Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Giang


LỜI NÓI ĐẦU

Bắc Giang là một tỉnh miền núi, địa hình phức tạp , gồm nhiều huyện vùng cao. Khi bước vào thực hiện công cuộc đổi mới, Bắc Giang gặp không ít khó khăn cả về địa hình, khí hậu và điểm xuất kinh tế chủ yếu là thuần nông. Trong những năm qua, với quyết tâm cao Bắc Giang đã từng bước chuyển tư nền kinh tế thuần nông tự cấp tự túc sang nền kinh tế sản xuất hàng hoá và thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH.

Nhìn lại 10 năm đổi mới, kinh tế Bắc Giang liên tục phát triển, GDP tăng đều qua các năm, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm đáng kể, cơ sở hạ tầng phát triển.

Một trong những yếu tố góp phần làm nên sự thành công của Bắc Giang đó chính là hoạt động đầu tư. Sự nỗ lực của tỉnh trong việc gia tăng đầu tư đã đem lại cho kinh tế Bắc Giang những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, bên cạnh đó hoạt động đầu tư của tỉnh trong những năm qua còn tồn tại nhiều khó khăn bất cập cần phải được khắc phục như: đầu tư toàn xã hội còn thấp, hiệu quả và chất lượng đầu tư một số ngành còn chưa cao, sức cạnh tranh còn yếu, cơ cấu đầu tư chuyển dịch chậm chưa phát huy lợi thế so sánh của từng ngành, từng vùng, năng lực sản xuất và kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Chính vì vậy, việc nâng cao hiệu quả đầu tư, đầy mạnh đầu tư trên địa bàn tỉnh trong những năm tới là vấn đề nổi cộm cần được quan tâm hàng đầu. Vì lý do này, chuyên đề “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Giang” được hoàn thành với mong muốn đóng góp một phần vào việc giải quyết vấn đề trên.

Hoạt động đầu tư giác độ vĩ mô bao gồm nhiều vấn đề cần nghiên cứu như công tác kế hoạch hoá hoạt động đầu tư, thẩm định dự án, quản lý dự án đầu tư. Nhưng trong khuôn khổ có hạn của một chuyên đề thực tập, cũng như hạn chế trong việc thu thập tài liệu có liên quan nên đề tài dừng lại ở mức độ khảo sát và đánh giá hoạt động đầu tư của tỉnh trên một số khía cạnh.

Qua bài viết này, em xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn Thu Hà, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình làm chuyên đề.

Tuy đã có có gắng nhưng do hạn chế về kinh nghiệm thực tế và phương pháp nghiên cứu nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, các cô chú cùng toàn thể các bạn để tôi có thể học tập thêm những kiến thức bổ ích nhằm nâng cao chất lượng của đề tài.

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ

VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ

 

I. KHÁI NIỆM VỀ ĐẦU TƯ VÀ VỐN ĐẦU TƯ

1.khái niệm về đầu tư

Thuật ngữ “đầu tư” có thể được hiểu đồng nghĩa với “sự bỏ ra”, “sự hy sinh”. Từ đó, có thể coi “đầu tư”là sự bỏ ra, sự hy sinh những cái gì đó ở hiện tại ( tiền, sức lao động, của cải vật chất, trí tuệ ) nhằm đạt được những kết quả có lợi cho người đầu tư trong tương lai.

Theo cach hiểu chung nhất, có thể định nghĩa : Đầu tư là việc xuất vốn hoạt động nhằm thu lợi. Theo định nghĩa này mục tiêu là các lợi ích mà nhà đầu tư mong muốn mà phương tiện của họ là vốn đầu tư xuất ra.

Các loại đầu tư:

–         Đầu tư tài chính: là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước ( gửi tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

–         Đầu tư thương mại: là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá trị để hưởng lãi suất định trước ( gửi tiền tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát hành. Đầu tư tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư.

–         Đầu tư thương mại: là loại đầu tư trong đó nguời có tiền bỏ tiền ra để mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và khi bán. Loại đầu tư này cũng không tạo tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến ngoại thương ), mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa người bán và người đầu tư với khách hàng của họ.

–         Đầu tư tài sản vật chất và sức lao động: người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra  tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội. Đó chính là việc bỏ tiền ra xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ và bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang hoạt động và tạo tiềm lực mơi cho nền kinh tế xã hội.

2. Khái niệm về vốn đầu tư

    Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác nhau như liên doanh, liên kết hoặc tài trợ của nước ngoài… nhằm để : tái sản xuất, các tài sản cố định  để duy trì hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, để đổi mới và bổ sung các cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, cho các ngành hoặc các cơ sở kinh doanh dịch vụ, cũng như thực hiện các chi phí cần thiết tạo điều kiện cho sự bắt đầu hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật mới được bổ sugn hoặc mới được đổi mới.

3. Đặc điểm về vốn đầu tư

    Thứ nhất, đầu tư được coi là yếu tố khởi đầu cơ bản của sự phát triển và sinh lời. Tuy nhiên, có nhiều yếu tố tạo nên tăng trưởng và sinh lời, trong đó có yếu tố đầu tư. Nhưng để bắt đầu một quá trình sản xuất hoặc tái mở rộng quá trình này, trước hết phải có vốn đầu tư. Nhờ sự chuyển hoá vốn đầu tư thành vốn kinh doanh tiến hành hoạt động, từ đó tăng trưởng và sinh lời. Trong các yếu tố tạo ra sự tăng trưởng và sinh lời này vốn đầu tư được coi là một trong những yêú tố cơ bản. Đặc điểm này không chỉ nói lên vai trò quan trọng của đầu tư trong việc phát triển kinh tế mà còn chỉ ra động lực quan trọng kích thích các nhà đầu tư nhằm mục đích sinh lời. Tuy nhiên, động lực này thường vấp phải những lực cản bởi một số đặc điểm khác.

    Thứ hai, đầu tư đỏi hỏi một khối lượng vốn lớn, khối lượng vốn đầu tư lớn thường là tất yếu khách quan nhằm tạo ra những điều kiện vật chất kỹ thuật cần thiết đảm bảo cho tăng trưởng và phát triển kinh tế như: Xây dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng, xây dựng các cơ sở công nghiệp luyện kim, chế tạo máy, công nghiệp hoá dầu, công nghiệp lương thực thực phẩm, ngành điện năng…

   Vì sử dụng một khối lượng vốn khổng lồ, nên nếu sử dụng vốn kém hiệu quả sẽ gây nhiều phương hại đến sự phát triển kinh tế xã hội. Đặc biệt, sử dụng vốn đầu tư nước ngoài với khối lượng vốn lớn và kém hiệu quả thì gánh nợ nước ngoài ngày càng chồng chất vì không có khả năng trả nợ, tình hình tài chính khó khăn sẽ dẫn đến khủng hoảng tài chính tiền tệ. Các cơn lốc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Mêhicô và các nươc Đông nam á vừa qua là những điển hình về tình trạng này.

    Thứ ba, quá trình đầu tư XDCB phải trải qua một quá trình lao động rất dài mới có thể đưa vào sử dụng được, thời gian hoàn vốn vì sản phẩm XDCB mang tính đặc biệt và tổng hợp. Sản xuất không theo một dây truyền hàng loạt mà mỗi công trình, dự án có kiểu cách, tính chất khác nhau lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố điều kiện tự nhiên, địa điểm hoạt động thay đổi liên tục và phân tán, thời gian khai thác và sử dụng thường là 10 năm, 20 năm, 50 năm hoặc lâu hơn tuỳ thuộc vào tính chất dự án.

   Quá trình đầu tư thường gồm ba giai đoạn: Xây dựng dự án, thực hiện dự án và khai thác dự án.

–         Giai đoạn xây dựng dự án, giai đoạn thực hiện dự án là giai đoạn tất yếu, những giai đoạn này lại kéo dài mà không tạo ra sản phẩm. Đây chính là nguyên nhân của công thức “Đầu tư mâu thuẫn với tiêu dùng”, vì vậy, có nhà kinh tế cho rằng đầu tư la quá trình làm bất động hoá một số vốn nhằm thu lợi nhuận trong nhiều thời kỳ nối tiếp sau này, cho nên muốn nâng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cần chú ý tập trung các điều kiện đầu tư có trọng điểm nhằm đưa nhanh dự án vào khai thác.

–         Khi xét hiệu quả đầu tư cần quan tâm xem xét toàn ba giai đoạn của quá trình đầu tư, tránh tình trạng thiên lệch, chỉ tập trung vào giai đoạn thực hiện dự án mà không chú ý vào cả thời gian khai thác dự án.

–         Do chú ý sản xuất kéo dài nên việc hoàn vốn được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm, phải lựa chọn trình tự bỏ vốn thích hợp để giảm mức tối đa thiệt hại do ứ đọng vốn ở sản phẩm dở dang, việc coi trọng hiệu quả  kinh tế do đầu tư mang lại là rất cần thiết nên phải có các phương án lựa chọn tối ưu, đảm bảo trình tự XDCB. Thời gian hoàn vốn là một chỉ tiêu rất quan trọng trong việc đo lường và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.

   Thứ tư, đầu tư là một lĩnh vực có rủi ro lớn. Rủi ro, trong lĩnh vực đầu tư XDCB chủ yếu do thơi gian của quá trình đầu tư kéo dài. Trong thời gian này, các yếu tố kinh tế, chính trị và cả tự nhiên ảnh hưỏng sẽ gây nên những tổn thất mà cá nhà đầu tư không lường định hết khi lập dự án. Các yếu tố được đầu tư. Sự thay đổi chính sách như quốc hữu hoá các cơ sở sản xuất, thay đổi chính sách thuế, mức lãi suất, sự thay đổi thị trường, thay đổi nhu cầu sản phẩm cũng có thể gây nên thiệt hại cho các nhà đầu tư, tránh được hoặc hạn chế rủi ro sẽ thu được những món lời lớn, và đây là niềm hy vọng kích thích các nhà đầu tư. Chính xét trên phương diện này mà Samuelson cho rằng: đầu tư là sự đánh bạc về tương lai vơi hy vọng thu nhập của quá trình đầu tư sẽ lớn hơn chi phí của quá trình này. Đặc điểm chỉ ra rằng, nếu muốn khuyến khích đầu tư cần phải quan tâm đến lợi ích của các nhà đầu tư. Lợi ích mà các nhà đầu tư quan tâm nhất là hoàn đủ vốn đầu tư của họ và lợi nhuận tối đa thu được nhờ hạn chế hoặc tránh rủi ro. Do đó họ mong muốn hoàn vốn nhanh và có lãi. Vì vậy, các chính sách khuyến khích đầu tư cần quan tâm đến những ưu điểm miễn, giảm thuế trong thời kỳ đầu về khấu hao cao, về lãi suất vay vốn thấp, về chuyển vốn và lãi về nước nhanh, thuận tiện (vốn đầu tư nước ngoài).

4. Các nguồn hình thành vốn đầu tư

   Vốn đầu tư của nến kinh tế được hình thành từ hai nguồn chính vốn trong nước và vốn nước ngoài.

  1. a.     Vốn trong nước

Cơ sở vật chất – kỹ thuật để có thể tiếp thu và phát huy tác dụng của vốn đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế của đất nước chính là khối lượng vốn đầu tư trong nước. Tỷ lệ giữa vốn huy động được ở trong nước để tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả vốn nước ngoài tuỳ thuộc vào đặc điểm và điều kiện phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước.

Xét về lâu dài thì nguồn vốn đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế một cách liên tục, đưa đất nước đến sự phồn vinh một cách chắc chắn và không phụ thuộc phải là nguồn vốn đầu tư trong nước.

–         Vốn ngân sách nhà nước: gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Vốn ngân sách được hình thành từ vốn tích luỹ của nền kinh tế và được Nhà nước duy trì trong kế hoạch ngân sách để cấp cho đơn vị thực hiện các công trình thuộc kế hoạch Nhà nước.

–         Vốn của các doanh nghiệp quốc doanh: Được hình thành từ lợi nhuận để lại của các doanh nghiệp để bổ sung cho vốn kinh doanh. Nguồn vốn này luôn có vai trò to lớn và tác dụng trực tiếp nhất đối với tốc độ tăng trưởng hàng năm của tổng sản phẩm trong nước. Đây chính là nguồn vốn mà các chính sách kinh tế trong các giai đoạn tiếp theo.

–         Vốn của tư nhân và của hộ gia đình:
Trong xu hướng khuyến khích đầu tư trong nước và cổ phần hoá những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ thì nguồn vốn đầu tư từ khu vực này ngày càng lớn về quy mô và tỷ trọng so với vốn đầu tư của khu vực Nhà nước.

Vốn đầu tư của tư nhân hay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là phần lợi nhuận còn lại sau khi trừ đi các loại thuế và các khoản lãi cho các cổ đông (đối với công ty cổ phần). Vốn của dân cư là phần thu nhập chưa dùng đến thường được tích luỹ dưới dạng trữ kim, USD hay các bất động sản hoặc gửi tiết kiệm trong ngân hàng hoặc ngày công lao động.

  1. b.     Vốn nước ngoài

Vốn đầu tư nước ngoài là vốn của các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào trong nước dưới các hình thức đầu tư gián tiếp hoặc đầu tư trực tiếp.

–         Vốn đầu tư gián tiếp: là vốn của các Chính Phủ, các tổ chức quốc tế như: Viện trợ không hoàn lại, cho vay ưu đãi với lãi suất thấp với thời hạn dài, kể cả vay theo hình thức thông thường. Một hình thức phổ biến của đầu tư gián tiếp tồn tại dưới hình thức ODA-Viện trợ phát triển chính thức của các nước công nghiệp phát triển. Vốn đầu tư gián tiếp thương lớn, cho nên tác dụng mạnh và nhanh đối với việc giải quyết dứt điểm các nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của nước nhận đầu tư. Vai trò đầu tư gián tiếp được thể hiện ở những thành tựu phát triển kinh tế xã hội của Hàn Quốc, philipine những năm sau giải phóng và đối với Việt Nam những năm chống Mỹ cứu nước. Tuy nhiên, tiếp nhận vốn đầu tư gián tiếp thường gắn với việc trả giá bằng chính trị và nợ nần chồng chất nếu không sử dụng có hiệu quả vốn vay và thực hiện nghiêm ngặt chế độ trả nợ vay. Các nước Đông Nam á và NICS      Đông á đã thực hiện giải pháp vay dài hạn, vay ngắn hạn rất hạn chế và đặc biệt không vay thương mại. Vay dài hạn lãi suất thấp, việc trả nợ không khó khăn ví có thời gian hoạt động đủ để thu hồi vốn.

KẾT LUẬN

          Cùng với với xu thế phát triển chung của nền kinh tế thế giới, cũng như các nước trong khu vực. Việt Nam đang nỗ lực vuơn lên hoà chung vào tiến trình phát triển, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá, xây dựng một nền kinh tế mở hướng ra bên ngoài, điều này được thể hiện rõ qua các văn kiện Đaị hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, thư IX vừa qua. Đảng ta xác định muốn đi lên thành một nước có nền kinh tế phát triển thì trước hết cần phả đảm bảo điều kiện về đời sống kinh tế xã hội của người dân, phải đảm bảo phát triển cân đối cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ, phát triển cần phải dựa trên cơ sở đồng đều và một nền tảng vững chắc. Dựa trên quan điểm này Đảng và Nhà nước ta đã tích cực chú trọng tới việc phát triển và cải thiện đời sống kinh tế xã hội của người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc miền núi, tạo điều kiện phát triển miền núi thông qua hỗ trợ, khuyến khích đầu tư ở các vùng này. Bắc Giang là một trong những tỉnh miền núi còn có nhiều khó khăn, trong những năm qua được sự hỗ trợ của Đảng và Nhà nước, cùng với nỗ lực của chính mình Bắc Giang đã thực hiện tốt công cuộc cải cách kinh tế, tăng cường đầu tư phát triển kinh tế xã hội và đã đạt được những thành tựu nhất định. Tuy nhiên, quá trình phát triển hệ thống các giải pháp đẩy mạnh đầu tư nhằm phát huy những thành tựu đã đạt được và giải quyết các khó khăn bất cập còn tồn tại. Để làm được điều đó đỏi hỏi cần có sự nghiên cứu, tỉm hiểu một cách nghiêm túc và đó cũng chính là vấn đề mà đề tài quan tâm.

          Một lần nữa em xin cảm ơn cô giáo Nguyễn Thu Hà, cùng các thầy cô giáo trong Bộ môn Kinh tế đầu tư và các cô chú trong phòng Đầu tư – Sở Tài chính vật giá đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề thực tập này của mình.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Định hướng phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2000-2010 của BCH Đàng bộ tỉnh Bắc Giang.

2.Niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang 2000

3. Giáo trình kinh tế đầu tư – Trường ĐHKTQD

4.Giáo trình lập và quản lý dự án

5. Các quy định về quản lý đầu tư- NXB quốc gia.

6. UBND tỉnh Bắc Giang, báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bắc Giang 1996-2000, 2001-2005.

7. Cục thống kê Bắc Giang-  Niên giám thống kê

8. Bưu điện Bắc Giang, chiến lược phát triển bưu chính viễn thông tỉnh Bắc Giang đến năm 2010

9. Quy hoạch phát triển Bắc Giang giai đoạn 2005-2010- Sơ kế hoạch đầu tư Bắc Giang.

10. Sở giao thông Bắc Giang, Báo cáo kế hoạch phát triển giao thông nông thôn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 1999-2010.

Mục lục

Lời nói đầu…………………………………………………………………………………… 1

Chương I: Lý luận chung về vốn đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.. 3

I. Khái niệm về đầu tư và vốn đầu tư……………………………………………….. 3

1. Khái niệm về đầu tư…………………………………………………………………… 3

2. Khái niệm về vốn đầu tư…………………………………………………………….. 4

3. Đặc điểm về vốn đầu tư………………………………………………………………. 5

4. Các nguồn hình thành vốn đầu tư………………………………………………… 7

II. Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn đầu tư…………………………………….. 10

1. Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn đầu tư ở tầm vĩ mô…………………… 10

2. Các chỉ tiêu hiệu quả vốn đầu tư ở tầm vĩ mô………………………………. 13

III. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả vốn đầu tư…………………………. 17

1. Chiến lược công nghiệp hoá……………………………………………………….. 17

2. Các chính sách kinh tế ……………………………………………………………… 18

3. Công tác tổ chức quản lý đầu tư xây dựng…………………………………… 19

4. Tổ chức khai thác, sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành………….. 21

IV. Khái quát chung về tình hình kinh tế xã hội tỉnh Bắc Giang…………. 22

1. Vị trí địa lý……………………………………………………………………………… 22

2. Tiềm năng, nguồn lực……………………………………………………………….. 22

3. Thực trạng một số ngành chủ yếu………………………………………………. 23

4. Cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội…………………………………………………….. 25

5. Sự cần thiết phải đầu tư ở Bắc Giang………………………………………….. 26

Chương II: Thực trạng vốn đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư ở Bắc Giang          29

I. Tổng quan đầu tư tỉnh Bắc Giang……………………………………………….. 29

II. Đầu tư theo vùng lãnh thổ………………………………………………………… 32

III. Thực trạng đầu tư theo lĩnh vực ngành kinh tế ……………………………. 34

1. Ngành Nông – Lâm – Ngư nghiệp………………………………………………… 37

2. Ngành công nghiệp – xây dựng…………………………………………………… 41

3. Đầu tư – thương mại – kinh doanh – dịch vụ………………………………….. 43

4. Đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật…………………………………………………. 44

5. Đầu tư kết cấu hạ tầng xã hội…………………………………………………….. 48

II. Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư…………………………………………………….. 52

III. Một số hạn chế về công tác đâu tư phát triển của tỉnh Bắc Giang….. 55

Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

I. Kinh nghiệm thành công và chưa thành công về hoạt động đầu tư, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của một số nước trên thế giới…………………………………………………….. 59

1. Kinh nghiệm thu hút FDI………………………………………………………….. 59

2. Kinh nghiệm sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư……………………………….. 61

3. Kinh nghiệm sử dụng vốn đầu tư trong lĩnh vực khoa học công nghệ. 63

II. Định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bắc Giang………………. 63

1. Chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn……….. 63

2. Phát triển công nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá…… 64

3. Đẩy mạnh kinh tế đối ngoại và xuất nhập khẩu …………………………… 64

4. Thương mại, dịch vụ du lịch………………………………………………………. 64

5. Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội………………………………………. 65

III. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư……… 65

1. Nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược đầu tư………………. 65

2. Cải tiến công tác quản lý dự án trong quá trình thực hiện dự án……… 68

3. Nâng cao chất lượng công tác tư vấn, khảo sát thiết kế và xây dựng dự án     72

4. Nâng cao năn lực đội ngũ cán bộ tham gia vào quá trình đầu tư xây dựng      74

IV. Những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các giải pháp…………… 77

1. Bổ sung, sửa đổi và ban hành đồng bộ hệ thống pháp luật trong lĩnh vực đầu tư xây dựng…………………………………………………………………………………………………. 77

2. Hoàn thiện và phát triển thị trường vốn và lao động …………………….. 78

3. Đẩy mạnh quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước………… 79

4. Đẩy mạnh quá trình cải cách hành chính……………………………………… 80

5. Tăng cường đầu tư cho đào tạo và đào tạo lại cán bộ…………………….. 81

Kết luận……………………………………………………………………………………… 82

Tài liệu tham khảo……………………………………………………………………….. 83

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s