhà ở tại Hà Nội đã trở thành một sự nghiệp chung đòi hỏi nguồn vốn lớn mà không một đối tượng nào có thể tự mình đứng ra đảm trách mà phải có sự phối hợp nhiều nguồn nhau: Nhà nước, các tổ chức tài chính, tín dụng, các doanh nghiệp, người dân… Việc huy động mỗi nguồn vốn này có những đặc điểm riêng đòi hỏi phải có sự phối hợp linh hoạt khai thác…điểm hạn chế nhược điểm để đầu tư phát triển nhà ở tại Hà Nội đạt được hiệu quả cao nhất.

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , , , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s