Một số giải pháp nhằm thu hút FDI vào các KCN trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh


LỜI MỞ ĐẦU

Trước những xu hướng và bối cảnh quốc tế phức tạp mang tính cạnh tranh cao đòi hỏi chúng ta phải có một chiến lược tài tình thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho thời kì 2001-2010 để đảm bảo thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội cho thời gian tới.

Chính vì vậy, Nghị quyết Đại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa của nước ta, được khuyến khích phát triển lâu dài. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là chủ trương quan trọng, góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hoá, Hiện đại hóa phát triển đất nước, xây dựng một nền sản xuất hiện đại, vững mạnh phục vụ cho cả nhu cầu trong nước và xuất khẩu, có khả năng hổ trợ và kích thích phát triển năng lực cho các ngành  khác, tiến tới đổi mới toàn bộ xã hội.”

Mục tiêu đặt ra cho các Khu Công Nghiệp (KCN) do vậy cũng nằm trong mục tiêu chung mà cả nước đang quyết tâm đạt tới trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI.

Sau hơn 5 năm phát triển KCN, Thành phố Hồ Chí Minh (HCM) đã đạt được những thành tựu quan trọng về việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), góp phần tăng trưởng nền kinh tế của cả nước nói chung và kinh tế Thành phố HCM nói riêng.

Như vậy để tiếp tục phát triển các KCN trên địa bàn thành phố HCM, từ đó góp phần phát triển kinh tế kinh tế của thành phố chúng ta cần thu hút nhiều hơn nữa các nguồn vốn vào KCN, đặc biệt là nguồn vốn FDI.

Vì vậy đề tài của em tập trung nghiên cứu về: “Một số giải pháp nhằm thu hút FDI vào các KCN trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”

Trong quá trình thực hiện đề tài này, do hạn chế tầm nhìn và hiểu biết nên không thể tránh khỏi thiếu sót, rất mong có được sự chỉ bảo của các bạn và hướng dẫn của thầy cô

Nhân đây em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô Nguyễn Thị Tứ – Giảng viên chính bộ môn “Quản trị hoạt động thương mại” đã giúp em hoàn thành đề tài này.

Sinh viên

Trần Việt Thắng


CHƯƠNG I:

THỰC TRẠNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NƯỚC NGOÀI TRONG CÁC KCN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THỜI GIAN QUA.

I/ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC KCN NÓI CHUNG.

  1. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và hình thức của nó trong thực tiễn.

1.1. Khái niệm về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá với qui mô và tốc độ ngày càng lớn đã tạo ra một nền kinh tế sôi động mà ở đó tính phụ thuộc giữa các nước, các quốc gia ngày càng tăng. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ và cách mạng khoa học công nghệ và cách mạng thông tin đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế tạo nên sự dịch chuyển vốn giữa các quốc gia. Đặc biệt là nhu cầu vốn đầu tư  để Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá (CNH – HĐH) của các nước phát triển rất lớn. Mặt khác ở các nước phát triển dồi dào vốn và công nghệ, họ muốn tìm kiếm những nơi thuận lợi, chi phí thấp để hạ giá thành sản phẩm và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ. Chính điều đó đã tạo nên một sự thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài và đặc biệt phổ biến nhất vẫn là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư quốc tế chủ yếu mà nhà đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay phần lớn vốn đầu tư của các dự án nhằm giành quyền điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoạt động kinh doanh, dịch vụ.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm sau:

–   Đây là hình thức đầu tư bằng vốn của các nhà đầu tư, họ tự quyết định đầu tư, tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Hình thức này mạng tính khả thi và hiệu quả cao.

–   Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp hoạt động theo tỷ lệ góp vốn của mình

–   Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm tổ chức, quản lý là mục tiêu mà các hình thức khác không giải quyết được

–   Nguồn vốn này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của hoạt động nó còn bao gồm cả vốn của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như đầu tư từ lợi nhuận thu được

1.2. Các hình thức của FDI trong thực tiễn.

Trong thực tiễn FDI có nhiều hình thức được áp dụng là:

  • Hợp đồng hợp tác kinh doanh: là văn bản kí kết của hai bên hay nhiều bên quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam mà không cần thành lập tư cách pháp nhân

Hình thức này có đặc điểm:

–   Không ra đời một pháp nhân mới

–   Cơ sở của hình thức này là hợp đồng hợp tác kinh doanh. Trong hợp đồng nội dụng chính phản ánh trách nhiệm và quyền lợi giữa các bên với nhau.

–   Thời hạn cần thiết của hợp đồng do các bên thoả thuận phù hợp với tính chất mục tiêu kinh doanh và được cơ quan cấp giấy phép kinh doanh chuẩn

–   Hợp đồng phải do đại diện của các bên có thẩm quyền kí. Trong quá trình hợp tác kinh doanh các bên giữ nguyên tư các pháp nhân của mình

  • Doanh nghiệp liên doanh:

Theo khoản 2 điều 2 luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam quy định doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai hay nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định kí giữa chính phủ nước Cộng hoà xã hộ chủ nghĩa Việt Nam và chính phủ nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc các doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.

Hình thức này có đặc điểm:

–   Thành lập pháp nhân mới hoạt động trên nguyên tắc hạch toán độc lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Các bên chịu trách nhiệm về phần vốn của mình.

–   Phần góp vốn của bên hoặc các bên nước ngoài không hạn chế mức tối đa nhưng tối thiểu không dưới 30% vốn pháp định và trong quá trình hoạt động không giảm vốn pháp định.

–   Cơ quan lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp liên doanh là hội đồng quả trị mà thành viên của nó do mỗi bên chỉ định tương ứng với tỷ lệ góp vốn của các bên nhưng ít nhất phải là hai người. Hội đồng quản trị có quyền quyết định những vấn đề quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp theo nguyên tắc nhất trí.

–   Các bên tham gia liên doanh phân chia lợi nhuận và phân chia rủi ro theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên trong vốn pháp định hoặc theo thoả thuận giữa các bên

–   Thời hạn hoạt động không quá 50 năm trong trường hợp đặc biệt được kéo dài nhưng không quá 20 năm.

  • Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Theo điều 26 Nghị định 12 CP quy định: Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh. “Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam. Thời gian hoạt động không quá 50 năm kể từ ngày cấp giấy phép”

  • Hợp động xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT)

Theo điều 12 khoản 2 luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: “ Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao là văn bản kí giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong thời hạn nhất định, hết thời hạn nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nhà Việt Nam”

  • Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh là văn bản kí kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam. Chính phủ Việt Nam dành cho nhà đầu tư kinh doanh trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
  • Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT)

Theo khoản 13 điều 2 luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: “ Hợp đồng xây dựng chuyển giao là hợp đồng kí kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng kết cấu hạ tầng. Sau khi xây xong nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam. Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện các dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.

  1. Vai trò của FDI đối với sự phát triển của các KCN nói chung.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức XIX của Đảng đã khẳng định: “ kInh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được khuyến khích phát triển lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là chủ trương quan trọng góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH phát triển đất nước”.

Trong hơn 10 năm qua kể từ khi ban hành Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần tích cực vào việc thực hiện những mục tiêu kinh tế – xã hội, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế, tăng cường thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành một trong những nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển: có tác dụng thúc đảy sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng CNH – HĐH, mở ra nhiều ngành nghề, sản phẩm mới, nâng cao năng lực quản lý và trình độ công nghệ, mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo thêm nhiều việc làm mới, góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế thế giới.

Tuy nhiên, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài những năm qua cũng đã bộc lộ những mặt yếu kém, hạn chế. Nhận thức quan điểm về đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa thực sự thống nhất và chưa được quán triệt đầy đủ ở các cấp, các ngành, cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài có mặt còn bất hợp lý và hiệu quả tổng thể về kinh tế- xã hội của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa cao; môi trường đầu tư còn chưa hấp dẫn; môi trường kinh tế và pháp lý còn đang trong quá trình hoàn thiện nên chưa đồng bộ; công tác quản lý Nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài còn những mặt yếu kém; thủ tục hành chính còn phiền hà; công tác cán bộ còn nhiều bất cập. Nhịp độ tăng trưởng đầu tư trực tiếp nước ngoài từ năm 2000 có dấu hiệu phục hồi nhưng chưa vững chắc, nếu không những năm tới. Trong khi đó, cạnh tranh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới và khu vực diễn ra ngày càng gay gắt, nhất là sau khủng hoảng kinh tế khu vực, nhịp độ tăng trưởng của kinh tế thế giới đang chậm lại, các nền kinh tế khu vực, những đối tác chính đầu tư vào Việt Nam, đang gặp khó khăn.

Từ những đóng góp quan trọng triển ta có thể nhận thấy rõ vai trò to lớn của FDI đối với sự phát triển của các KCN nói chung, thể hiện ở:

–   FDI giúp đẩy nhanh tốc độ phát triển nền kinh tế nói chung, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất của các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện tại và tạo ra năng lực sản xuất mới trong một số lĩnh vực, thúc đẩy xuất khẩu, giải quyết việc làm.

–   FDI giúp các doanh nghiệp sản xuất trong KCN tiếp nhận thành tựu phát triển khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhờ đó rút ngắn khoảng cách so với thế giới. Từ đó giúp các doanh nghiệp sản xuất tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

–   FDI giúp sử dụng có hiệu quả những lợi thế của đất nước mà trước đây không thể thực hiện do thiếu vốn. Từ đó giúp các doanh nghiệp sản xuất trong KCN có thể tận dụng hết các nguồn lực để phát triển sản xuất.

–   FDI tạo điều kiện cho chúng ta học tập kinh nghiệp quản lý kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường của các nước tiên tiến.

3. Kinh nghiệm của một số nước trong việc thu hút FDI.

3.1. Kinh nghiệm của Đài Loan.

Đài Loan là một trong 4 con rồng Châu á, quá trình phát triển kinh tế đã có những thành tựu nổi bật: từ năm 1953 đến năm 1997 bình quân tăng trưởng kinh tế hàng năm 8,7%

Trong quá trình xây dựng phát triển kinh tế, Đài Loan cũng có thời thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài. Đầu tư nước ngoài vào Đài Loan có những đặc điểm sau:

– Thương gia nước ngoài đầu tư vào Đài Loan có Hoa kiều và người nước ngoài. Ngay từ năm 1952 đã có Hoa Kiều và đến năm 1954 Chính Phủ Đài Loan ban bố “Điều lệ đầu tư nước ngoài”. Năm 1955 ban bố “Điều lệ đầu tư Hoa Kiều”. Gần nửa thế kỷ qua, vốn đầu tư nước ngoài vào Đài Loan tăng lên nhanh, nhất là thập kỷ 70-80.

Qua thực tế ở Đài Loan thấy quan hệ giữa quy mô kinh doanh vốn của người nước ngoài và quy mô đầu tư của họ chịu sự ảnh hưởng của đặc điểm kỹ thuật của ngành sản xuất, kỹ thuật sản xuất được sử dụng và mức khống chế cổ phẩn của họ. Nhà đầu tư nước ngoài vào Đài Loan đầu tư mục đích chung là thu lợi. Những mỗi thời kỳ thể hiện khác nhau.

Nhìn chung, Đài loan có nhiều thuận lợi, hấp dẫn đầu tư, ít rủi ro, kẻ cả rủi ro về chính trị

–   Hai yếu tố tiền lương và mức thu nhập quốc dân ở Đài Loan là lợi thế cho các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư vào Đài Loan vừa lợi dụng được cả hai yếu tố đó ở mức độ khác nhau trong từng thời kỳ phát triển khác nhau.

Vốn đầu tư nước ngoài đã có những tác động ảnh hưởng trên một số mặt với mức độ khác nhau trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế của Đài Loan.

–   Quá trình phát triển của kinh tế Đài Loan là không lệ thuộc vào vốn nước ngoài. Vốn nước ngoài chỉ bổ sung một phần nhỏ nguồn vốn

–   Năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh của vốn nước ngoài cao hơn trong nước, sức cạnh tranh cao hơn, đã có tác động lớn đối với xuất khẩu, tạo việc làm cho Đài Loan

3.2. Kinh nghiệm ở Trung Quốc.

Có thể nói Trung Quốc là một nước đạt được những thành tựu to lớn trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chính điều đó đã góp một phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế của Trung Quốc. Để đạt được những thành tựu đó, Đảng Cộng Sản và Nhà nước Trung Quốc đã quyết định thực hiện đẩy nhanh tốc độ cải cách và mở cửa với những chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc. Đó là:

  1. Mở rộng địa bàn thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từng bước, nhiều tầng, ra mọi hướng. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc chủ trương mở cửa vùng ven biển là nơi có vị trí thuận lợi trong giao lưu buôn bán quốc tế. Từ mở cửa ven biển sẽ dần dần mở sâu vào nội địa. Những bước đi như vậy đã dần hình thành khinh tế mở cửa nhiều tầng nấc, ra mọi hướng theo phương châm mơ cửa từ điểm, đến tuyến, đến diện. Với những bước đi thận trọng nhưng khẩn trương, Trung Quốc đã tiến hành mở cửa từng khu vực, bắt đầu từ việc thành lập 5 đặc khu kinh tế, sau đó là việc mở cửa 14 thành phố ven biển, 13 thành phố ven biên giới nhằm mở rộng thương mại và đầu tư vùng biên.
  2. Môi trường luật pháp. Cho đến nay Trung Quốc đã ban hành trên 500 văn bản gồm các bộ luật và pháp quy liên quan đến thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Luật pháp được xây dựng trên nguyên tắc: Bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng tập quán quốc tế.
  3. Tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách biện pháp trên nhiều lĩnh vực để tạo môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Các chủ trương, biện pháp được hướng vào cải tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện các ưu đãi (như ưu đãi thuế với khu vực đầu tư, ưu đãi thuế theo kỳ hạn kinh doanh và ưu đãi thuế trong tái đầu tư), đa dạng hoá các hình thức đầu tư và các chủ đầu tư, đặc biệt là giữa Hoa và Hoa Kiều, mở rộng các lĩnh vực đầu tư.

Từ thực tế tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc trong thời gian qua. Chúng ta có rút ra được một số bài học kinh nghiệm:

–   Mở cửa thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài dần từng bước theo khu vực.

Thực hiện tư tưởng của Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc đã thực hiện mở cửa dần từng bước theo liệu pháp “ dò đá qua sông”, để trước khó sau, tiến dần từng bước, giảm bớt rủi ro nên đã tránh được những va chạm xã hội lơn và sự phan hoá hai cực quá nhanh như đã xảy ra ở Liên Xô cũ và các nước Đông Âu do thực hiện “liệu pháp xốc”.

–   Phương pháp thu hút công nghệ tiên tiến của nước ngoài.

Phương châm “ dùng thị trường đổi lấy công nghệ” của Trung Quốc là một con dao hai lưỡi bởi lẽ với phương pháp này, trình độ kỹ thuật của Trung Quốc chỉ tang một thời gian ngắn đã có những bước tiến đáng kể so với các nước đang phát triển khác. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, Trung Quốc cũng đã gặp phải những khó khăn hết sức to lớn. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách, bước đi phù hợp để phát huy tt mặt tích cực, hạn ché mặt tiêu cực trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

–   Về quản lý hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Phát triển mạnh công nghiệp quốc gia trên cơ sở vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với các công ty xuyên quốc gia, làm tốt công tác kiểm tra, kiểm toán trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, phấn đấu từng tỷ lệ vốn góp của đối tác thuộc quốc gia tiếp nhận đầu tư để hạn chế các thua thiệt trong đầu tư nước ngoài.

–   Nâng cao hiệu lực và hiệu quả của quản lý Nhà nước đối với hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Để mở rộng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, cần thiết phải có chính sách ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài, nhưng cần phải nghiên cứu để có chính sách ưu dãi thích hợp nhằm tạo ra sự bình đẳng trong cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, tránh gây thua thiệt cho các doanh nghiệp trong nước.

Về cải cách thủ tục hành chính, Trung Quốc thực hiện chế độ phân cấp ra quyết định đầu tư cho các tỉnh, thành phố, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư về thời gian, chi phí trong việc làm các thủ tục xin đầu tư. Mặt trái của sự phân cấp này là phát sinh mâu thuẫn giữa lợi ích địa phương và lợi ích quốc gia, tạo nên nạn quan liêu trì trệ, hối lộ tham những trong hàng ngũ cán bộ làm công tác đầu tư. Vì vậy, cần nâng cao vai trò hiệu lực và hiệu quả của Nhà nước trong việc kiểm tra, kiểm soát, giám sát mọi hoạt động liên quan đến đầu tư nước ngoài.

II. THỰC TRẠNG THU HÚT FDI TRONG CÁC KCN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HCM THỜI GIAN QUA.

  1. Tình hình thu hút FDI trong các KCN thời gian qua.

Theo số liệu tổng kết của năm 2001 về đầu tư nước ngoài thì thành phố HCM là địa bàn thu hút được vốn đầu tư nước ngoài cao nhất cả nước là 10,2 tỷ USD. Trong đó các KCN đã có những đóng góp tích cực vào thành công trên

Sau 10 năm phát triển KCN và 5 năm phát triển KCN Tp. HCM đã đạt được những thành tựu quan trọng về việc thu hút. Tính đến ngày 30.4.2002 các KCN Tp. HCM đã thu hút được 617 dự án đầu tư (chỉ tính những dự án đầu tư còn hiệu lực trong đó có 288 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư là 1.254 tỷ USD. Vốn đầu tư bình quân mỗi dự án đầu tư nước ngoài đạt 4,35 triệu USD. Như vậy, so với cùng kỳ năm 2001 vốn đầu tư bình quân mỗi dự án đầu tư nước ngoài tăng 2,6%.

Trong tổng số các dự án đầu tư nước ngoài, riêng 2 khu Tân Thuận và Linh Trung đã thu hút 169 dự án  (chiếm 55,91% số lượng dự án đầu tư nước ngoài với vốn đầu tư là 850 triệu USD chiếm 67,78% tổng số vốn của các dự án đầu tư nước ngoài).

Các ngành thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhiều nhất là ngành dệt may da dày; vốn đầu tư là 270 triệu USD chiếm 28,53% tổng vốn đầu tư của các dự án đầu tư nước ngoài. Ngành điện, điện tử vốn đầu tư 238 triệu USD chiếm 19% tổng vốn đầu tư của các dự án đầu tư nước ngoài.

Riêng trong 4 tháng đầu năm 2002 các KCN Tp. HCM  đã thu hút 54 dự án đầu tư bao gồm 26 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư là 28,33 triệu USD.

Tỷ lệ lấp đầy của các KCN bình quân đạt 66,4%, khu công nghiệp Bình Chiểu chiếm 100%, KCN Linh Trung 1: 100%, KCN Tân Trào 100%, KCN Tân Bình 61%, KCN Vĩnh Lộc 63%, KCN Lê Minh Xuân 68%, KCN Tân Hới Hiệp 98%, KCN Hiệp Phước (giai đoạn1) 57%, KCN Linh Trung 2 70%, KCN Tân Thuận 100%

  1. Đánh giá kết quả thu hút FDI vào các KCN thời gian qua.

2.1. Những thành tựu.

–   Đầu tư nước ngoài đã góp phần bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, tăng cường tiềm lực để khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước. Mặt khác đầu tư nước ngoài cũng đóng góp phần quan trọng vào việc bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai, cán cân thanh toán quốc tế.

–   Tỷ lệ đóng góp của FDI trong GDP liên tục tăng qua các năm.

–    Nguồn thu ngân sách cũng liên tục tăng qua các năm.

–   Kinh ngạch xuất khẩu tăng liên tục qua các năm. Tính đến 31.12.2001 đã có 350 công ty đi vào hoạt động, sản xuất và nhiều hàng hoá có chất lượng tốt xuất khẩu đi trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Tổng kim gạch xuất khẩu từ khi thành lập đến nay đạt trên 3 tỷ USD. Riêng năm 2001 kim gạch xuất khẩu của các KCN thành phố đạt 880 triệu USD. Trong đó 2 khu Tân Thuận và Linh trung đạt doanh số xuất khẩu 812,4 triệu USD, chiếm 95,5 % doanh số xuất khẩu của các KCN thành phố HCM. Mức tăng trưởng xuất khẩu năm 2001 đạt 9,6% so với năm 2000. Riêng trong 3 tháng đầu năm 2002 kim gạch xuất khẩu đạt xấp xỉ 200 triệu USD.

–   Góp phần hình thành một số ngành công nghiệp mới, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế như chế biến dầu khí, sản xuất, lắp ráp ôtô, sản phẩm điện tử.

–   Góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tham gia phát triển nguồn nhân lực.

Giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 100.000 lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp KCX – KCN Tp. HCM và hàng ngàn lao động tham gia phục vụ hoạt động của các KCX – KCN. Trong đó, riêng KCX Linh Trung1 dù diện tích chỉ 62 ha, nhưng đã tạo công ăn việc làm cho hơn 46.000 lao động dẫn đầu về giải quyết công ăn việc làm trong các KCX – KCN trong cả nước.

–   Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH để phát triển lực lượng sản xuất

–   Góp phần quan trọng vào việc hoàn chỉnh ngày càng đầy đủ và tốt hơn hệ thống cơ sỏ hạ tầng đặc biệt là giao thông vận tai, bưu chính viễn thông, năng lượng, …

2.2. Những hạn chế.

–   Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài còn bất hợp lý do đó hiệu quả đầu tư nước ngoài chưa cao.

+) Đầu tư mới chỉ hướng vào những ngành nghề có khả năng mạng lại lợi nhuận nhanh. Số dự án đã đầu tư thì tỷ lệ thành công không nhiều do gặp rủi ro, thiên tai, nguồn nguyên liệu không ổn định. Chủ trương đa phương hoá nguồn vốn đầu tư nước ngoài vì thế chưa được thực hiện tốt.

+) Các khu Công Nghiệp được thành lập mục đích là để cho địa phương mình cũng có KCN chứ chưa xuất phát từ nhu cầu của các nhà đầu tư hoặc có những địa phương không phải là trung tâm kinh tế, không thuận tiện giao thông vận tải vẫn thành lập KCN để chờ các nhà đầu tư nước ngoài mà quên đi các doanh nghiệp trong nước đang gặp khó khăn. Tình trạng phổ biến là hình thành KCN để chờ nhà đầu tư nước ngoài chứ không tìm hiểu chào mời các nhà đầu tư.

+) Vốn đầu từ nước ngoài từ các nước Châu á chiếm gần 70% trong khi vốn từ các nước Tây âu, Bắc Mĩ, G7 trừ Nhật là quá thấp. Chính vì thế khi cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực xảy ra. Việt Nam đã phải chịu ảnh hưởng không tốt từ cuộc khủng hoảng này làm cho tốc độ thu hút vốn đầu tư nước ngoài năm 1997 đến năm 2000 bị giảm đáng kể.

+) Hình thức liên doanh được khuyến khích đầu tư chiếm 50% số dự án và trên 66% tổng số vốn đầu tư đăng kí, nhưng chính doanh nghiệp liên doanh có tỉ lệ lỗ vốn, giải thể nhiều nhất, mâu thuẫn giữa các bên liên doanh khá phổ biến.

– Hệ thống pháp luật, chính sách đang trong quá trình hoàn thiện nên thiếu tính đồng bộ và ổn định chưa đảm bảo tính rõ ràng. Điều này thể hiện ở chổ

+) Tính ổn định của chính sách luật pháp không cao, thay đổi nhiều

Nhiều văn bản dưới luật ban hành chậm so với quy định. Một số văn bản hướng dẫn của Bộ, Ngành, Địa phương có xu hướng xiết lại dẫn đến tình trạng trên thoáng, dưới chặt.

+) Về việc cấp mới và vốn đầu tư thực hiện có xu hướng suy giảm một phần do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực nhưng mặt khác do môi trường đầu tư còn nhiều hạn chế.

+) Công tác quản lý Nhà nước đối với đầu tư nước ngoài còn nhiều yếu kém, vừa buông lỏng, vừa can thiệp sâu vào hoạt động của các doanh nghiệp. Việc quản lý quá tập trung vào khâu cấp phép đầu tư buông lỏng, quản lý sau khi cấp giấy phép. Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước thiếu chặt chẽ. Việc thực thi chính sách pháp luật chưa nghiêm. Thủ tục hành chính rườm rà, hiện tượng tiêu cực gây phiền hà cho nhà đầu tư chậm được cải tiến và chặn đứng

–   Cán bộ làm việc trong các liên doanh hạn chế nhiều mặt: kiến thức chuyên môn yếu, không nắm vững luật pháp là thương trường, không biết ngoại ngữ. Một số cán bộ chưa phát huy được vai trò chủ sở hữu Nhà nước trong liên doanh, thoái hoá biến chất, đứng nghiên về lợi ích của Nhà đầu tư nước ngoài cho nên xảy ra tình trạng đáng tiếc trong mối quan hệ cư xử giữa nhà đầu tư nước ngoài với người lao động Việt Nam. Mặt khác, chất lượng lao động của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư nên dã làm mất thế mạnh về lao động của Việt Nam với nhà đầu tư nước ngoài

CHƯƠNG II:

NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM THU HÚT FDI VÀO CÁC KCN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.

I/ QUAN ĐIỂM THU HÚT FDI VÀO CÁC KCN NÓI CHUNG

  1. Khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp chế biến, các dự án ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, viễn thông, tạo thêm nhiều việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Xây dựng KCN trở thành lực lượng, cộng nghiệp mạnh, có hiệu quả và sức cạnh tranh, phát triển theo hướng ngoại, nâng cao tay nghề công nhân, năm bắt và vận dụng được nhiều thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ, thực hiện bảo vệ môi trường sản xuất, kinh doanh thị trường ngoài KCN

  1. Tiếp tục thu hút FDI vào những địa bàn có nhiều lợi thế để phát huy vai trò động lực của các địa bàn đó.

Tập trung thu hút FDI vào các KCN tập trung đã hình thành theo quy hoạch được phê duyệt

Từ này đến năm 2020 phấn đấu đưa KCN đạt một nữa tổng giá trị sản lượng công nghiệp cả nước đảm bảo tốc độ bình quân hàng năm từ 15% đến 18%

Chuyển dần từ công nghiệp gia công sang công nghiệp chế biến các nguyên liệu trong nước có sẵn và công nghiệp chế tạo nhằm nâng cao giá trị hàm lượng quốc gia của sản phẩm, hạn chế thua thiệt như hội nhập thị trường quốc tế và khu vực.

  1. Khuyến khích các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài từ tất cả các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài có tiềm năng lớn về tài chính và nắm bắt công nghệ nguồn từ các nước công nghiệp phát triển, tiếp tục thu hút các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài ở khu vực. Có kế hoạch vận động các tập đoàn, công ty lớn đầu tư vào Việt Nam. Đồng thời, chú ý đến các công ty có quy mô vừa và nhỏ, nhưng công nghệ hiện đại, khuyến khích, tạo thuận lợi cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước.

II. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THU HÚT FDI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.

  1. NHỮNG GIẢI PHÁP CỦA BẢN THÂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP.

1.1.   Quy hoạch tổng thể các khu và hoạt động sản xuất cho mỗi khu một cách hợp lý.

–   Ban quản lý các khu công nghiệp tham gia cùng các ngành chức năng xây dựng quy hoạch tổng thể các khu và hoạt động sản xuất của khu một cách hợp lý.

–   Xem xét đánh giá lại quy hoạch chi tiết trong từng khu công nghiệp (so với thực tế) đặc biệt là chú ý quy hoạch bố trí ngành nghề.

1.2.   Phát triển cơ sở hạ tầng khu công nghiệp.

Trước mắt cần tập trung các nguồn lực đẩy nhanh tốc độ xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng bên trong các khu công nghiệp hiện có . Theo kinh nghiệm của Trung Quốc cần có chính sách khuyến khích đặc biệt (về giá cả, dịch vụ, thuế) đối với các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài. Đầu tư phát triển mới hệ thống cơ sở hạ tầng ở các khu công nghiệp.

Kiến nghị UBND TP. Hồ Chí Minh nhanh chóng triển khai các công trình hạ tầng bên ngoài gắn liền với các khu công nghiệp như: Đường, cầu, giao thông …

Đề nghị Trung ương cho phép TP. Hồ Chí Minh giữ lại 50 – 60% các nguồn thu trong các khu công nghiệp để sử dụng xây dựng phát triển hạ tầng bên ngoài các khu công nghiệp.

Ban quản lý khu công nghiệp cần theo dõi chặt chẽ quá trình và chất lượng xây dựng các công trình kết cấu cơ sở hạ tầng đồng thời sớm có tiêu chuẩn, quy phạm xây dựng đối với các công trình cơ sở hạ tầng khu công nghiệp.

1.3.   Đẩy mạnh công tác xúc tiến vận động đầu tư.

Sớm thành lập Website về khu công nghiệp TP. Hồ Chí Minh trên mạng Internet nhằm tăng cường khả năng vận động khuyến khích đầu tư và đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về hoạt động của các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố.

Kiến nghị UBND Thành Phố chủ động thành lập các bộ phận chuyên trách đảm nhận công việc xúc tiến đầu tư ở nước ngoài nhằm chủ động đa phương hoá các đối tác đầu tư nước ngoài. Ngoài các thị trường ở Châu á cần nghiên cứu kỹ lưỡng đối tác đầu tư ở Tây Âu, Bắc Âu, Mỹ nhằm tranh thủ về công nghệ, kỹ thuật hiện đại để nâng cao khả năng cạnh tranh.

Ưu tiên cho các dự án vừa và nhỏ nhưng có công nghệ hiện đại. Mạnh dạn khuyến khích đầu tư nước ngoài đối với các sản phẩm dịch vụ mà Việt Nam nhận được.

Ngoài ra một điểm rất đáng quan tâm là chính sự thành công của các nhà doanh nghiệp nước ngoài đang tiến hành hoạt động kinh doanh tại Việt Nam có tác động rất quan trọng đối với việc tuyên truyền vận động thu hút đầu tư tại nước ngoài. Điều trước tiên và thiết thực nhất là cần phải đảm bảo môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn để các nhà đầu tư hoạt động có hiệu quả.

Bên cạnh đó chúng ta cần tăng cường chủ động trong hoạt động vận động thu hút đầu tư. Sớm xây dựng chương trình xúc tiến đầu tư cho các khu công nghiệp và xác định rõ thị trường tiềm năng để từ đó có các giải pháp thích hợp. Đồng thời đề nghị và phối hợp với chính phủ thường xuyên tổ chức hội thảo chuyên đề, xúc tiến vận động đầu tư ở nước ngoài.

1.4.   Hoàn thiện chế độ quản lý một cửa.

Một yếu tố cực kỳ quan trọng đối với các khu công nghiệp là cơ chế một cửa, đây là cơ chế cho phép tinh giản tối đa các thủ tục mà nhà đầu tư phải thực hiện. Để tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý một cửa. Chính phủ, các bộ ngành hữu quan cần phải quan tâm giải quyết các vấn đề sau:

–   Cần “pháp lý hoá” cơ chế quản lý “một cửa“.

–   Tiếp tục thực hiện quy định đã có của chính phủ nêu tại quy chế khu công nghiệp – khu chế xuất.

–   Đề nghị bộ tài chính uỷ quyền cho ban quản lý các khu công nghiệp thực hiện ra các văn bản chấp thuận về một số vấn đề liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời uỷ quyền cho ban quản lý thực hiện việc quản lý tài chính đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp.

–   Kiến nghị bộ lao động thương binh xã hội sớm cải thiện thủ tục cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài.

–   Xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn ISO 9002 đối với các dịch vụ hành chính công nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của ban quản lý. Thiết lập hệ thống mạng đối với các khu công nghiệp và ban quản lý nhằm kịp  thời trao đổi các thông tin cung cấp văn bản pháp quy, nhu cầu mua hàng, nhu cầu tuyển dụng lao động, báo cáo định kỳ, khai báo hải quan, trả lời các thắc mắc của các doanh nghiệp.

Trong tương lai TP. Hồ Chí Minh có thể phát triển đa dạng hơn các loại hình bất động sản công nghiệp. Khu phát triển kinh tế và kỹ thuật hay đặc khu kinh tế như các nước đã làm.

  1. NHỮNG GIẢI PHÁP CỦA NHÀ NƯỚC.

2.1.   Xây dựng danh mục dự án kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài.

  1. Xây dựng danh mục dự án quốc gia kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài thời kỳ 2001 – 2005 và công bố trong năm 2001, làm cơ sở cho việc vận động xúc tiến đầu tư. Các dự án khi được lựa chọn dựa vào danh mục này phải có sự thống nhất trước về chủ trương và quy hoạch và được bố trí vốn làm dự án tiền khả thi . Các Bộ, ngành, địa phương chủ động xây dựng và công bố danh mục dự án kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài của ngành, địa phương mình sau khi thống nhất với Bộ kế hoạch và đầu tư.
  2. Các Bộ, ngành xây dựng và điều chỉnh quy hoạch ngành và các sản phẩm chủ yếu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001– 2010 và Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 2001 – 2005; xác định rõ nhu cầu về từng loại nguồn vốn trong đó có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để đạt được mục tiêu , sản phẩm đặt ra trong kế hoạch.

2.2.   Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách về đầu tư trực tiếp nước ngoài.

  1. Tiếp tục nghiên cứu xây dựng, điều chỉnh, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài phát triển theo đúng định hướng của Chiến lược Phát triển kinh tế – xã hội và phù hợp với yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
  2. Nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện văn bản pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng:

–   Thiết lập một mặt bằng pháp lí chung áp dụng cho cả đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm tạo môi trường ổn định, bình đẳng cho sản xuất và kinh doanh; đồng thời áp dụng một số quy định về điều kiện đầu tư và ưu đãi phù hợp với từng đối tượng, lĩnh vực trong từng thời kỳ.

–   Đa dạng hoá các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài để khai thác thêm các kênh thu hút đầu tư mới; nghiên cứu và thực hiện các hình thức thí điểm đầu tư như công ty hợp danh, công ty quản lí vốn; sửa đổi, bổ sung Nghị định số 103/1999/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 1999 của Chính phủ về giao, bán, khoán, ngoài mua, nhận khoán kinh doanh, quản lý, thuê các doanh nghiệp trong nước, nghiên cứu mô hình kinh tế mở.

–   Mở rộng lĩnh vực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài phù hợp với cam kết trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Từng bước mở thị trường bất động sản cho người Việt Nam định cư nước ngoài và nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài tham gia đầu tư tại Việt Nam; xây dựng cơ chế để doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài được xây dựng, kinh doanh nhà và xây dựng, kinh doanh phát triển khu đô thị mới; khuyến khích đầu tư trong các lĩnh vực dịch vụ khoa học, công nghệ dịch vụ thông tin, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực; từng bước mở rộng khả năng hợp tác đầu tư trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, du lịch.

Trong năm 2001 cần thực hiện một số công việc cấp bách sau:

– Xây dựng Đề án mở rộng lĩnh vực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên cơ sở tổng kết, đánh giá những lĩnh vực đã cho phép đầu tư trực tiếp nước ngoài làm thí điểm, những lĩnh vực mà trong thời gian qua có chủ trương không cấp giấy phép hoặc hạn chế cấp giấy phép đầu tư; điều chỉnh danh mục các sản phẩm phải đảm bảo tỉ lệ xuất khẩu ít nhất 80%.

Căn cứ đề án trên và các quy định hiện hành, nhà nước đầu tư được chủ động lựa chọn dự án đầu tư theo đúng quy định tại điều 3, Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Các cơ quan quản lý nhà nước không được tự ý đặt ra bất cứ hạn chế nào khác đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài.

– Xây dựng Quy chế thực hiện thí điểm việc chuyển đổi doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này được đăng ký tại thị trường chứng khoán.

– Nghiên cứu sửa đổi các quy định cụ thể về thời hạn đàm phán dự án BOT trong một số trường hợp cần thiết.

–   Ban hành các quy định về việc cho phép nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài được đầu tư vào dịch vụ nhập khẩu, dịch vụ phân phối trong nước theo tinh thần nghị định số 24/2000NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2000 của Chính phủ. Thu hẹp danh mục hàng hoá không thuộc đối tượng doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài mua để xuất khẩu.

–   Nghiên cứu bổ sung sửa đổi nghị định số 60/CP của Chính phủ ngày 05 tháng 7 năm 1994 về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị và Nghị định số 61/CP ngày 15 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở phù hợp với quy định của bộ luật dân sự và luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật đất đai ; ban hành Nghị định của Chính phủ quy định cụ thể người Việt Nam định cư ở nước ngoài có dự án đầu tư và thường  trú ở Việt Nam được mua nhà ở.

  1. Tiếp tục thực hiện lộ trình giảm chi phí đầu tư và tiến tới chế độ một giá bán áp dụng thống nhất cho đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài theo Quyết định số 53/1999/QĐ-TTG ngày 26 tháng 3 năm 1999 của Thủ tướng chính phủ.

Trong năm 2001, thống nhất áp dụng phí đăng kiểm phương tiện cơ giới, phí cảng biển, phí quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, phí thăm quan các di tích văn hóa, lịch sử, cách mạng.

Hoàn thành trước tháng 6 năm 2002 việc hoàn trả các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài số vốn hợp thức, thực tế mà các doanh nghiệp này đã bỏ ra để xây dựng các công trình điện ngoải hàng rào.

  1. Đổi mới và hoàn thiện chính sách tiền tệ liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng tiếp tục giảm dần, tiến tới xoá bỏ việc bắt buộc kết hối ngoại tệ khi có đủ điều kiện . Sử dụng linh hoạt có hiệu quả các công cụ, chính sách tiền tệ như tỉ giá , lãi suất theo các nguyên tắc của thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước.

Trong năm 2001, ban hành chính sách khuyến khích hoạt động của các quỹ đầu tư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam; sớm áp dụng quy định về việc kê khai nộp thuế, kết thúc năm tài chính căn cứ vào kết quả kiểm toán độc lập để quyết toán thuế; cơ quan thuế chỉ kiểm tra lại một trong các trường hợp cần thiết.

  1. Giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc về đất đai , giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ triển khai  dự án . Thí điểm việc cho phép tư nhân trong nước đã được cấp quyền sử dụng lâu dài được cho nhà  đầu tư trực tiếp nước ngoài thuê lại đất trong thời gian được cấp quyền sử dụng đất.

Nghiên cưú chính sách giải quyết yêu cầu của doanh nghiệp nước ngoài đầu tư thực hiện dự án lớn ở Việt Nam cần thế chấp giá trị quyền sử dụng đất đã được giao hoặc cho thuê dài hạn để vay vốn của các tổ chức tín dụng hoạt động ở nước ngoài trong trường hợp các tổ chức tín dụng Việt Nam không có khả năng đáp ứng nhu cầu vốn.

Trong năm 2001, cần thực hiện các vấn đề cấp bách sau:

–   Đẩy nhanh tiến độ đền bù, giải phóng mặt bằng, tạo thuận lợi cho việc triển khai các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài. Uỷ ban nhân dân địa phương kiên quyết tổ chức cưỡng chế thực hiện giải phóng mặt bằng các trường hợp đã đối xử theo đúng theo đúng chính sách và quy định của nhà nước nhưng vẫn không chấp hành.

–   Ban hành văn bản hướng dẫn về việc cấp chứng nhận quyền sử dụng đất cho các doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp, khu chế xuất…

–   Ban hành văn bản hướng dẫn việc xử lí trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên đối với đất góp vốn vào liên doanh trong trường hợp doanh nghiệp chuyển đổi hình thức đầu tư bị phá sản hoặc giải thể trước thời hạn.

2.3.   Nâng cao hiệu quả quản lí của nhà nước.

  1. Các cơ quan cấp Giấy phép đầu tư phải thường xuyên rà soát , phân loại các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được cấp Giấy phép đầu tư để có những biện pháp thích hợp , kịp thời tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài .

Đối với các doanh nghiệp đã đi vào sản xuất , kinh doanh , các Bộ , ngành và uỷ ban nhân dân cấp tỉnh , trong phạm vi thẩm quyền của mình , cần động viên khen thưởng kịp thời để khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động tốt tiếp tục phát triển , đồng thời cần có biện pháp thích hợp để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp , đặc biệt là các vấn đề liên quan đến thị trường tiêu thụ sản phẩm , các nghĩa vụ thuế.

Đối với các dự án đang triển khai thực hiện , các Bộ , các ngành và uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tích cực hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn , nhất là trong khâu đền bù , giải phóng mặt bằng để nhanh chóng hoàn thành xây dựng cơ bản , đưa doanh nghiệp vào sản xuất kinh doanh.

Đối với các dự án chưa triển khai , song xét thấy vẫn có khả năng thực hiện , cần thúc đẩy việc triển khai trong một khoảng thời gian nhất định và giải quyết các vướng mắc , kể cả việc điều chỉnh mục tiêu và quy mô hoạt động của dự án.

Đối với  các dự án chưa triển khai và không có triển vọng thực hiện , kiên quyết thu hồi giấy phép đầu tư , giành địa điểm cho nhà đầu tư khác.

Trong quý I năm 2001, Thủ tướng Chính phủ sẽ xem xét kết quả bước đầu việc rà soát , xử lí các dự án đầu tư nước ngoài đã được cấp phép đầu tư.

  1. Kiểm soát chặt chẽ việc thành lập mới các khu công nghiệp ( KCN ) và đánh giá tình hình triển khai các KCN đã có quyết định thành lập ; Bộ kế hoạch và đầu tư trình Thủ tướng chính phủ trong tháng 10 năm 2001 phương án dừng hoặc dãn tiến độ xây dựng đối với các khu công nghiệp không đủ tính khả thi.

Trong năm 2001 , bổ sung , sửa đổi quy chế các khu công nghiệp, khu chế xuất . khu công nghệ cao ban hành kèm theo nghị định số 36CP ngày 24 tháng 4 năm 1997 của Chính phủ theo hướng : thu hẹp khoảng cách và tiến tới thống nhất cơ chế chính sách đối với đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài trong khu công nghiệp ; bổ sung các mô hình về khu công nghiệp nhỏ phục vụ cho việc phát triển ngành nghề ở nông thôn và chỉnh trang đô thị ;  điều chỉnh cơ chế chính sách đầu tư phát triển hạ tầng trong và ngoài hàng rào ; tách việc cho thuê đất nguyên thổ và kinh doanh hạ tầng.

  1. Tiếp tục thực hiện chủ trương phân cấp quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài cho uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc tập trung thống nhất quản lý quy hoạch, cơ cấu, chính sách và cơ chế, trong đó chú trọng phân cấp quản lý nhà nước đối với các hoạt động sau giấy phép của các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tăng cường sự hướng dẫn, kiểm tra của các Bộ, ngành, Trung ương. Có cơ chế xử lí nghiêm khắc các trường hợp vi phạm luật pháp, chính sách, quy hoạch việc thực hiện chủ trương phân cấp quản lí của nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài, kể cả việc chấm dứt hiệu lực của các Giấy phép đầu tư cấp sai quy định.

2.4.   Cải tiến các thủ tục hành chính.

Đẩy mạnh cải cách hành chính liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nghiên cưú xây dựng cơ chế quản lý và các tổ chức quản lí theo hướng một cửa, một đầu mối ở Trung ương và ở địa phương để tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Để tạo bước chuyển căn bản về thủ tục hành chính trong năm 2001 cần thực hiện các giải pháp sau:

–   Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương trong quản lí hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ quan trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh, thực hiện chế độ giao ban định kỳ giữa các Bộ, ngành Trung ương với các địa phương có nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, duy trì thường xuyên việc tiếp xúc trực tiếp giữa các cơ quan quản lí nhà nước với nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài.

–   Cải tiến các thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoải theo hướng tiếp tục đơn giản hoá việc cấp phép đầu tư, mở rộng phạm vi các dự án thuộc diện đăng ký cấp phép đầu tư. Lập tổ công tác liên ngành do Bộ kế hoạch đầu tư chủ trì để rà soát có hệ thống tất cả các loại giấy phép, các quy định liên quan đến việc hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên cơ sở có kiến nghị bãi bỏ các loại giấy phép, quy định không cần thiết đối với hoạt động đầu tư nước ngoài.

–   Các Bộ, ngành, địa phương quy định rõ ràng công khai các thủ tục hành chính, đơn giản hoá và giảm bớt các thủ tục không cần thiết, kiên quyết sử lí nghiêm khắc các trường hợp sách nhiễu, cửa quyền tiêu cực và vô trách nhiệm của cán bộ công quyền.

2.5.   Đẩy mạnh vận động xúc tiến đầu tư.

  1. Đổi mới nội dung và phương thức vận động , xúc tiến đầu tư, triển khai các chương trình xúc tiến theo ngành, lĩnh vực, địa bàn với các dự án và các đối tác cụ thể, hướng vào các đối tác nước ngoài có tiềm lực về tài chính và công nghệ nguồn căn cứ vào danh mục dự án quốc gia kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài, chuẩn bị kỹ một số dự án đầu tư quan trọng, lựa chọn, mời một vài tập đoàn lớn trong ngành, lĩnh vực đó vào để đàm phán, tham gia đầu tư vào các dự án.
  2. Chú trọng cả xúc tiến đầu tư để thu hút các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài mới và các hoạt động hỗ trợ các nhà đầu tư để triển khai hiệu quả các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài hoạt động thuận lợi. Biểu dương, khen thưởng kịp thời các doanh nghiệp, nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài có thành tích suất sắc trong kinh doanh, có đóng góp thiết thực vào xây dựng đất nước. Đồng thời phê phán, xử lí nghiêm các trường hợp vi phạm luật pháp Việt Nam.

–   Đa dạng hoá các hoạt động xúc tiến đầu tư thông qua các hoạt động đối ngoại của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các diễn đàn quốc tế các hoạt động hợp tác xúc tiến đầu tư trong khuôn khổ hợp tác AIA, ASEAN, ASEM , các cuộc hội thảo về đầu tư trong và ngoài nước, sử dụng tổng hợp các phương tiện xúc tiến đầu tư qua truyền thông đại chúng , qua mạng Internet, xúc tiến trực tiếp…

–   Đẩy mạnh việc tuyên truyền giới thiệu về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài để tạo hình ảnh mơí về Việt Nam, tạo sự đánh giá thống nhất về đầu tư nước ngoài trong dư luận xã hội.

–   Các cơ quan đại diện ngoại giao – thương mại Việt Nam có trách nhiệm làm tốt việc đầu tư vào Việt Nam, bố trí cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư ở một số địa bàn trọng điểm. Tăng cường cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư ở các Bộ, ngành, địa phương.

–   Bố trí nguồn tài chính cho hoạt động xúc tiến đầu tư trong kinh phí ngân sách chi thường xuyên hàng năm của các Bộ, ngành, địa phương.

–   Tăng cường công tác nghiên cứu tình hình kinh tế, thị trường đầu tư, chính sách đầu tư ra nước ngoài của các nước, tập đoàn và công ty lớn để có chính sách thu hút đầu tư phù hợp, nghiên cứu luật pháp, chính sách, biện pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước trong khu vực để kịp thời có đối sách thích hợp .

–   Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thông tin về đầu tư trực tiếp nước ngoài làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, quản lí các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài mở rộng tuyên truyền đối ngoại nước ngoài trên cơ sở thông tin hiện đại. Xây dựng và dựa vào hoạt động trang Web về đầu tư trực tiếp nước ngoài để phục vụ cho việc cung cấp thông tin cập nhật về chủ trương, chính sách pháp luật về đầu tư, giới thiệu các dự án kêu gọi đầu tư, biểu dương những dự án thành công …

2.6.   Công tác cán bộ đào tạo

Chú trọng tăng cường công tác cán bộ và đào tạo cán bộ, công nhân kỹ thuật làm việc trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong năm 2001 phải hoàn thành các đề án sau:

–   Xây dựng quy chế cán bộ Việt Nam tham gia hội đồng quản trị và quản lí doanh nghiệp liên doanh, quy định tiêu chuẩn tuyển chọn về chính trị, chuyên môn và nghiệp vụ trách nhiệm, nghĩa vụ và trách nhiệm của cán bộ làm việc tại công ty đầu tư trực tiếp nước ngoài.

–   Xây dựng đề án tổ chức đào tạo theo nhiều hình thức đối với các cán bộ làm công tác đầu tư trực tiếp nước ngoài , tổ chức thường xuyên việc tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ luật pháp cho cán bộ Việt Nam hiện nay đang làm việc tại các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài .

–   Xây dựng đề án tổ chức đào tạo công nhân lành nghề làm việc cho các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài, trước hết là phục vụ cho các khu công nghiệp lớn.

KẾT LUẬN

Tóm lại, thực tiễn trong hơn 10 năm qua FDI đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện những mục tiêu kinh tế, xã hội theo xu hướng đổi mới, mở cửa và hội nhập của TP. Hồ Chí Minh.

Việc thu hút vốn FDI vào các khu công nghiệp TP. Hồ Chí Minh đã đạt được những kết quả đáng kể góp phần vào sự phát triển của các khu công nghiệp từ đó thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của kinh tế TP. Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được về việc thu hút FDI vào các khu công nghiệp thì vẫn tồn tại những hạn chế cần phải được khắc phục để tăng nhanh hơn nữa tốc độ phát triển của kinh tế TP. Hồ Chí Minh xứng đáng với tiềm năng thành phố là trung tâm kinh tế của cả nước.


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

============ c ø d =============

ĐỀ ÁN MÔN HỌC

KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP

Đề tài: Một số giải pháp nhằm thu hút FDI vào các KCN trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

 

Sinh viên thực hiện: Trần Việt Thắng

Khoa: Quản Trị Kinh Doanh

Lớp: Công Nghiệp 42B

Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Tứ

 

– HÀ NỘI, THÁNG 5/2003 –

MỤC LỤC

Lời mở đầu………………………………………………………………………………….. 1

Chương I. Thực trạng về đầu tư trực tiếp nước ngoài trong các KCN trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua…………………………………………………….. 2

I. Đầu tư trực tiếp nước ngoài và vai trò của nó đối với sự phát triển của các KCN nói chung…………………………………………………………………………………………………… 2

1. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và hình thức của nó trong thực tiễn…. 2

1.1. Khái niệm về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài………………………………. 2

1.2. Các hình thức của FDI trong thực tiễn………………………………………… 3

2. Vai trò của FDI đối với sự phát triển của các KCN nói chung………….. 6

3. Kinh nghiệm của một số nước trong việc thu hút FDI……………………… 8

3.1. Kinh nghiệm của Đài Loan……………………………………………………….. 8

3.2. Kinh nghiệm ở Trung Quốc………………………………………………………. 9

II. Thực trạng thu hút FDI trong các KCN trên địa bàn thành phố HCM thời

gian qua……………………………………………………………………………………… 11

1. Tình hình thu hút FDI trong các KCN thời gian qua……………………… 11

2. Đánh giá kết quả thu hút FDI vào các KCN thời gian qua……………… 12

2.1. Những thành tựu……………………………………………………………………. 12

2.2. Những hạn chế……………………………………………………………………… 13

Chương II. Những giải pháp nhằm thu hút FDI vào các KCN trên địa bàn thành phố HCM…………………………………………………………………………………………. 15

I. Quan điểm thu hút FDI vào các KCN nói chung……………………………. 15

II. Các giải pháp nhằm thu hút FDI vào các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố HCM  16

1. Những giải pháp của bản thân của khu công ngihệp……………………… 16

1.1. Quy hoạch tổng thể các khu và hoạt động sản xuất cho mỗi khu một cách

hợp lý…………………………………………………………………………………………. 16

1.2. Phát triển cơ sở hạ tầng khu công nghiệp………………………………….. 17

1.3. Đẩy mạnh công tác xúc tiến vận động đầu tư…………………………….. 17

1.4. Hoàn thiện chế độ quản lý một cửa…………………………………………… 18

2. Những giải pháp của Nhà nước………………………………………………….. 19

2.1. Xây dựng danh mục dự án kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài…….. 19

2.2. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách về đầu tư trực tiếp nước ngoài…………………………………………………………………………………………………. 19

2.3. Nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước…………………………………. 23

2.4. Cải tiến các thủ tục hành chính………………………………………………… 25

2.5. Đẩy mạnh vận động xúc tiến đầu tư………………………………………….. 25

2.6. Công tác cán bộ đào tạo………………………………………………………… 27

Kết luận…………………………………………………………………………………….. 28

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

          1. Th.S. Vương Đức Tuấn

Đầu tư trực tiếp nước ngoài với sự phát triển kinh tế của nước ta hiện nay

TCKTPT số 65 – 2002

2. Th.S. Lê Ngọc Mỹ

Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam thành tựu và hạn chế

TCKTPT số 43 – 2001

3. TS. Đỗ Đức Bình

Đầu tư trực tiếp nước ngoài và Trung Quốc thực trạng và một số bài học kinh nghiệm

TCKTPT số 48 – 2001

4. Ngô Thế Bắc – KCX – KCN ở Việt Nam hiện nay

TCKTPT số 3 -2001

5. TS. Trần Hoàn Ngân, Th. S. Trần Công Kha

Chiến lược phát triển các khu chế xuất khu công nghiệp tại thành phố HCM

TCPTKT số tháng 6 -2002

6. Nguyễn Chân Chung

KCX – KCN sẽ là đòn bẩy đưa kinh tế thành phố HCM phát triển báo thương mại số 8 – 2000

7. Trần ngọc Hưng hoàn thành chính sách thu hút đầu tư phát triển KCN ở Việt Nam

TCKT và dự báo số 3 -2001

8. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố HCM

Trần Ngọc Hiệp

TCPTKT số 130 -2001

9. Nghị quyết của Chính phủ só 09/2001/NQ – CP ngày 28 tháng năm 2001 về tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài thời kỳ 2001 -2005

10. Giáo trình lập dự án – Đại học  Kinh tế Quốc dân

11.Giáo trình kinh doanh quốc tế – Đại học Kinh tế Quốc dân

CÁC TỪ VIẾT TẮT

Khu công nghiệp – khu  chế xuất: KCN – KCX

Thành phố Hồ Chí Minh: TPHCM

Đầu tư trực tiếp nước ngoài: FDI

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s