Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư


LỜI MỞ ĐẦU

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của việc quản lý đầu tư và xây dựng là quản lý tốt công tác chuẩn bị đầu tư, trong đó có việc lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư. Thẩm định dự án được xem như một nhu cầu không thể thiếu và là cơ sở để ra quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư.

Thẩm định dự án được tiến hành đối với tất cả các dự án thuộc mọi nguồn vốn, mọi thành phần kinh tế. Tuy nhiên, yêu cầu thẩm định đối với các dự án này là khác nhau. Trong những năm qua, thực hiện chủ trương phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế của Đảng và Nhà nước nhằm tranh thủ mọi tiềm năng, cơ hội để phát triển kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành một bộ phận không thể thiếu, đóng góp ngày càng lớn vào việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế xã hội của đất nước. Là một nguồn vốn giữ vai trò quan trọng và được triển khai theo những dự án lớn, Việt Nam cần nhận những dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tốt mang lại lợi ích cho tổng thể nền kinh tế và loại bỏ những dự án xấu. Để thực hiện được mục tiêu đó, quá trình đánh giá các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trên cơ sở thẩm định là hết sức quan trọng. Bộ Kế hoạch và Đầu tư  với tư cách là cơ quan đầu mối trong việc thu hút, quản lý các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài thường xuyên chú trọng tới công tác thẩm định dự án đầu tư để ra quyết định đầu tư hoặc đề xuất báo cáo trình Chính Phủ quyết định. Để đưa ra những quyết định ngày càng đúng đắn và phát huy mạnh mẽ hơn nữa hiệu qủa của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài , việc nâng cao chất lượng tiến tới hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được đặt ra ngày càng bức xúc.

 Xuất phát từ lý do trên, cùng với lòng nhiệt tình muốn nâng cao hiểu biết về lĩnh vực thẩm định dự án, trong thời gian thực tập tại Văn phòng thẩm định – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, em đã tập trung đi sâu tìm hiểu công tác thẩm định đối với các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài và đã quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư ”.

Do sự hiểu biết và thời gian thực tập có hạn nên bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để Chuyên đề được hoàn thiện hơn.

 Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến cô giáo Lưu Thị Hương và các cô chú cán bộ Văn phòng thẩm định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư nơi em thực tập đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1:

    Lý luận chung về công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài .

1.1.         Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài.

1.1.1.Khái niệm và đặc điểm dự án đầu tư .

1.1.2.Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài.

                1.1.2.1.Khái niệm, đặc điểm và vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài.

                1.1.2.2 Các hình thức dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài

                   1.1.2.2.1.Hợp đồng hợp tác kinh doanh

                   1.1.2.2.2. Doanh nghiệp liên doanh

                   1.1.2.2.3. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

                   1.1.2.2.4. Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao

          1.2.Công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài

             1.2.1.Tổng quan về thẩm định dự án

             1.2.2. Nội dung thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài

                1.2.2.1. Thẩm định tài chính dự án

                1.2.2.2.Thẩm định tư cách pháp lý, năng lực tài chính của nhà đầu         tư nước ngoài và Việt Nam

                1.2.2.3.Thẩm định lợi ích kinh tế-xã hội

                1.2.2.4.Thẩm định kỹ thuật công nghệ

                1.2.2.5.Thẩm định các mục tiêu của dự án

                1.2.2.6.Thẩm định mức độ phù hợp mục tiêu dự án với quy hoạch, tính hợp lý của việc sử dụng đất, phương án đền bù giải phóng mặt bằng và định giá tài sản góp vốn của bên Việt Nam.

             1.2.3. Các bước thẩm định và cơ quan đơn vị thực hiện thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài

                1.2.3.1.Các bước thẩm định

                1.2.3.2. Cơ quan, đơn vị thực hiện thẩm định

             1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài

               1.2.4.1.Phương pháp thẩm định

               1.2.4.2. Lựa chọn đối tác

               1.2.4.3.Môi trường pháp luật

               1.2.4.4.Thông tin

               1.2.4.5.Quy trình thực hiện thẩm định

               1.2.4.6.Quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài

               1.2.4.7.Đội ngũ cán bộ thẩm định

                1.2.4.8. Vấn đề định lượng và tiêu chuẩn trong thẩm định dự án

CHƯƠNG 2:

 Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư

            2.1. Khái quát chung về các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian qua

               2.1.1. Tình hình cấp giấy phép đầu tư

               2.1.2. Tình hình thực hiện dự án

               2.1.3. Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư

               2.1.4. Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành, lĩnh vực

               2.1.5. Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đối tác đầu tư

2.2. Quy trình tổ chức thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư

           2.3. Ví dụ về thẩm định một dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài  tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư

           2.4. Đánh giá thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư

CHƯƠNG 3:

Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư

3.1. Triển vọng các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam

             3.2. Giải pháp

             3.3. Kiến nghị

CHƯƠNG 1:

Lý luận chung về công tác thẩm định dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài .

1.1.         Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài .

        1.1.1.Khái niệm và đặc điểm dự án đầu tư.

Đầu tư là một hoạt động bỏ vốn với hy vọng thu lợi trong tương lai. Tầm quan trọng của hoạt động đầu tư, đặc điểm và sự phức tạp về mặt kỹ thuật, hậu quả và hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động đầu tư đòi hỏi để tiến hành một công cuộc đầu tư phải có sự chuẩn bị cẩn thận và nghiêm túc. Sự chuẩn bị này được thể hiện ở việc soạn thảo các dự án đầu tư. Có nghĩa là mọi công cuộc đầu tư phải được thực hiện theo dự án thì mới đạt hiệu quả mong muốn.

    Dự án đầu tư  là một tập hợp hoạt động kinh tế đặc thù nhằm tạo nên một mục tiêu cụ thể một cách có phương pháp trên cơ sỏ những nguồn lực nhất định.

Một dự án đầu tư bao gồm 4 thành phần chính:

+  Mục tiêu của dự án được thể hiện ở hai mức:

–         Mục tiêu phát triển là những lợi ích kinh tế xã hội do thực hiện dự án đem lại.

–         Mục tiêu trước mắt là các mục đích cụ thể cần đạt được của việc thực hiện dự án

+  Các kết quả: là những kết quả cụ thể, có định lượng, được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án . Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện được các mục tiêu của dự án

+  Các hoạt động: là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự án để tạo ra các kết quả nhất định. Những nhiệm vụ hoặc hành động này cùng với một lịch biểu và  trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của dự án .

+  Các nguồn lực: về vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án . Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho dự án .

Trong 4 thành phần trên thì các kết quả được coi là cột mốc đánh dấu tiến độ của dự án . Vì vậy, trong quá trình thực hiện dự án phải thường xuyên theo dõi các đánh giá kết quả đạt được. Những hoạt động nào có liên quan trực tiếp tới việc tạo ra các kết quả được coi là hoạt động chủ yếu phải được đặc biệt quan tâm.

     1.1.2.Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài .

        1.1.2.1.Khái niệm, đặc điểm và vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

                   ( FDI)

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào nước sở tại vốn hoặc bất cứ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư .

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức chủ yếu trong đầu tư quốc tế bao gồm đầu tư trực tiếp ( FDI ),đầu tư qua thị trường chứng khoán (porfolio), cho vay của các tổ chức kinh tế và các ngân hàng nước ngoài (vay thương mại ), nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức ( ODA). Vay thương mại lãi suất cao nên dễ trở thành gánh nặng về nợ nước ngoài trong tương lai. Viện trợ bao gồm viện trợ không hoàn lại và cho vay dài hạn với lãi suất thấp từ các tổ chức quốc tế hoặc chính phủ các nước tiên tiến. Viện trợ không hoàn lại không trở thành nợ nước ngoài nhưng quy mô nhỏ và thường chỉ giới hạn trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục và cứu trợ. Đầu tư qua thị trường chứng khoán cũng không trở thành nợ nhưng sự thay đổi đột ngột trong hành động ( bán chứng khoán, rút tiền về nước) của nhà đầu tư nước ngoài ảnh hưởng mạnh đến thị trường vốn, gây biến động tỷ giá và các mặt khác của nền kinh tế vĩ mô. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) cũng là hình thức đầu tư  không trở thành nợ. Đây là nguồn vốn có tính chất “bén rễ” ở bản xứ nên không dễ rút đi trong thời gian ngắn. Ngoài ra, đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ đầu tư vốn mà còn đầu tư công nghệ và tri thức kinh doanh nên dễ thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp hiện đại và phát triển kinh tế.

FDI có những đặc điểm chủ yếu sau:

+ Đây là hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân do các chủ đầu tư tự quyết định đầu tư , quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi . Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị , không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế.

+ Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tuỳ theo tỷ lệ góp vốn của mình. Đối với nhiều nước trong khu vực, chủ đầu tư chỉ được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong một số lĩnh vực nhất định và chỉ được tham gia liên doanh với số vốn cổ phần của bên nước ngoài nhỏ hơn hoặc bằng 49%, 51% cổ phần còn lại do nước chủ nhà nắm giữ. Trong khi đó, Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam cho phép rộng rãi hơn đối với hình thức 100% vốn nước ngoài và quy định bên nước ngoài phải góp tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án .

+ Thông qua đầu tư nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý. Đây là những mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được.

+ Nguồn vốn đầu tư này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định mà trong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai và mở rộng dự án  cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được.

Do những đặc điểm và thế mạnh riêng có như ít phụ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa hai bên; bên nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý sản xuất kinh doanh nên mức độ khả thi của dự án khá cao, họ quan tâm đến hiệu quả kinh doanh, lựa chọn công nghệ thích hợp, nâng cao trình độ quản lý và tay nghề của công nhân do có quyền lợi gắn chặt với dự án. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng có vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở các nước đầu tư và các nước nhận đầu tư . Cụ thể là:

+ Đối với các nước đầu tư , đầu tư ra nước ngoài giúp nâng cao hiệu quả sử dụng những lợi thế sản xuất ở nơi tiếp nhận đầu tư , hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư và xây dựng, được thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định với giá phải chăng. Mặt khác, đầu tư ra nước ngoài giúp bành trướng sức mạnh kinh tế và nâng cao uy tín chính trị. Thông qua việc xây dựng nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài mà các nước đầu tư mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước.

+ Đối với các nước nhận đầu tư : hiện nay có hai dòng chảy của vốn đầu tư  nước ngoài. Đó là dòng chảy vào các nước phát triển và dòng chảy vào các nước đang phát triển.

–   Đối với các nước kinh tế phát triển, FDI có tác dụng lớn trong việc giải quyết những khó khăn về kinh tế, xã hội như thất nghiệp và lạm phát… Qua FDI, các tổ chức kinh tế nước ngoài mua lại những công ty, doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản giúp cải thiện tình hình thanh toán và tạo công ăn việc làm cho người lao động.

FDI còn tạo điều kiện tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để cải thiện tình hình bội chi ngân sách , tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thương mại, giúp người lao động và cán bộ quản lý học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nước khác.

–    Đối với các nước đang phát triển, FDI giúp đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế thông qua việc tạo ra những doanh nghiệp mới, thu hút thêm lao động, giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở những nước này. Theo thống kê của Liên hợp quốc, số người thất nghiệp và bán thất nghiệp của các nước đang phát triển chiếm khoảng 35- 38% tổng số lao động.

FDI giúp các nước đang phát triển khắc phục tình trạng thiếu vốn kéo dài. Nhờ vậy, mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển to lớn với nguồn tài chính khan hiếm được giải quyết, đặc biệt là thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá_ thời kỳ mà thông thường đòi hỏi đầu tư  một tỷ lệ vốn lớn hơn các giai đoạn về sau và càng lớn hơn nhiều lần khả năng tự cung ứng từ bên trong. FDI là phương thức đầu tư phù hợp với các nước đang phát triển, tránh tình trạng tích luỹ quá căng thẳng dẫn đến những méo mó về kinh tế không đáng xảy ra.

Theo sau FDI là máy móc, thiết bị và công nghệ mới giúp các nước đang phát triển tiếp cận với khoa học kỹ thuật mới. Quá trình đưa công nghệ vào sản xuất giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh của các nước đang phát triển trên thị trường quốc tế.

Cùng với FDI, những kiến thức quản lý kinh tế xã hội hiện đại được du nhập vào các nước đang phát triển, các tổ chức sản xuất trong nước bắt kịp phương thức quản lý công nghiệp hiện đại, lực lượng lao động quen dần với phong cách làm việc công nghiệp cũng như hình thành dần đội ngũ những nhà doanh nghiệp giỏi.

FDI giúp các nước đang phát triển mở cửa thị trường hàng hoá nước ngoài và đi kèm với nó là những hoạt động marketing được mở rộng không ngừng. Do các công ty tư bản độc quyền quốc gia đầu tư trực tiếp vào các nước đang phát triển mà các nước này có thể bước vào thị trường xa lạ, thậm chí có thể xem như “ lãnh địa cấm kỵ ” đối với họ trước kia.

FDI giúp tăng thu ngân sách nhà nước thông qua thu thuế các công ty nước ngoài. Từ đó các nước đang phát triển có nhiều khả năng hơn trong việc huy động nguồn tài chính cho các dự án phát triển.

Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của các nước tiếp nhận đầu tư , bên cạnh ưu điểm thì FDI cũng có những hạn chế nhất định. Đó là:

–    Nếu đầu tư vào môi trường bất ổn định về kinh tế và chính trị thì nhà đầu tư nước ngoài dễ bị mất vốn.

–    Nếu nước sở tại không có một quy hoạch đầu tư cụ thể và khoa học dẫn tới sự đầu tư tràn lan, kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức và nạn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng sẽ xảy ra.

       1.1.2.2.Các hình thức dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài .

Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại dự án đầu tư theo quy định của luật đầu tư nước ngoài về nội dung, hình thức đầu tư . Các hình thức đầu tư nước ngoài cơ bản là:

+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh

+ Doanh nghiệp liên doanh

+ Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

+ Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao ( BOT – BTO – BT )

1.1.2.2.1.Hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa các bên hợp doanh quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam mà không thành lập pháp nhân.

Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh có các đặc điểm sau:

–         Về đối tượng áp dụng hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh:

Việc chọn hình thức đầu tư  do người đầu tư  quyết định. Tuy vậy Nhà nước cũng có những quy định để hướng dẫn người đầu tư . Tại Việt Nam, nhà nước quy định việc xây dựng, kinh doanh mạng viễn thông quốc tế, viễn thông nội hạt chỉ thực hiện theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh. Một số lĩnh vực khác có thể áp dụng hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc doanh nghiệp liên doanh như: khai thác chế biến dầu khí, xây dựng kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất; xây dựng; vận tải; du lịch lữ hành… và những lĩnh vực không thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện theo quy định tại Nghị định số 10/1998/NĐ-CP.

–         Khi thực hiện hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, các bên tham gia không thành lập pháp nhân chung mà mỗi bên giữ pháp nhân của mình và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình trước pháp luật. Tuy vậy, Chính phủ cho phép, trong quá trình kinh doanh, các bên hợp doanh được quyền thoả thuận lập Ban điều phối để làm nhiệm vụ theo dõi, giám sát việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh. Ban điều phối này không phải là đại diện pháp lý cho các bên hợp doanh. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của ban điều phối do các bên hợp doanh thoả thuận.

–         Bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh thực hiện nghĩa vụ thuế, các nghĩa vụ tài chính khác theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Còn bên Việt Nam thì thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật áp dụng đối với doanh nghiệp trong nước.

–         Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không quy định cụ thể nội dung góp vốn của từng bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh . Trong thực tế, các bên thực hiện góp vốn với các nội dung tương tự như quy định đối với các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh, chỉ khác là không góp vốn pháp định.

1.1.2.2.2. Doanh nghiệp liên doanh

 

Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh . Trong trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp liên doanh có thể được thành lập trên cơ sở hiệp định ký kết giữa Chính phủ nước sở tại với Chính phủ các nước khác.

Các doanh nghiệp liên doanh đã được phép hoạt động tại Việt Nam được phép thành lập doanh nghiệp liên doanh mới với nhà đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp Việt Nam; với cơ sở khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học đáp ứng các điều kiện do Chính phủ quy định; với người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc với doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã được thành lập tại Việt Nam.

Hình thức của doanh nghiệp liên doanh:

Doanh nghiệp liên doanh được thành lập tại Việt Nam theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có nghĩa là mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp liên doanh trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp .

Khác với công ty trách nhiệm hữu hạn trong nước, các bên liên doanh không nhất thiết phải góp đủ vốn pháp định ngay khi thành lập công ty. Việc góp vốn có thể được thoả thuận góp nhiều lần phù hợp với tiến độ thực hiện dự án .

Vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh:

Vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh là mức vốn bắt buộc phải có để thành lập doanh nghiệp, được ghi vào điều lệ của doanh nghiệp. Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, vốn pháp định doanh nghiệp liên doanh phải ít nhất bằng 30% vốn đầu tư của doanh nghiệp. Trong trường hợp đặc biệt, tỷ lệ này có thể thấp hơn 30% nhưng phải được cơ quan quản lý Nhà nước về đầu tư nước ngoài chấp thuận. Thông thường, đó là trường hợp của các doanh nghiệp liên doanh về xây dựng kết cấu hạ tầng tại các vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, các doanh nghiệp liên doanh ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, các doanh nghiệp liên doanh trồng rừng. Đối với các doanh nghiệp liên doanh nói trên, vốn pháp định có thể thấp đến 20% vốn đầu tư .

Trong những khoản vốn góp của bên Việt Nam, nhà đầu tư thường quan tâm khoản góp bằng giá trị quyền sử dụng đất.

Giá trị quyền sử dụng đất góp vốn liên doanh được xác định bằng tiền thuê đất tương ứng với thời hạn liên doanh. Trong thực tế, các doanh nghiệp Việt Nam có thể góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất với thời hạn ít hơn thời hạn hoạt động của liên doanh.

Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mình, mỗi quốc gia có thể quy định giới hạn phần góp vốn của bên nước ngoài trong doanh nghiệp liên doanh  (thường không quá 49%). Với nước ta, nhằm thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài, trong Luật đầu tư nước ngoài quy định phần góp vốn của bên nước ngoài hoặc các bên nước ngoài vào vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh không bị hạn chế về mức cao nhất theo sự thoả thuận của các bên nhưng không dưới 30% vốn pháp định trừ những trường hợp do Chính phủ quy định. Trong một số trường hợp, căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh, công nghệ, thị trường, hiệu quả kinh doanh và các lợi ích kinh tế xã hội khác của dự án, cơ quan cấp giấy phép đầu tư có thể xem xét cho phép bên nước ngoài tham gia liên doanh có tỷ lệ góp vốn pháp định thấp đến 20%.

Luật đầu tư nước ngoài không quy định mức tối thiểu bên Việt Nam phải góp vốn, nhưng trên thực tế bên Việt Nam thường góp 30-40% vốn pháp định. Đối với doanh nghiệp liên doanh nhiều bên, Chính phủ sẽ quy định tỷ lệ góp vốn tối thiểu của mỗi bên Việt Nam. Đối với những dự án quan trọng do Chính phủ quy định, khi ký kết hợp đồng liên doanh, các bên liên doanh thoả thuận về thời điểm, phương thức và tỷ lệ tăng vốn góp của bên Việt Nam trong vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh.

Vốn pháp định có thể được các bên góp trọn một lần khi thành lập doanh nghiệp liên doanh hoặc có thể góp từng phần trong một thời gian hợp lý. Các bên thoả thuận phương thức, tiến độ góp vốn pháp định và ghi vào hợp đồng liên doanh phù hợp với giải trình kinh tế- kỹ thuật của hồ sơ dự án .

Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp liên doanh không được giảm vốn pháp định nhưng có thể được tăng thêm. Việc tăng vốn pháp định, thay đổi tỷ lệ góp vốn của các bên liên doanh sẽ do Hội đồng quản trị quyết định và phải được cơ quan cấp giấy phép đầu tư chuẩn y.

Cơ quan lãnh đạo và điều hành doanh nghiệp liên doanh:

  1. Hội đồng quản trị:

Cơ quan lãnh đạo của doanh nghiệp liên doanh là Hội đồng quản trị gồm đại diện của các bên tham gia liên doanh. Các bên tham gia liên doanh chỉ định người của mình tham gia Hội đồng quản trị theo tỷ lệ tương ứng với phần góp và vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh.

–         Chủ tịch Hội đồng quản trị:

  Chủ tịch Hội đồng quản trị của doanh nghiệp liên doanh  do các bên liên doanh thoả thuận cử ra. Nhiệm vụ, quyền hạn của chủ tịch Hội đồng quản trị được ghi trong điều lệ doanh nghiệp bao gồm các nội dung cơ bản là: trách nhiệm triệu tập, chủ trì các cuộc họp của Hội đồng quản trị và giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng quản trị. Chủ tịch Hội đồng quản trị không trực tiếp ra lệnh cho Tổng giám đốc và Phó tổng giám đốc của doanh nghiệp liên doanh .

–         Nguyên tắc làm việc của Hội đồng quản trị:

Hội đồng quản trị doanh nghiệp liên doanh  thực hiện chức năng quản trị doanh nghiệp thông qua cơ chế ra quyết định, đôn đốc, giám sát việc thực hiện các nghị quyết đó.Những vấn đề quan trọng nhất trong tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp liên doanh  phải do Hội đồng quản trị quyết định theo nguyên tắc nhất trí giữa các thành viên Hội đồng quản trị có mặt tại cuộc họp. Những vấn đề quan trọng đó là:

. Bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng giám đốc, phó Tổng giám đốc thứ nhất, kế toán trưởng.

. Sửa đổi, bổ sung điều lệ doanh nghiệp liên doanh .

. Duyệt quyết toán thu chi tài chính hàng năm và quyết toán công trình xây dựng cơ bản.

. Vay vốn đầu tư .

Các bên tham gia liên doanh có thể thoả thuận trong điều lệ doanh nghiệp các vấn đề khác cần được quyết định theo nguyên tắc nhất trí.

Đối với những vấn đề khác, Hội đồng quản trị quyết định theo nguyên tắc biểu quyết quá bán số thành viên Hội đồng quản trị có mặt tại cuộc họp.

b. Tổng giám đốc và các phó Tổng giám đốc.

Tổng giám đốc và các phó Tổng giám đốc  doanh nghiệp liên doanh có nhiệm vụ quản lý và điều hành công việc hàng ngày của doanh nghiệp.

+ Tổng giám đốc là người đại diện cho doanh nghiệp trước toà án và cơ quan nhà nước.

+ Tổng giám đốc chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về hoạt động của doanh nghiệp liên doanh

Vấn đề thuê tổ chức quản lý doanh nghiệp.

Căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh, tính chất của dự án , Hội đồng quản trị của doanh nghiệp liên doanh được thuê tổ chức quản lý để điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài muốn thuê tổ chức quản lý phải có các điều kiện theo quy định.

1.1.2.2.3. Doanh nghiệp100% vốn đầu tư nước ngoài.

Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có hình thức và nội dung tương tự doanh nghiệp liên doanh. Cụ thể:

–    Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam.

–    Vốn pháp định của doanh nghiệp100% vốn đầu tư nước ngoài ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư . Đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng tại các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, dự án đầu tư  vào miền núi, vùng sâu, vùng xa, trồng rừng, tỷ lệ này có thể thấp đến 20%.

–    Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài không được giảm vốn pháp định.

–    Hồ sơ xin cấp giấy phép đầu tư  thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài cũng tương tự như doanh nghiệp liên doanh , chỉ khác ở chỗ là không có hợp đồng liên doanh.

Điều lệ của doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài phải bảo đảm các nội dung theo quy định như sau:

–   Quốc tịch, địa chỉ, đại diện có thẩm quyền của nhà đầu tư nước ngoài;

–    Tên, địa chỉ của doanh nghiệp;

–    Mục tiêu và phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp;

–    Vốn đầu tư , vốn pháp định , phương thức, tiến độ góp vốn và tiến độ xây dựng;

–    Các nguyên tắc tài chính;

–    Thời hạn hoạt động, kết thúc, giải thể doanh nghiệp;

–    Quan hệ lao động trong doanh nghiệp, kế hoạch đào tạo cán bộ quản lý, kỹ thuật, nghiệp vụ và công nhân;

–    Thủ tục sửa đổi điều lệ doanh nghiệp;

–    Đại diện cho doanh nghiệp trước toà án, trọng tài và cơ quan nhà nước Việt Nam.

Theo quy định hiện nay, người đại diện cho doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là Tổng giám đốc doanh nghiệp. Trường hợp Tổng giám đốc không thường trú tại Việt Nam thì phải uỷ quyền cho người đại diện của mình và người đại diện đó phải là người thường trú tại Việt Nam.

1.1.2.2.4. Hình thức hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao.

Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao ( viết tắt theo tiéng Anh là BOT) là một thuật ngữ để chỉ một mô hình hay một cấu trúc sử dụng đầu tư tư nhân để thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng vẫn được dành riêng cho khu vực nhà nước. “ Tài trợ dự án ” là điểm mấu chốt của phương thức đầu tư BOT, nghĩa là các bên cho vay xem xét tới tài sản và nguồn thu của dự án để hoàn trả lại vốn vay thay vì các nguồn bảo lãnh khác như bảo lãnh của Chính phủ hay tài sản của các nhà tài trợ dự án .

BOT là một hình thức đầu tư còn mới ở Việt Nam nhưng nó đã được triển khai thành công ở nhiều nước trên thế giới nhất là các nước đang phát triển  (như Trung Quốc, Philippin) thiếu vốn để phát triển cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế. Ngày 23/12/1992 Quốc hội CHXHCN Việt Nam đã bổ sung hình thức đầu tư BOT vào Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định 87CP ngày 23/11/1993 và Nghị định 62/1998/NĐ-CP về quy chế đầu tư  theo hợp đồng BOT cho đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Theo loại hình đầu tư này có 3 hình thức đầu tư :

–         Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao  (BOT) ;

–         Hợp đồng xây dựng- chuyển giao- kinh doanh   ( BTO);

–         Hợp đồng xây dựng- chuyển giao     (BT);

Hợp đồng BOT là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước chủ nhà có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng( kể cả mở rộng, nâng cấp, hiện đại hoá công trình) và kinh doanh trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý, hết thời hạn kinh doanh, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho  nước chủ nhà.

Hợp đồng BTO có nội dung khác với BOT là: sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao ngay công trình đó cho nước chủ nhà, Chính phủ nước chủ nhà sẽ dành cho nhà đầu tư nước ngoài quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý.

Hợp đồng BT có đặc điểm là sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nước chủ nhà và Chính phủ nước chủ nhà sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư  nước ngoài thực hiện dự án  khác để thu hồi vốn đầu tư  và có lợi nhuận hợp lý.

Tại Việt Nam, cơ quan nhà nước Việt Nam có thẩm quyền ký các hợp đồng BOT,BTO, BT là: các Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được Thủ tướng Chính phủ chỉ định.

Chính phủ Việt Nam khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT trong các lĩnh vực sau đây: giao thông, sản xuất và kinh doanh điện, cấp thoát nước, xử lý chất thải và các lĩnh vực khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Để thực hiện hợp đồng BOT,BTO, BT chủ đầu tư được thành lập doanh nghiệp BOT,BTO,BT ( gọi chung là doanh nghiệp BOT) . Doanh nghiệp BOT có thể là doanh nghiệp liên doanh  hoặc doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Hình thức tài trợ BOT cho các dự án cơ sở hạ tầng có rất nhiều lợi thế tiềm năng. Đây là một phương pháp lựa chọn có tính sống còn đối với hầu hết các quốc gia so với phương pháp truyền thống có sử dụng vốn vay của Chính phủ hoặc các nguồn từ ngân sách. Không giống như phương pháp tư nhân hoá hoàn toàn, ở đây Chính phủ vẫn duy trì quyền kiểm soát có tính chiến lược đối với dự án. Dự án sẽ được chuyển giao cho Chính phủ nước chủ nhà khi kết thúc thời kỳ đặc quyền. Hình thức này có các lợi thế tiềm năng sau đây:

–         Sử dụng nguồn tài trợ của khu vực tư nhân để cung cấp các nguồn vốn mới nhằm giảm các khoản vay nhà nước và khoản chi trực tiếp, nhằm củng cố mức độ tin cậy trong thanh toán của Chính phủ nước chủ nhà.

–         Có khả năng tăng tốc độ phát triển các dự án mà nếu không sẽ phải chờ đợi và cạnh tranh để có các nguồn lực hiếm của Chính phủ.

–         Sử dụng vốn, sáng kiến và bí quyết công nghệ của khu vực tư nhân để làm giảm chi phí xây dựng dự án, rút ngắn thời gian và nâng cao hiệu quả hoạt động.

–         Phân bổ rủi ro của dự án và các gánh nặng mà nếu không sẽ phải do khu vực nhà nước gánh chịu. Khu vực tư nhân chịu trách nhiệm vận hành, bảo dưỡng và đối với đầu ra của dự án trong một giai đoạn được mở rộng  (thông thường, Chính phủ sẽ chỉ nhận được bảo đảm cho giai đoạn xây dựng thông thường và bảo hành thiết bị).

–         Sự tham gia của các nhà tài trợ tư nhân và các bên cho vay thương mại có kinh nghiệm để bảo đảm có được sự đánh giá sâu sắc và là một dấu hiệu thêm đối với tính khả thi của dự án .

–         Chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân sự của địa phương và phát triển thị trường vốn quốc gia.

–         Trái với việc tư nhân hoá hoàn toàn, Chính phủ vẫn nắm quyền kiểm soát có tính chiến lược đối với dự án mà sẽ được chuyển giao cho khu vực nhà nước vào cuối giai đoạn đặc quyền.

–         Có cơ hội để tạo ra được một phương pháp chuẩn của khu vực tư nhân để qua phương pháp chuẩn này có thể tính toán được hiệu quả của các dự án tương tự thuộc khu vực nhà nước và các cơ hội tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các công trình cơ sở hạ tầng.

Tuy nhiên phương thức BOT không phải là một phương pháp chữa bách bệnh cho một chính phủ. Các dự án BOT là vô cùng phức tạp cả về phương diện pháp lý và tài chính. Các dự án này cần phải có thời gian để phát triển và đàm phán. Các dự án này cần có sự tham gia và hỗ trợ của nước chủ

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s