Đầu tư phát triển nông nghiệp Hà Tây


Lời nói đầu

Công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước là đòi hỏi tất yếu của các quốc gia đang phát triển trên thế giới trong quá trình phát triển kinh tế xã hội hiện nay nhưng phát triển một nền nông nghiệp  vững mạnh và ổn định là không thể thiếu được. Nước Việt Nam chúng ta có truyền thống về nông nghiệp thì để tiến hành công nghiệp hoá – hiện đại hoá chỉ thu được thành công khi chúng ta đã đảm bảo an toàn về lương thực thực phẩm- tức có ngành nông nghiệp phát triển.

Như vậy  đối với một tỉnh nông nghiệp như Hà Tây,  bên cạnh việc chú ý phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ , phát triển nông nghiệp vẫn là ưu tiên số một trong quá trình phát kinh tế xã hội của mình. Do vậy đầu tư sẽ là nhân tố cực kì quan trọng tạo nên sự phát triển mạnh ngành nông nghiệp . Vì thế ,có thể nói trong thời gian vừa qua ngành nông nghiệp tỉnh Hà Tây nhờ có sự đầu tư mạnh mẽ của nhà nước ,của toàn tỉnh nên có sự phát triển vượt bậc. Bởi vì đầu tư không những tạo ra cơ sở hạ tầng hiện đại cho nông nghiệp mà còn giúp nông nghiệp có những giống mới ,những phương tiện sản xuất mới tiên tiến và các phương thức sản xuât mới.

Nghiên cứu về đầu tư và tìm ra những giải pháp để thu hút vốn đầu tư ,nâng cao hiệu quả đầu tư là một trong những vấn đề trọng tâm của tỉnh Hà Tây và luôn được quan tâm chú ý. Trên cơ sở nghiên cứu về tình hình đầu tư nông nghiệp Hà Tây trong giai đoạn 1996 -2000,về những phương hướng và giải pháp cho đầu tư trong thời gian tới, cũng như muốn đóng góp một phần vào công cuộc đầu tư ngành nông nghiệp ; tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu:

“Đầu tư phát triển nông nghiệp Hà Tây”

 Nội dung chính gồm các phần chủ yếu sau :

  Chương I. Những vấn đề lí luận chung

  Chương II. Thực trạng đầu tư phát triển nông nghiệp tỉnh Hà Tây

  ChươngIII. Phương hướng và giải pháp cho đầu tư phát triển nông nghiệp Hà Tây

     Do trình độ còn hạn chế cũng như tài liệu thu thập còn chưa đầy đủ nên trong quá trình viết bài sẽ không tránh khỏi những thiếu xót hạn chế . Tôi mong nhận được sự góp ý của thầy cô cũng như bạn đọc để giúp tôi hoàn thiện hơn nữa

Em  xin chân thành cảm ơn cô giáo : Nguyễn Thị Thu Hà đã tận tình giúp đỡ trong quá trình  hoàn thiện đề tài

Cháu cũng xin chân thành cảm ơn các bác ,các cô chú và các anh chị phòng Thẩm định- Xây dựng cơ bản và phòng Tổng hợp Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Tây đã cung cấp tài liệu và tận tình hướng dẫn.

                                                                             Sinh viên thực hiện                                                       

                                                                             Trương Bá Hiển

Chương I. Những vấn đề về lí luận chung

I. Bản chất và vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế

 

  1. 1.     Các khái niệm.

*Khái niệm chung về đầu tư

+Xét trên góc độ tiêu dùng: Đầu tư là hình thức hạn chế tiêu dùng hiện tại để thu được mức tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai

+Xét trên góc độ tài chính: Đầu tư là một chuỗi các hoạt động chi tiêu để chủ đầu tư nhận về một chuỗi các dòng thu nhằm hoàn vốn và sinh lời.

Khái niệm trình bày ở trên về đầu tư được xem xét ở hai khía cạnh khác nhau, do vậy rất khó cho việc nghiên cứu và hiểu chính xác về nó . Chính vì vậy, các nhà kinh tế đã đưa ra khái niệm trung nhất về đầu tư.

    Đầu tư : là sự bỏ vốn ra cùng với các nguồn lực khác( như tiền của, sức lao động, trí tuệ…) trong hiện tại để tiến hành một hoạt động nào đó hoặc tạo ra hay khai thác sử dụng một tài sản nào đó ngằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai.

*Khái niệm đầu tư phát triển:

Trong đầu tư thì người ta lại chia thành các loại đầu tư cụ thể như sau:

+ Đầu tư thương mại

+Đầu tư tài chính

+Đầu tư phát triển

Đầu tư phát triển là loại đầu tư trong đó  người có tiền bỏ vốn ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế làm tăng tiềm lực sản xuấ kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm và nâng cao đời sống của người dân trong xã hội.

*Khái niệm vốn đầu tư.

Trong đầu tư người ta cũng hay đề cập đến một thuật ngữ là vốn đầu tư, đây chính là yếu tố quyết định tính chất qui mô của dự án.

+ Dưới hình thái tiền tệ : Vốn đầu tư là khoản tiền tích luỹ của xã hội ,của các cơ sở sản xuất kinh doanh , dịch vụ; là tiền tiết kiệm của dân và huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì các tiềm lực sẵn có vào tạo ra những tiềm lực mới cho nền kinh tế.

+ Dưới hình thái vật chất : Vốn đầu tư bao gồm các loại máy móc thiết bị, nhà xưởng ,các công trình hạ tầng cơ sở, các loại nguyên liệu ,vật liệu,các sản phẩm trung gian khác…

Vốn đầu tư là yếu tố không thể thiếu được của các công cuộc đầu tư.Trong nền kinh tế phát triển , vai trò của vốn đầu tư là tối quan trọng, nó góp phần tạo sự phát triển mạnh cho nền kinh tế

*Khái niệm hoạt động đầu tư :là việc sử dụng vốn đầu tư để phục hồi năng lực sản xuất và tạo ra năng lực sản xuất mới, đó là quá trình chuyển hoá vốn thành các tài sản phục vụ cho quá trình sản xuất.

 

2.Phân loại hoạt động đầu tư.

Hoạt động đầu tư  có thể được phân chia theo nhiều cách khác nhau, phụ thuộc vào mục đích của người nghiên cứu và các nhà quản lí đầu tư. Sau đây là một số cách phân loại chính:

  • Theo đối tượng đầu tư :

+ Đầu tư vật chất ( đầu tư tài sản vật chất hoặc tài sản thực như nhà xưởng ,máy móc thiết bị…)

+ Đầu tư tài chính :

  • Theo cơ cấu sản xuất :

+ Đầu tư chiều rộng: nhằm mở rộng sản xuất ,đòi hỏi lượng vốn lớn có tính chất kĩ thuât phức tạp trong thời gian dài

+ Đầu tư chiều sâu : nhằm nâng cao trình độ khoa học công nghệ, lượng vốn không lớn và tính chất kĩ thuật không phức tạp, và thời gian không dài…

  • Theo phân cấp quản lí

+ Dự án nhómA do thủ tướng quản lí

+Dự án nhóm B,C  do bộ ,cơ quan ngang bộ hoặc UBND các tỉnh, thành phố quản lí

  • Theo nguồn vốn huy động

+ Vốn huy động trong nước

+Vốn huy động từ nước ngoài.

  • Theo thời gian :

+ Đầu tư ngắn hạn

+ Đầu tư trung hạn

+ Đầu tư dài hạn

  • Theo vùng lãnh thổ: phản ánh tình hình đầu tư của từng vùng kinh tế, từng tỉnh

Ngoài các hình thức phân loại trên , còn có các hình thức phân loại khác mà không được nêu trong bài này. Do vậy tuỳ theo mục đích mà người ta có thể lựa chọn sử dụng từng cách phân loại cho phù hợp

3.Vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế

Từ trước tới nay khi nói về đầu tư, không một nhà kinh tế học nào và không một lí thuyết kinh tế nào lại không nói đến vai trò to lớn của đầu tư đối với nền kinh tế . Có thể nói rằng đầu tư là cốt lõi là động lực cho sự tăng truởng và phát triển nền kinh tế

3.1 Tác động tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế.

Đầu tư tác động mạnh tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế. Mức độ tác động cũng như thời gian ảnh hưởng là khác nhau.

Đối với tổng cầu: Đầu tư là một yếu tố cực kì quan trọng cấu thành tổng cầu.  Bởi vì , đầu tư một mặt tạo ra các sản phẩm mới cho nền kinh tế   mặt khác nó lại tiêu thụ và sử dụng một khối lượng lớn hàng hoá và dịch vụ trong quá trình thực hiện đầu tư. Do vậy, xét về mặt ngắn hạn đầu tư tác động trực tiếp tới tổng cầu theo một tỉ lệ thuận- Mỗi sự thay đổi của đầu tư đều ảnh hưởng tới ổn định của tổng cầu nền kinh tế.

Đối với tổng cung: Ta biết rằng,tiến hành một công cuộc đầu tư đòi hỏi một nguồn lực, một khối lượng vốn lớn , thành quả (hay các sản phẩm và dịch vụ mới của  nền kinh tế) của các công cuộc đầu tư đòi hỏi một thời gian khá dài mới có thể phát huy tác dụng . Do vậy, khi các thành quả này phát huy tác dụng   làm cho sản lượng của nền kinh tế tăng lên. Như vậy , đầu tư có tính chất lâu dài và nó sẽ làm cho đường tổng cung dài hạn của nền kinh tế tăng lên .

Qua sự phân tích trên ta thầy rằng , đầu tư ảnh hưởng mạnh tới cả tổng cung và tổng cầu. Bởi vì, xét về mặt cầu thì đầu tư tiêu thụ một khối lượng lớn hàng hoá và dịch vụ cho nền kinh tế nhưng  đứng về mặt cung thì nó làm cho sản xuất gia tăng, giả cả giảm, tạo công ăn việc làm và làm tăng thu nhập từ đó kích thích tiêu dùng. Mà sản xuất phát triển chính là nguồn gốc của phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện để cải thiện đời sống con người.Như vậy đầu tư là  nhân tố cho sự tăng trưởng và phát triển một nền kinh tế.

3.2 Ảnh hưởng hai mặt tới sự ổn định nền kinh tế.

Khi nghiên cứu về đầu tư ai cũng hiểu rằng đầu tư luôn có một độ trễ nhất định, tức là “đầu tư hôm nay , thành quả mai sau”. Ngoài ra do đầu tư có ảnh hưởng tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế không ăn khớp về thời gian do vậy nó có thể phá vỡ sự ổn định của một nền kinh tế.Nếu đầu tư tốt   nó có thể giúp cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển . Ví dụ như các nước NICs, do có đầu tư hiệu quả nên từ những nước còn nghèo đã trở thành những nước công nghiệp với nền kinh tế công nghiệp tương đối phát triển.

Giả sử bây giờ ta tăng đầu tư trong nước, khi đó làm cho nhu cầu tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ liên quan đến công cuộc đầu tư như máy móc , thiết bị sức lao động, nguyên vật liệu… tăng theo . Điều đó làm cho tổng cầu của nền kinh tế của những loại hàng hoá này tăng lên, theo qui luật cung cầu của kinh tế dẫn đến giả cả của những hàng hoá này cũng tăng lên một cách mạnh mẽ, và đến một mức độ nào đó có thì dẫn tới lạm phát ,với tỷ lệ có thể là rất cao. Khi lạm phát xảy ra, giá cả tăng vọt, dẫn đến các chi phí đầu vào cho sản xuất tăng lên dấn đến sản xuất bị đình trệ, và người lao động thất nghiệp , nền kinh tế bị giảm thu nhập và đời sống của các tầng lớp dân cư bị gảm sút. Tất cả những điều đó làm cho nền kinh tế lâm vào khủng hoảng trì trệ và làm giảm tốc độ phát triển. Tuy nhiên nếu các quốc gia điều tiết đầu tư thì không những khắc phục được những ảnh hưởng tiêu cực mà còn làm cho nó trở thành động lực cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.

3.3 Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển nền kinh tế .

Ta thấy rõ rằng đầu tư có ảnh hưởng đến tổng cung và tổng cầu và tác động đến sự ổn định của nền kinh tế . Như vậy, sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế sẽ chịu ảnh hưởng rất lớn của đầu tư .

Để xem xét cụ thể ta có thể sử dụng hàm Harrod- Domar để minh hoạ mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và vốn đầu tư .

i

k = ———–

g

Trong đó:          + k: hệ số gia tăng vốn trên sản lượng hay hệ số ICOR

+ i: Vốn đầu tư

+ g: Mức tăng GDP

i

Từ đó suy ra :          g = ————-

k

Như vậy, nếu ICOR không đổi thì tốc độ tăng trưởng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư hay nói cách khác đầu tư quyết định sự tăng truởng của nền kinh tế.

Đối với mỗi quốc gia khác nhau ICOR cũng khác nhau ,nó tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội và cơ chế chính sách của nhà nước .Đối với các nước đang phát triển có ICOR thấp còn các nước phát triển  ngược lại . Đồng thời chỉ số ICOR của nhiều ngành kinh tế là khác nhau , trong đó ICOR trong nông nghiệp thường là rất thấp tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp cũng không cao.

Ngoài ra đầu tư còn làm tăng năng suất lao động,chất lượng sản phẩm ,năng lực sản xuất do vậy thay đổi tốc độ phát triển kinh tế . Vì vậy đối với mỗi quốc gia cần có một chính sách thích hợp để huy động vốn và đầu tư có hiệu quả nhằm nâng cao tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế nước mình .

3.4 Đầu tư tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế .

Một quốc gia được coi là phát triển khi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp -dịch vụ -nông nghiệp trong đó công nghiệp và dịch vụ chiếm một tỷ lệ cao trong GDP của nước đó . Bởi vì nông nghiệp do nhiều hạn chế về điều kiện tự nhiên và khả năng sinh học của cây trồng vật nuôi nên chỉ có tốc độ tăng trưởng tối đa từ 5-6% .Do vậy khi công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ lệ cao , nó có khả năng đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước đó lên cao 9-10% năm . Muốn vậy chúng ta phải chính sách đầu tư thoả đáng .Mỗi nước cần tăng cường tỷ lệ đầu tư cho công nghiệp và dịch vụ và có nhiều chính sách phát huy hiệu quả của đầu tư có vậy thì mới có công nghiệp và dịch vụ phát triển .

Trong nông nghiệp ta cũng nên đầu tư nhiều hơn cho chăn nuôi bởi chăn nuôi thường có tỷ lệ tăng trưởng mạnh hơn trồng trọt .

Còn đối với cơ cấu vùng lãnh thổ một quốc gia phát triển thường có cơ cấu kinh tế lãnh thổ cân đối và đồng đều giữa các vùng trong cả nước .Do vậy bên cạnh việc đầu tư trọng điểm để phát triển thành thị và các vùng đồng bằng chúng ta cũng cần có chính sách để đầu tư phát triển kinh tế các vùng núi và nông thôn để vừa phát triển kinh tế xã hội vừa tạo sự cân bằng ổn định trong nước.

3.5. Đầu tư góp phần nâng cao trình độ khoa học công nghệ :

Ta biết rằng khoa học công nghệ là trung tâm của đời sống kinh tế xã hội hiện đại. Một đất nước, một quốc gia chỉ phát triển được khi có khoa học công nghệ tiên tiến và hiện đại. Ở các nước phát triển, họ có mức đầu tư lớn, có quá trình phát triển lâu dài nên trình độ khoa học công nghệ của họ hơn hẳn các nước khác trên thế giới. Khi họ áp dụng các thành tựu này làm cho nền kinh tế có mức độ tăng trưởng mạnh mẽ, đời sống nhân dân nâng cao. Còn đối với các nước đang phát triển, do công nghệ nghèo làn, lạc hậu lại không có điều kiện để nghiên cứu phát triển khoa học kĩ thuật nền kinh tế phát triển rất thấp, sản xuất kém phát triển và bị phụ thuộc vào các nước công nghiệp . Muốn thoát khỏi tình trạng này thì các nước phải tăng cường đầu tư và tìm cách thu hút đầu tư từ bên ngoài vào trong nền kinh tế. Đầu tư ở đây được hiểu là các nước này thu hút công nghệ hiện đại bên ngoài phù hợp đồng thời tổ chức nghiên cứu để phát minh ra các công nghệ mới hiện đại hơn. Quá trình công nghiệp hoá  hiện đại của các nước này có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc đầu tư phát triển khoa học công nghệ.Có thể khẳng định rằng đầu tư khoa học công nghệ là một chính sách cực kì quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội.

  •  Ngoài các vai trò chính yếu trên,đầu tư còn có một vài vai trò khác như làm tăng ngân sách cho chính phủ, góp phần làm ổn định đất nước, mở rộng ảnh hưởng của quốc gia…

    Qua việc phân tích trên ta có thể khẳng định rằng đầu tư là chìa khoá cho sự phát triển của mỗi quốc gia và cho toàn thế giới.

4.Quản lí đầu tư.

Đây là hoạt động có ảnh hưởng rất mạnh tới kết quả và hiệu quả đầu tư của một đất nước nói chung, của một ngành kinh tế nói riêng

4.1 Khái niệm

Quản lí đầu tư chính là sự tác động liên tục , có tổ chức, có định hướng quá trình đầu tư ( bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư cho đến khi thanh lí tài sản do đầu tư tạo ra ) bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế xã hội và tổ chức kĩ thuật cùng các biện pháp khác nhằm đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao trong những điều kiên cụ thể và trên cơ sở vận dụng sáng  tạo những qui luật kinh tế.

4.2 Mục tiêu của quản lí đầu tư : được xem xét dưới hai góc độ

  • Vĩ mô:

+ Đáp úng tốt nhất việc thực hiện các mục tiêu của chiến lược phát triển ngành trong từng thời kì nhất định

+ Huy động tối đa và sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực trong và ngoài nước

+ Đảm bảo quá trình thực hiện đầu tư xây dựng các công trình theo đúng qui hoạch, kiến trúc định ra

  • Vi mô

Đó là việc đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất với chi phí bỏ ra thấp nhất trong một giai đoạn nhất định. Mục tiêu này được cụ thể trong từng giai đoạn của quá trình đầu tư . Mục tiêu này ở các cơ sở, nếu thực hiện tốt sẽ làm cho các công cuộc đầu tư của nó đạt kết quả cao và thúc đẩy cơ sở đó đi lên

4.3 Các nguyên tắc

  • Thống nhất giữa lãnh đạo chính trị, kinh tế; kết hợp hài hoà giữa hai mặt kinh tế và xã hội. Nguyên tắc này đòi hỏi ngành kinh tế vừa phải phát triển nhưng mặt khác nó phải theo định hướng chung của Đảng và nhà nước và tạo công ăn việc làm , tăng thu nhập cho người lao động
  • Tập trung dân chủ:Đòi hỏi mỗi ngành kinh tế phải được đạt dưới một sự lãnh đạo thống nhất của nhà nước nhưng những ddịnh hướng , chiến lược chúng phải nhận được sự đóng góp của cấp dưới. Bên cạnh hướng phát triển chung thì mỗi ngành kinh tế ở mỗi địa phương có thể tuỳ theo đặc điểm của mình mà có những chính sách phát triển phù hợp
  • Quản lí theo ngành kết hợp với quản lí theo địa phương , vùng lãnh thổ.

Đòi hỏi tại mỗi địa phương , từng ngành phải phát triển trong tổng thể chung của địa phương đó, dảm bảo sự phát triển toàn diện các ngành kinh tế ở địa phương.

  • Kết hợp hài hoà giữa các loại lợi ích : nó đòi hỏi mỗi công cuộc đầu tư không chỉ đáp ứng đơn thuần là lợi ích tài chính mà còn phải đáp ứng cả lợi ích xã hôi, lợi ích cộng đồng.
  • Tiết kiệm và hiệu quả: đòi hỏi một ngành với vốn đầu tư nhất định, ít các chi phí mà thu được hiệu quả cac nhất
  • Phải đảm bảo thực hiện đúng trình tự đầu tư và xây dựng

Quản lí hoạt động đầu tư có vai trò quan trọng đối với sự thanh công của các công cuộc đầu tư ở mỗi ngành, mỗi địa phương và trên cả đất nước.

5. Kế hoạch hoá đầu tư :

Nó vừa là nội dung, vừa là một công cụ để quản lí hoạt động đầu tư. Công tác kế hoạch hoá đầu tư có tính chất hướng dẫn ,địn hướng cho việc thực hiện đầu tư sau đó

5.1 Các nguyên tắc

+ Kế hoạch đầu tư của ngành phải xuất phát từ yêu cầu chung của đường lối phát triển ngành đó, của cả nền kinh tế và nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước.

+ Phải đảm bảo qui luật khách quan, khoa học và tính hiện thực của các phương án.

+ Kết hợp tốt về các mặt trong ngành kinh tế đó: tạo điều kiện khai thác hết các tiềm năng của ngành, để nó phát triển toàn diện hơn

Kết Luận

 

         Có thể nói trong thời gian vừa qua đầu tư phát triển nông nghiệp tỉnh Hà Tay đã đạt nhiều thành công to lớn. Có được kết quả như vậy là do toàn tỉnh Hà Tây thực hiện tốt các công tác đầu tư phát triển. Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng đầu tư đã góp phần cực kì quan trong trong sự đi lên của nông nghiệp tỉnh, đóng góp không nhỏ vào công cuộc công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn. Trong tương lai ,để ngành nông nghiệp tiếp tục phát triển chúng ta phải chú trọng đầu tư cho nông nghiệp và phải có những biện pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả đầu tư cho nông nghiệp. Trên cơ sở nghiên cứu tình hình đầu tư phát triển nông nghiệp  , bài viết này đưa ra một số giải pháp , ý tưởng nhằm đóng góp phần nào vào việc nâng cao hơn nữa hiệu quả của đầu tư nông nghiệp tỉnh Hà Tây .Cũng có thể khẳng định rằng, đầu tư là đòi hỏi tất yếu của quá trình phát triển nông nghiệp tỉnh Hà Tây, không có đầu tư thì nông nghiệp  không thể phát triển.

Danh mục tài liệu tham khảo

  1. Dự thảo các văn kiện trình đại hội IX của Đảng.
  2. Giáo trình kinh tế đầu tư. PGS . PTS Nguyễn Ngọc  Mai. NXB giáo dục
  3. Đầu tư trong nông nghiệp: Thực trạng và triển vọng Nguyễn Sinh Cúc , Nguyễn Văn .NXB Chính trị quốc gia
  4. Giáo trình kinh tế phát triển. NXB thống kê
  5. Nông nghiệp và nông thôn trong giai đoạn CNH- HĐH. NXB Khoa học xã hội
  6. Chính sách thương mại, đầu tư  và sự phát triển một số ngành công nghiệp chủ lực của Việt Nam.TS Võ Đại Lược. NXB Khoa học xã hội
  7. Tạp chí con số và sự kiện các số :1+2, 4 ( năm 2001)
  8. Tạp chí kinh tế và dự báo
  9. Báo nông nghiệp Việt Nam
  10. Báo Tài Chính : Số 5( 1998), 7( 1999)
  11. Báo cáo kết qủa thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản nông nghiệp tỉnh Hà Tây. !996 – 2000
  12. Kế hoạch và tình hình thực hiện kế hoạch vốn ngân sách tỉnh Hà Tây 1996 -2000
  13. Báo cáo thực hiện kinh tế xã hội nhiệm kì 1996 – 2000 và phương hướng nhiệm vụ 5 năm 2001 – 2005 – Đảng bộ tỉnh Hà Tây
  14. Chương trình an toàn đê điều và giải quyết úng hạn. Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn

 

Mục lục

Trang

Lời nói đầu                                                                                                1

Chương I. Những vấn đề về lí luận chung                                                3

I. Bản chất và vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế                     3

1.Các khái niệm chung                                                                           3

2. Phân loại hoạt động đầu tư                                                                 4

3.Vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế                                        5                3.1Tác động tới tổng cung và tổng cầu                                          5

3.2  Ảnh hưởng hai mặt đến sự ổn định kinh tế                      6

3.3 Tác động tới tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế                6

3.4 Nhân tố quan trọng tác động đến quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế                                                                      7

3.5 Nâng cao trình độ khoa học công nghệ và giải quyết

việc làm                                                                             8

4.Quản lí hoạt động đầu tư                                                           9

4.1Khái niệm                                                                          9

4.2 Mục tiêu của quản lí đầu tư                                                        9

4.3 Nguyên tắc                                                                        9

5.Kế hoạch hoá đầu tư                                                                            10

5.1 Nguyên tắc                                                                        10

5.2 Trình tự lập kế hoạch đầu tư                                                      11

5.3 Điều kiện để dự án được ghi vào kế hoạch                        11

II. Đầu tư- nhân tố quyết định đối với phát triển nông nghiệp    11

1.Giới thiệu về nông ngiệp                                                            11

1.1.Khái niệm nông nghiệp                                                     12

1.2Đặc điểm  nông nghiệp nói chung                                                12

1.3Đặc điểm nông nghiệp Việt Nam                                       15

1.4. Vai trò của nông nghiệp                                                   17

2.Đầu tư- nhân tố quyết định đối với phát triển nông nghiệp                 19

3. Đặc trưng đầu tư trong nông nghiệp                                         22

4. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư trong nông nghiệp                  24

 Chương II. Thực trạng đầu tư phát triển nông nghiệp Hà Tây               26

I.Những nguồn lực cho sự phát triển nông nghiệp Hà Tây           26

1.Giới thiệu  các nguồn lực  Hà Tây                                                       26

1.1 Điều kiện tự nhiên                                                             26

1.2 Dân số và lao động                                                           29

2.Những thuận lợi và thách thức.                                                  30

2.1Thuận lợi                                                                                     30

2.2Thách thức                                                                         31

II.Tổng quan về tình hình đầu tư tỉnh Hà Tây

          (giai đoạn 1996 – 2000)                                                                    31

1.Theo nguồn vốn                                                                                  31

2.Theo cơ cấu ngành kinh tế                                                                   34

3.Theo cấp quản lí                                                                        35

III. Tình hình đầu tư phát triển nông nghiệp Hà Tây

        ( giai đoạn 1996- 2000)                                                            37

1.Theo cơ cấu vốn đầu tư                                                              37

1.1Vốn ngân sách nhà nước                                                    39

1.2 Vốn từ thuế nông nghiệp                                                  42

1.3 Vốn tự cân đối                                                                            46

1.4 Vốn tín dụng ưu đãi                                                          48

2.Theo cơ cấu lĩnh vực đầu tư                                                       49

3.Theo vùng lãnh thổ                                                                    52

IV. Kết quả và hiệu quả đầu tư vào nông nghiệp tỉnh Hà Tây    54

1.Kết quả đầu tư                                                                                     54

1.1Ảnh hưởng chung tới sự phát triển kinh tế toàn tỉnh                   54

1.2Đối với sản xuất nông nghiệp                                            56

1.3Tác động đến cơ cấu nông nghiệp                                                59

1.4Đối với hệ thống thuỷ lợi                                                   63

2.Hiệu quả đầu tư                                                                         64

2.1Chỉ tiêu GDP/GO                                                               64

2.2Chỉ tiêu GDP/Vốn đầu tư                                                   65

2.3Chỉ tiêu GDP tăng thêm/ vốn đầu tư                                  65

2.4Chỉ tiêu Bình quân lương thực qui thóc                              66

2.5 Chỉ tiêu Hiệu quả lao động                                                         66

Chương III. Phương hướng và giải pháp cho đầu tư phát triển

                      nông nghiệp Hà Tây                                                  68

I.Định hướng phát triển nông nghiệp                                            68

1.Định hướng chung của Đảng và nhà nước                                  68

2.Định hướng phát triển nông nghiệp của tỉnh Hà Tây                          69

II .Những vấn đề tồn tại trong thời gian qua                                 70

III. Một số giải pháp cho đầu tư phát triển nông nghiệp              71

1 .Giải pháp về chính sách đầu tư                                                          71

1 .1Chính sách của các cấp chính quyền    `                            71

1. 2 Qui hoạch đầu tư trong nông nghiệp khoa học và hợp lí.          73

1. 3 Đầu tư nông nghiệp đi liền với đầu tư cho công nghiệp

chế biến                                                                                       75

2.Giải pháp về huy động vốn                                                                 75

2.1 Đối với vốn đầu tư của doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư    76

2.2 Đối với nguồn vốn nước ngoài                                          77

2.3 Có những chính sách ưu tiên đối với đầu tư và sản xuất

trong nông nghiệp                                                                     78

3.Quản lí hoạt động đầu tư                                                           79

IVKiến nghị                                                                                     82

Kết luận                                                                                           83

 

�(<l �1 �2 ng=0 cellspacing=0 width=”100%”>

Tr­êng §¹i häc Kinh tÕ quèc d©n

Bé m«n Kinh tÕ §Çu t­

@&?

 

Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp

§Ò tµi: §Çu t­ trùc tiÕp n­íc ngoµi cña Nies vµo ViÖt Nam

Gi¸o viªn h­íng dÉn  :   ThÇy NguyÔn Hång Minh

Sinh viªn                              :    Tr­¬ng B¸ §«ng

Líp                               :    Kinh tÕ §Çu t­ 41C

Sinh viªn : vò trung dòng

Líp            :  t®h 2- k44

Hµ Néi -3/2003

 

 

LỜI NÓI ĐẦU

Đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay đang diễn ra trên quy mô toàn cầu với khối lượng và nhịp độ chu chuyển ngày càng lớn. Bên cạnh việc phát huy nguồn lực trong nước, tận dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là một sự thông minh để rút ngắn thời gian tích lũy vốn ban đầu, tạo nên tiền đề vững chắc, cho phát triển kinh tế, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển. Chính vì lẽ đó mà FDI được coi như “chiếc chìa khóa vàng” để mở ra cánh cửa thịnh vượng cho các quốc gia.

Việt Nam cũng không thể đứng ngoài trước luồng xoáy của sự vận động kinh tế thế giới đang diễn ra từng ngày, từng giờ này. Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành năm 1987 đánh dấu bước khởi đầu quá trình mở cửa nền kinh tế, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, kết hợp chặt chẽ việc phát huy có hiệu quả các nguồn lực trong nước với việc thu hút tối đa các nguồn lực bên ngoài cho chiến lược phát triển kinh tế.

Trong những năm gần đây, tốc độ thu hút FDI của Việt Nam đã giảm xuống một cách đáng lo ngại, một trong những nguyên nhân cơ bản của hiện tượng này là cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực đã làm cho tốc độ đầu tư của các nước NIEs Đông Á vào Việt Nam giảm  xuống đáng kể. Ngay từ những năm đầu của quá trình thực hiện thu hút FDI, các nước và lãnh thổ NIEs là những đối tác đầu tư mạnh nhất cả về số dự án đầu tư cũng như về quy mô vốn đầu tư trong số 72 nước lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Sự giảm sút đầu tư trực tiếp của NIEs đã có tác động xấu đến quá trình thu hút và sử dụng vốn FDI tại Việt Nam, năm 2002 các nền kinh tế nói chung đã phần nào phục hồi trở lại, do đó Việt Nam  cần phải có các giải pháp để tiếp tục thu hút đầu tư nhiều hơn nữa của các nước này.  

 

 

 

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

I. Đầu tư và đầu tư nước ngoài.

1. Khái niệm.

Cho đến nay, đầu tư không phải là một khái niệm mới đối với nhiều người, nhất là đối với những người hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, thuật ngữ này lại được hiểu rẩt khác nhau. Có người cho rằng đầu tư là phải bỏ một cái gì đó vào một việc nhất định để thu lại một lợi ích trong tương lai. Nhưng cũng có người lại quan niệm đầu tư là các hoạt động sản xuất kinh doanh để thu lợi nhuận. Thậm chí thuật ngữ này thường được sử dụng rộng rãi, như câu cửa miệng để nói lên chi phí về thời gian, sức lực và tiền bạc vào mọi hoạt động của con người trong cuộc sống.

Vậy đầu tư theo đúng nghĩa của nó là gì? Những đặc trưng nào quyết định một hoạt động được gọi là đầu tư? Mặc dù vẫn còn có khá nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, nhưng có thể đưa ra một khái niệm cơ bản về đầu tư được nhiều người thừa nhận, đó là “đầu tư là việc sử dụng một lượng tài sản nhất định như vốn, công nghệ, đất đai, … vào một hoạt động kinh tế cụ thể nhằm tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm cho xã hội để thu lợi nhuận”. Người bỏ ra một số lượng tài sản được gọi là nhà đầu tư hay chủ đầu tư. Chủ đầu tư có thể là các tổ chức, cá nhân và cũng có thể là nhà nước.

Có hai đặc trưng quan trọng để phân biệt một hoạt động được gọi là đầu tư hay không, đó là: tính sinh lãi và độ rủi ro của công cuộc đầu tư. Thực vậy, người ta không thể bỏ ra một lượng tài sản mà lại không dự tính thu được giá trị cao hơn giá trị ban đầu. Tuy nhiên, nếu mọi hoạt động đầu tư nào cũng sinh lãi thì trong xã hội thì ai cũng muốn trở thành nhà đầu tư. Chính hai thuộc tính này đã sàng lọc các nhà đầu tư và thúc đẩy sản xuất – xã hội phát triển.

Qua hai đặc trưng trên cho thấy, rõ ràng mục đích của hoạt động đầu tư là lợi nhuận. Vì thế, cần hiểu rằng bất kỳ sự chi phí nào về thời gian, sức lực và tiền bạc vào một hoạt động nào đó mà không có mục đích thu lợi nhuận thì không thuộc về khái niệm về đầu tư.

2. Đầu tư nước ngoài.

2.1. Khái niệm: Đầu tư nước ngoài là sự dịch chuyển tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu.

2.2. Các hình thức đầu tư nước ngoài.

a. Theo tính chất quản lý: Đầu tư trực tiếp (FDI-Foreign Direct Investment) và đầu tư gián tiếp (PFI-Portfolio Foreign Investment).

Đầu tư gián tiếp thường do Chính phủ các nước, tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ của một nước cho một nước khác (thường là nước đang phát triển) vay vốn dưới nhiều hình thức viện trợ hoàn lại và không hoàn lại. Theo loại hình này bên nhận vốn có toàn quyền quyết định việc sử dụng vốn như thế nào để đạt được kết quả cao nhất, còn bên cho vay hoặc viện trợ không chịu rủi ro và hiệu quả vốn vay. Loại hình đầu tư này thường kèm theo điều kiện ràng buộc về kinh tế hay chính trị cho nước nhận vốn. Do vậy hình thức đầu tư này không chiếm tỷ trọng lớn trong vốn đầu tư quốc tế, nó thường chỉ dùng cho các nước đang phát triển có nhu cầu cấp thiết về vốn.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức mà trong đó các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư sang nước khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia quá trình sử dụng và thu hồi số vốn đầu tư bỏ ra.

FDI được thực hiện theo hai kênh chủ yếu: đầu tư mới (greenfield investment-GI) và mua lại&sát nhập (Mergers and Acquisitions-M&A). Đầu tư mới là các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và cũng là kênh đầu tư chủ yếu để các nhà đầu tư ở các nước phát triển đầu tư vào các nước đang phát triển. Ngược lại, không giống như GI, M&A là các chủ đầu tư tiến hành đầu tư thông qua việc mua lại và sát nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài. Kênh đầu tư này được thực hiện ở các nước phát triển, các nước mới công nghiệp hóa và rất phổ biến trong những năm gần đây. Ở Việt Nam, FDI được chủ yếu thực hiện theo kênh GI.

FDI nói chung là việc các thương gia đưa vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý ra nước ngoài và khống chế nguồn vốn đầu tư trong quá trình phát triển sản xuất kinh doanh theo lĩnh vực đầu tư đó. Xuất phát từ nhu cầu truy tìm lợi nhuận cao và giành được tiếng nói hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, các nhà đầu tư tiến hành đầu tư sang nước khác mà ở đó tập trung nhiều điều kiện thuận lợi hơn so với việc đầu tư trong nước như tranh đoạt thị trường ở nước sở tại, tranh thủ các ưu đãi về đầu tư, tận dụng nguồn nhân công rẻ, khai thác tài nguyên thiên nhiên… từ đó tối đa hóa lợi nhuận trên cùng một đồng vốn bỏ ra. Đối với các nước đang phát triển thì vấn đề vốn là hết sức cần thiết cho sự phát triển kinh tế – xã hội, trong khi đó việc huy động nguồn vốn trong nước không phải là dễ dàng, lại càng không thể chỉ dựa vào sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên để tiến hành tích lũy tư bản, do đó vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói chỉ được phá vỡ khi các nước này mở của để thu hút đầu tư nước ngoài.

FDI được xem là chất xúc tác không thể thiếu nhằm làm cho nền kinh tế có được sự tăng trưởng cao. Tuy nhiên, việc thu hút FDI sẽ gặp không ít khó khăn khi các nước đang phát triển có cơ sở hạ tầng còn yếu kém, luật pháp còn nhiều cản trở … Do đó các quốc gia sẽ phải cải thiện môi trường đầu tư thông thoáng hơn nữa tạo sự hấp dẫn hơn nữa để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.

b. Theo chiến lược đầu tư: Đầu tư mới và Mua lại & Sát nhập

– Đầu tư mới (Greenfield Investment): Là việc các chủ đầu tư thực hiện đầu tư mới ở nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và cũng là kênh chủ yếu để các nhà đầu tư các nước phát triển đầu tư vào nước đang phát triển.

– Mua lại và sát nhập (Mergers and Accquistions): Là hình thức khi các chủ đầu tư thông qua việc mua lại và sát nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài. Kênh này chủ yếu ở các nước phát triển NICs (Các nước công nghiệp mới).

c. Đầu tư theo chiều dọc và đầu tư theo chiều ngang.

– Đầu tư theo chiều dọc (Vertical Intergration – Tích hợp dọc): Các nhà đầu tư đi chuyên sâu vào một hoặc một vài mặt hàng. Ở các loại mặt hàng này các nhà đầu tư sản xuất từ A đến Z. Đây là hình thức khi nhà đầu tư thực hiện đầu tư ra nước ngoài với mục đích khai thác nguồn nhiên liệu tự nhiên và các yếu tố đầu vào rẻ (lao động, đất đai,…). Ưu điểm: Lợi nhuận cao vì lấy được ở tất cả các khâu nhưng rủi ro cao, thị trường không rộng.

– Đầu tư theo chiều ngang (Horizontal Intergration – Tích hợp ngang): Nhà đầu tư mở rộng và thôn tính thị trường nước ngoài cùng một loại sản phẩm có lợi thế cạnh tranh ở nước ngoài, hình thức này thường dẫn đến độc quyền. Theo hình thức này, nhà đầu tư tổ chức kinh doanh nhiều nhóm sản phẩm và hàng hóa trên phạm vi rộng. Hình thức này có ưu điểm rủi ro thấp nhưng lợi nhuận không cao.

HÌNH 1: CƠ CẤU VỐN ĐẦU TƯ QUỐC TẾ.

3. Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc Hội thông qua ngày             29/12/1987 và nhiều lần sửa đổi bổ sung cùng với một số lớn các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định: Các tổ chức, cá nhân nước ngoài được đầu tư vào Việt Nam dưới các hình thức:

* Hợp đồng hợp tác kinh doanh

* Doanh nghiệp liên doanh

* Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

3.1. Hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai hay nhiều bên (gọi là các bên hợp doanh) quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh tại Việt Nam mà không thành lập pháp nhân mới.

Hợp đồng hợp tác kinh doanh phải có sự tham gia hay bên hợp doanh là nước ngoài, hợp đồng này khác với các loại hợp đồng khác đó là nó phân chia kết quả kinh doanh và trách nhiệm cho các bên cụ thể được ghi trong hợp đồng, không áp dụng đối với hợp đồng thương mại, hợp đồng giao nhận sản phẩm, mua thiết bị trả chậm và các hợp đồng khác không phân chia lợi nhuận. Nội dung chính của hợp đồng này bao gồm:

– Quốc tịch, địa chỉ, đại diện có thẩm quyền của các bên hợp doanh

– Mục tiêu và phạm vi kinh doanh

– Sản phẩm chủ yếu, tỷ lệ xuất khẩu và tiêu thụ sản phẩm trong nước

– Quyền và nghĩa vụ của các bên hợp doanh

– Đóng góp của các bên hợp doanh, phân chia kết quả kinh doanh, tiến độ thực hiện hợp đồng

Trong quá trình kinh doanh các bên hợp doanh các bên hợp doanh được phép thỏa thuận thành lập ban điều phối để theo dõi giám sát công việc thực hiện hợp đồng, nhưng ban điều phối không phải là đại diện pháp lý cho các bên hợp doanh. Mỗi bên hợp doanh phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình trước pháp luật và có các nghiã vụ tài chính không giống nhau. Bên Việt Nam chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam theo luật doanh nghiệp mới ban hành. Bên nước ngoài chịu sự điều chỉnh của luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Trong quá trình hoạt động các bên hợp doanh được quyền chuyển nhượng vốn cho các đối tượng khác những cũng phải ưu tiên cho các đối tượng đang hợp tác.

Ưu điểm:

– Phát huy được năng lực sản xuất, người lao động có thêm việc làm, có thêm sản phẩm và thu nhập, công nhân và kỹ sư có có hội làm quen và học tập kinh nghiệm của họ.

– Là hình thức sản xuất theo hợp đồng phân chia sản phẩm, phía Việt Nam không chịu rủi ro.

Nhược điểm:

Hình thức này chỉ nhận được kỹ thuật trung bình, ở trình độ thấp so với nước ngoài, đòi hỏi hàm lượng lao động sống cao, chủ yếu nhà đầu tư khai thác lao động trẻ. 

3.2. Doanh nghiệp liên doanh.

Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai hay nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc Hiệp định ký giữa Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng kinh doanh.

Hợp đồng liên doanh là văn bản ký kết giữa các bên Việt Nam với các bên nước ngoài để thành lập doanh nghiệp liên doanh tại Việt Nam. Doanh nghiệp liên doanh có sự sở hữu hỗn hợp giữa bên Việt Nam và bên nước ngoài, được thành lập theo hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân mang quốc tịch Việt Nam, do đó phải tuân theo các quy định của pháp luật Việt Nam, chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn đóng góp đối với các khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính khác.

Vốn góp của bên nước ngoài và bên Việt Nam được gọi là vốn pháp định, theo quy định của Việt Nam thì tổng vốn pháp định phải lớn hơn hoặc bằng 30% tổng vốn đầu tư. Vốn góp của nước ngoài do các bên tự thỏa thuận nhưng không được thấp hơn 30% vốn pháp định, tất cả quy định này được ghi cụ thể trong điều lệ của công ty.

Ưu điểm:

– Nhập được kỹ thuật công nghệ tiên tiến của nước ngoài để nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới thế hệ sản phẩm, tăng thêm năng lực sản xuất trong nước.

– áp dụng được kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài, nâng cao trình độ quản lý của nước chủ nhà, đào tạo bồi dưỡng nhân tài.

– Nhà đầu tư nước ngoài quan tâm hơn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tạo điều kiện tốt để bảo vệ vốn đầu tư, tăng cường kiểm soát chất lượng sản phẩm, đưa sản phẩm ra thị trường thế giới trong thời gian liên doanh và sau liên doanh, tiết kiệm vốn đầu tư.

– Xí nghiệp liên doanh góp vốn chịu sự quản lý, kiểm tra của các cơ quan cấp trên tất cả các mặt hoạt động sản xuất, lưu thông, tài chính, kế hoạch.

– Nước chủ nhà vừa tận dụng được các khoản đầu tư, vừa khai thác được lợi thế trong nước (nguồn tài nguyên, lao động). Hình thức liên doanh đem lại cho nước chủ nhà không chỉ ở sự giàu có về tư liệu sản xuất mà còn ở sự lớn khôn nhanh chóng của người lao động. Nhờ sức mạnh liên doanh quốc tế đã nhanh chóng gắn nền kinh tế trong nước lại với thị trường thế giới. Kết quả là nền kinh tế không bị khép kín trong phạm vi quốcd  gia, sự liên doanh hợp tác quốc tế ngày càng phát triển càng trở thành động lực cho nền kinh tế trong nước.

Nhược điểm: 

Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài là một hình thức kinh tế hỗn hợp giữa các bên có chế độ chính trị khác nhau nên dễ dẫn đến mâu thuẫn nội bộ tranh chấp quyền lợi. Phía trong nước mà năng lực yếu kém thì liên doanh không tồn tại lâu dài.

3.3. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

Đây là hình thức doanh nghiệp được thành lập tại nước sở tại, có tư cách pháp nhân riêng theo luật của nước sở tại với 100% vốn của đối tác nước ngoài. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài do phía nước ngoài toàn quyền quản lý, điều hành doanh nghiệp, tự do tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi pháp luật nước chủ nhà quy định.

Ưu điểm: 

– Dùng hình thức này sẽ không nguy hiểm và không chịu rủi ro, nó làm tăng thêm một số sản phẩm và lợi nhuận mà nhà nước không phải bỏ vốn và điều hành doanh nghiệp. Nó chỉ là hợp đồng cho thuê, nhà đầu tư đi thuê không thể trở thành sở hữu tài sản. Quyền sở hữu vẫn là của nước sở tại.

– Vì không phải chia sẻ quyền sở hữu và lợi nhuận nên hình thức này có ưu điểm là nhà đầu tư nước ngoài rất tích cực đầu tư, thiết bị, công nghệ mới, tích cực đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động, cán bộ quản lý xí nghiệp.

Nhược điểm:

Sự kiểm tra, kiểm soát đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài bị hạn chế. Nguồn nguyên liệu, vật liệu của doanh nghiệp nằm ngoài hệ thống cân đối quốc gia.

3.4. Hình thức hợp đồng xây dựng – kinh doanh –  chuyển giao.

* Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT): là văn bản ký kết giữa Cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật (như cầu đường, sân bay, bến cảng, …tại Việt Nam) trong một khoảng thời gian nhất định. Với hình thức này, các chủ đầu tư chịu trách nhiệm tiến hành xây dựng và kinh doanh công trình trong một thời gian để thu hồi đủ vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý. Sau khi dự án kết thúc, toàn bộ công trình sẽ được chuyển giao cho nước chủ nhà mà không thu bất cứ khoản tiền nào.

 * Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO): với hình thức này, sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình cho nước chủ nhà. Chính phủ nước chủ nhà giành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong thời gian nhất định để thu hồi đủ vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý.

* Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT): với hình thức này, sau khi xây dựng xong, chủ đầu tư chuyển giao công trình cho nước chủ nhà. Nước chủ nhà sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi đủ vốn đầu tư.

Ưu điểm:

Các nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm về giá trị sử dụng và độ an toàn đối với công trình của mình trong một khoảng thời gian do hợp đồng quy định sau khi chuyển giao. Ưu điểm cơ bản của hợp đồng này là nhà đầu tư sẽ tiêu thụ một khối lượng lớn thiết bị tại nước ngoài theo các ưu đãi, còn bên nước sở tại thì sẽ được cả công trình hoàn chỉnh mà không cần phải bỏ vốn ra quá lớn ban đầu. Do không phải bỏ vốn đầu tư ban đầu nên việc xây dựng các công trình này sẽ không gây hậu quả cho nền tài chính quốc gia. Bù lại, nhà đầu tư nước ngoài được hưởng nhiều ưu đãi về thuế, tạo thuận lợi về thủ tục được chính phủ bảo hộ vốn đầu tư và các quyền lợi hợp pháp khác.

Nhược điểm:

Dự án BOT, BTO, BT có mức độ rủi ro khá cao đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống pháp lý hoàn thiện và hợp lý để áp dụng cụ thể hình thức này.

3.5. Hình thức khu chế xuất, khu công nghiệp và khu công nghệ cao.

Khu chế xuất, khu công nghiệp và khu công nghệ cao là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất sản phẩm công nghiệp, sản phẩm dùng để xuất khẩu, sản phẩm công nghệ cao và các hoạt động dịch vụ phục vụ cho hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp này, có ranh giới địa lý xác định và không có dân cư sinh sống.

Thông thường các nước đang phát triển muốn thu hút được FDI thì phải đảm bảo các yếu tố cần thiết cho môi trường đầu tư như môi trường pháp lý, cơ sở hạ tầng … Ưu điểm của hình thức này: Thuận lợi về vị trí giao thông vận tải, thông tin liên lạc, tiếp cận thị trường. Nơi đây có cơ sở hạ tầng tốt, lao động dồi dào, thời gian thuê hợp lý và môi trường pháp lý thuận lợi, nhất quán.

II. VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN.

1. Một số mô hình về đầu tư nước ngoài.

1.1. Mô hình MacDougall – Kempt.

Mục tiêu của mô hình chỉ ra rằng, khi thực hiện đầu tư nước ngoài, năng suất cận biên của việc sử dụng vốn giữa các nước chủ nhà có xu hướng cân bằng. Kết quả là các nguồn lực kinh tế được sử dụng có hiệu quả, tổng sản phẩm gia tăng và đem lại sự giàu có cho nước tham gia đầu tư.

Mô hình được xây dựng dựa trên giả định như sau:

+ Nền kinh tế thế giới được thực hiện bởi nước đầu tư và nước chủ nhà, trong đó nước đầu tư có sự dư thừa vốn còn nước chủ nhà lại khan hiếm về vốn đầu tư.

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s