Thực trạng và một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hoạt động của BHXH thành phố Vinh


LỜI NÓI ĐẦU

Bảo hiểm xã hội(BHXH) là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới. So với các loại hình bảo hiểm khác, chức năng và tính chất của BHXH có những điểm khác biệt do bản chất của nó  chi phối.

Ở nước ta, BHXH là một chính sách lớn trong hệ thống an sinh xã hội. BHXH vừa mang tính kinh tế nhưng cũng mang tính nhân đạo của Nhà nước ta nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động trước những biến cố làm giảm hoặc mất thu nhập. Mục tiêu của Nhà nước là mở rộng đối tượng tham gia BHXH cho mọi người dân nhưng hiện nay mục tiêu đó chưa được thực hiện vì nhiều nguyên nhân. Trong công tác BHXH nói riêng còn có nhiều tồn tại cần được giải quyết.

BHXH cấp huyện là một bộ phận quan trọng trong hệ thống quản lý BHXH Việt Nam,  là cơ sở đầu tiên để thực hiện công tác BHXH. Thực hiện tốt hoạt động ở BHXH cấp huyện thì mới đảm bảo cho việc thực hiện của cả hệ thống. BHXH thành phố Vinh lă cơ quan BHXH cấp huyện trực thuộc sự quản lý dọc của BHXH tỉnh Nghệ An. Trong thời gian 4 tháng thực tập tại BHXH thành phố Vinh, em đã thu nhận được được một số kiến thức thực tế về công tác BHXH và em đã tiến hành thực hiện chuyên đề thực tập về đề tài: “Thực trạng và một số giải  pháp nhằm thực hiện tốt hoạt động của BHXH thành phố Vinh” nhằm xem xét và nghiên cứu thực trạng hoạt động của BHXH TP Vinh trong giai đoạn (1995-2002) để đóng góp một số giải pháp cho BHXH TP Vinh.

          Bài viết được chia làm 3 chương:

–         Chương 1: Lý luận chung về BHXH

–         Chương 2: Thực trạng thực hiện BHXH trên địa bàn thành phố Vinh

–         Chương 3: Phương hướng hoạt động và những biện pháp chủ yếu nhằm               thực hiện tốt hoạt động của BHXH TP Vinh.

Trong quá trình thực tập, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, hướng dẫn của các cán bộ công tác tại cơ quan thực tập, các giáo viên trong bộ môn và đặc biệt là sự hướng dẫn của thầy giáo Mạc Văn tiến trong việc chọn đề tài và hoàn thành bài viết. Nhưng do trình độ nhận thức và thời gian có hạn nên bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô giáo trong bộ môn giúp bài viết của em được hoàn thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn!

CHƯƠNG I:       LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH

I. BHXH VÀ SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA BHXH

1. Sự cần thiết

Con người muốn tồn tại và phát triển được trước hết phải ăn, mặc, ở và đi lại v..v…Để  thoả mãn những nhu cầu tối thiểu  đó, người ta phải lao động để làm ra những sản phẩm cần thiết. Khi sản phẩm tạo ra ngày càng nhiều thì đời sống con người ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn. Như vậy, việc thoả mãn những nhu cầu sinh sống và phát triển của con người  phụ thuộc vào chính khả năng lao động của họ. Nhưng trong thực tế, con người không chỉ lúc nào cũng gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường. Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác. Chẳng hạn, bất  ngờ bị ốm đau hoặc bị tai nạn trong lao động, mất việc làm hay khi tuổi già khả năng lao động hay khả năng tự phục vụ bị suy giảm v..v…Khi rơi vào những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới mhư: cần được khám và điều trị khi ốm đau; tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc nuôi dưỡng v..v…Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong một nội bộ cộng đồng; đi vay, đi mượn hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà nước v..v… Rõ ràng, những cách đó là hoàn toàn thụ động và không chắc chắn.

Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổ biến. Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã phải cam kết bảo đảm cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định đẻ họ trang trải những nhu cầu cần thiết khi ốm đau, tai nạn, thai sản…Trong thực tế,  nhiều khi  các trưòng hợp trên không xảy ra và người chủ không phải chi trả một  đồng nào. Nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ một lúc phải bỏ ra trong một lúc nhiều khoản tiền lớn   mà họ không muốn.Vì thế mâu thuẫn chủ- thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh   buộc chủ phải thực hiện cam kết. Cuộc đấu tranh này diền ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội. Do vậy, Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn. Sự can thiệp này một mặt làm tăng vai trò của Nhà nước, mặt khác buộc các giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với người làm thuê .Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Qũy này còn được bổ sung từ ngân sách Nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi gặp phải những biến cố bất lợi. Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao động được dàn trải, cuộc sống của người lao động  và gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định. Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết. Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng. Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo.

Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên được thế giới quan niệm là BHXH đối với người lao động. Như vậy, BHXH là sự đảm bảo  thay thế  hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả  năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần đảm an toàn xã hội .

2. Bản chất

–  BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội,  nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển đến một mức độ nào đó . Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện. Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay  BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước .

– Mối quan hệ giữa cái bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động  và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXHvà bên được BHXH. Bên tham gia BHXHchỉ có thể là nguười lao động hoặc cả người lao động và người sử dụng lao động. Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXHthông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ. Bên được BHXH là người lao động và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết.

– Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH có thể là  những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn trái với chủ quan của con người như : ốm đau, tai nạnlao động, bệnh nghề nghiệp…Hoặc cũng có thể  lã trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: tuổi già, thai sản v..v… Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài lao động.

– Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi  khi gặp phải những biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tập trung được tồn tích lại. Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước.

– Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục tiêu này đã được tổ chức quốc tế ILO  cụ thể hoá như sau:

+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ.

+ Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật.

+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư  và các nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em.

3. Chức năng của Bảo Hiểm Xã Hội

BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách bảo đảm xã hội của Đảng và Nhà nước ta, BHXH có những chức năng chủ yếu sau:

– Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia BHXH khi họ bị giảm hoặc mất  thu nhập  do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm. Sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi người lao động khi hết tuổi lao động  theo các điều kiện quy định của BHXH. Còn mất việc làm và mất khả năng lao động tạm thời làm giảm hoặc mất thu nhập, người lao động cũng sẽ được hưởng trợ cấp BHXH với mức hưởng phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết, thời điểm và thời hạn được hưởng phải đúng quy định. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động  của BHXH.

– Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà cả người  sử dụng lao động. Các bên tham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH. Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số người lao động tham gia  khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Số lượng  những người  này thường chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng số người tham gia đóng góp. Như vậy, theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang. Phân phối lại giữa những người có thu nhập cao và thấp, giữa người khỏe mạnh đang lao động với những người ốm yếu phải nghỉ việc v..v…Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội.

– Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâưng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. Khi khoẻ mạnh tham gia lao động sản xuất, người lao động được chủ sủ dụng lao động trả lương hoặc tiền công. Khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hoặc khi về già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất. Vì thế cuộc sống của họ và gia đình họ luôn được đảm bảo ổn định và có chỗ dựa. Do đó, người lao động luôn yên tâm, gắn bó tận tình với công việc, với nơi làm việc. Từ đó, họ rất tích cực lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế.  Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo năng suất lao động xã hội.

– Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người lao động với xã hội. Trong thực tế lao động sản xuất, người lao động và người sử dụng lao động vốn có những mâu thuẫn nội tại khách quan về tiền lương, tiền công, thời gian lao động…Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ được điều hoà và giải quyết. Đặc biệt, cả hai giới  này đều thấy nhờ có BHXH mà mình có lợi và được bảo vệ . Từ đó làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích được với nhau. Đối với Nhà nước và xã hội, chi cho BHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫn giải quyết được khó khăn về đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị xã hội được phát triển và an toàn hơn.

4. Tính chất của Bảo Hiểm Xã Hội

BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm xã hội, vì vậy tính xã hội của nó thể hiện rất rõ. Quỹ BHXH là một bộ phận của tổng sản phẩm quốc nội được xã hội tổ chức quản lí, bảo tồn và phân phối lại cho người lao động. Thực chất quỹ BHXH là một phần trong tổng sản phẩm quốc nội, trong đó người lao động chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ nhưng khi gặp rủi ro được cả cộng đồng trợ giúp để vượt qua khó khăn, hoạn nạn. Kết quả của sự phân phối lại đó tạo ra được sự bình đẳng hơn về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Chính từ đó góp phần tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng sức lao động, tạo thêm được nhiều điều kiện  thúc đẩy sản xuất có hiệu quả, tạo thêm được nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập đồng thời phát triển tốt hơn các dịch vụ xã hội phục vụ cho con người như y tế, giáo dục, văn hoá… Hoạt động BHXH không vì mục tiêu lợi nhận mà hoạt động vì mục đích bảo đảm sự phát triển lâu bền của nền kinh tế, góp phần ổn định và tiến bộ xã hội. BHXH mang tính chất nhân đạo, nhân văn, dùng tiền đóng góp khi còn trẻ khoẻ để dùng vào lúc tuổi già, đau yếu. Xét về lâu dài, mọi người  lao động trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH. Và ngược lại, BHXH phải có trách nhiện bảo hiểm cho mọi người lao động và gia đình họ, kể cả khi họ đang còn trong độ tuổi lao động.

Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó. Khi nền kinh tế – xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính xã hội hoá của BHXH cũng ngày càng cao.

II . NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BHXH

1. Khái niệm về BHXH 

BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động  khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.

2. Đối tượng của bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và đến nay đã được thực hiện  ở tất cả các nước trên thế giới. Tuy BHXH ra đời sớm như vậy nhưng một số khái niệm cơ bản của chúng như: đối tượng tham gia, đối tượng được bảo hiểm, đối tượng thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm đôi khi còn có sự nhầm lẫn và có nhiều quan điểm chưa thống nhất. Có nhiều lúc còn lẫn lộn giữa đối tượng BHXH với đối tượng tham gia BHXH.

Như chúng ta đã biết, BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị giảm hoặc bị mất  đi do người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm vì các nguyên nhân như: ốm đau, tai nạn, già yếu…Chính vì vậy, đối tượng bảo hiểm xã hội chính là thu nhập của người lao động bị biến động  giảm  hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm .

Người lao động trong quan hệ BHXH vừa là đối tượng tham gia, vừa là đối tượng được bảo hiểm và họ cũng là đối tượng được hưởng quyền lợi BHXH       (chiếm phần lớn trong các trường hợp phát sinh trách nhiệm BHXH).

Đối tượng tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà còn có người sử dụng lao động và Nhà nước. Sở dĩ người sử dụng lao động tham gia vào BHXH là vì phần họ thấy được lợi ích thiết thực khi tham gia BHXH, một phần là do sự ép buộc của Nhà nước thông qua các văn bản quy phạm pháp luật. Đối với Nhà nước thì khác, họ tham gia BHXH với tư cách là: chủ sở hữu lao động đối với tất cả công nhân viên chức và những người hưởng lương từ ngân sách. Nhà nước là người bảo hộ cho quỹ BHXH mà cụ thể là bảo hộ giá trị của quỹ BHXH, bảo hộ cho sự tăng trưởng của quỹ nhằm tạo sự ổn định cho quỹ và sự phát triển xã hội.

Đối tượng được bảo hiểm xã hội trong quan hệ BHXH ngoài người lao động  còn có người sử dụng lao động. Bởi vì, khi người lao động gặp rủi ro thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm giúp đỡ. Điều này  có nghĩa là họ phải bỏ ra một khoản chi phí cho ngưòi lao động, nhưng thực tế chi phí này nhanh chóng được cơ quan bảo hiểm hoàn trả lại.

Đối tượng được hưởng quyền lợi BHXH là ngưòi lao động trong trường hợp họ gặp rủi ro như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí. Nhưng trong trường hợp người lao động bị tử vong hoặc sinh đẻ thì đối tượng hưởng quyền lợi bảo hiểm xã hội lại là thân nhân của người lao động như: bố, mẹ, con, vợ ( chồng).

3. Phạm vi bảo hiểm xã hội

Theo công ước 102 tháng 6 năm 1952  tại Giơnevơ của tổ chức lao động quốc tế ILO phạm vi của BHXH là trợ cấp cho 9 chế độ sau:

  – Chăm sóc y tế

  – Trợ cấp ốm đau

  – Trợ cấp thất nghiệp

  – Trợ cấp tuổi già

  – Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

  – Trợ cấp gia đình

  –  Trợ cấp thai sản

  –  Trợ cấp khi tàn phế

  – Trợ cấp cho người còn sống( trợ cấp mất người nuôi dưỡng)

Tuỳ điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơnevơ   thực hiện kiến nghị đó ở mức độ kác nhau.

ở nước ta theo điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm 5 chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và chế độ tử  tuất .

4. Quỹ bảo hiểm xã hội

4.1. Khái niệm quỹ BHXH

Quỹ  BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước.

Quỹ BHXH là tập hợp đóng góp bằng tiền của các bên tham gia bảo hiểm: người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước nhằm mục đích chi trả cho các chế độ  BHXH và đảm bảo hoạt động của  hệ thống BHXH.

4.2.  Đặc điểm

– Là một quỹ tiền tệ tập trung, giữ vị trí là khâu tài chính trung gian trong hệ thống tài chính quốc gia. Là tổ chức tái chính nằm giao thoa giữa ngân sách nhà nướcvới các tổ chức tài chính Nhà nước, tài chính doanh nghiệp và sau đó là tài chính dân cư.

– Phân phối quỹ BHXH vừa mang tính hoàn trả, vừa mang tính không hoàn trả. Tính không hoàn trả của quỹ BHXH được áp dụng đối với người đã tham gia BHXH trong suốt quá trình lao động nhưng không ốm đau, tai nạn lao động, sinh con.

– Sự ra đời, tồn tại và phát triển của BHXH gắn liền với chức năng vốn có của nhà nước là vì quyền lợi của người lao động chứ không vì mục đích kiếm lời, đồng thời nó cũng phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội và điều kiện lịch sử trong từng thời kì của từng quốc gia. Khi  nền kinh tế càng phát triển thì càng có nhiều chế độBHXHđược thực hiện, và bản thân từng chế độ cùng được áp dụng rộng rãi hơn, nhu cầu thoả mãn về BHXH đối với người lao động càng được nâg caovà họ càng có khả năng tham gia vào nhiều chế độ bảo hiểm xã hội.

– Một mặt, quỹ BHXH mang tính tiêu dùng được thể hiện thông qua mục tiêu, mục đích của nó là chi trả cho các chế độ BHXH. Nhưng mặt khác nó lại mang tính dự trữ vì thông thường, khi người lao động đóng góp vào quỹ  BHXH  thì họ không được quỹ này chi trả ngay khi gặp rủi ro mà phải có đủ thời gian dự bị.

– Hoạt động của quỹ BHXH đặt ra yêu cầu và hình thành tất yếu chế độ tiết kiệm  bắt buộc của xã hội và người lao động dành cho ốm đau, hưu trí. Đó cũng là quá trình phân phối lại thu nhập của cá nhân và cộng đồng.

4.3. Nguồn hình thành quỹ BHXH

Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước.

Quỹ BHXH được hình  thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:

– Người sử dụng lao động góp.

– Người lao động góp.

– Nhà nước góp và hỗ trợ thêm.

– Các nguồn thu khác( như cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi do đầu tư phần nhàn rỗi…)

               Qt ­BH­ = Đ­­ + Đ­SDLĐ­+ Đ­NN­ + T­ĐT­ + T­TT­ +T­K

                         ­Trong đó : QT­­BH­  : Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm.

Đ­LĐ  ­ : Đóng góp của người lao động

Đ­­SDLĐ ­­: Đóng góp của chủ sở hữu lao động

­Đ­NN­   : Đóng góp và hỗ trợ của nhà nước

ĐT­     : Thu từ hoạt động đầu tư

TTT    : Thu từ viện trợ

K­      : Thu khác

   Trong nền kinh tế hàng hoá, trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH cho người lao động được phân chia  cho cả người sử dụng lao động và người lao động trên cơ sở quan hệ lao động. Điều này không phải là sự phân chia rủi ro, mà là lợi ích giữa hai bên. Về phía người sử dụng lao động, sự đóng góp  một phần BHXH cho người lao động sẽ tránh được thiệt hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn khi có rủi ro  xảy ra đối với người lao độngmà mình thuê mướn. Đồng thời nó còn góp phần giảm bớt tình trạng tranh chấp, kiến tạo được mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ– thợ. Về phía người lao động, sự đóng góp một phần  để BHXH cho mình vừa biểu hiện sự tự gánh chịu  trực tiếp rủi ro của chính mình,vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ.

Mối quan hệ chủ – thợ  trong BHXH thực chất là mối quan hệ lợi ích. Vì thế, cũng như nhiều lĩnh vực khác trong quan hệ lao động, BHXH không thể thiếu được sự tham gia đóng góp của Nhà nước. Trước hết các luật lệ của Nhà nước về BHXH là những chuẩn mực pháp lí mà cả người lao động và người sử dụng lao động đều phải tuân theo, những tranh chấp chủ thợ trong lĩnh vực BHXH  có cơ sở  vững chắc để giải quyết. Ngoài ra, bằng nhiều hình thức khác nhau, Nhà nước không chỉ tham gia đóng góp và hỗ trợ thêm cho quỹ BHXH, mà còn trở thành chỗ dựa để đảm báo cho hoạt động BHXH chắc chắn và ổn định.

Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêu trên.

Tuy nhiên, phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia BHXH  có khác nhau.

Về phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sủ dụng lao động hiện vẫn còn hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ vào mức lương cá nhânvà quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp. Quan điểm thứ hai lại nêu lên, phải căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối chung trong toàn bộ nền kinh tế quốc để xác định mức đóng góp.

Về mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động. Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả người lao động và người sử dụng lao động cùng đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau. Một số nước khác lại quy định, Chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí Quản lí BHXHv..v…

Nước ta, từ năm 1962 đến năm 19987, quỹ BHXH chỉ được hình thành từ hai nguồn: các xí nghiệp sản xuất vật chất đóng góp 4,7% quỹ lương của xí nghiệp, phần còn lại do ngân sách Nhà nước đài thọ. Thực chất là không tồn tại quỹ BHXH độc lập. Từ năm 1988 đến nay, các đơn vị sản xuất kinh doanh đóng góp 15% quỹ lương của đơn vị. Sau khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, Chính phủ đã ban hành rộng rãi Nghị định 43/CP ngày 22/ 06/ 1993 và Điều lệ BHXH Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định 12 /CP ngày  26/ 01/1995, trong các văn bản này đều quy định quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn sau đây:

– Người sử dụng lao động đóng góp 15% so với tổng quỹ tiền lương của những người tham gia BHXH trong đơn vị. Trong đó 10% để chi trả các chế độ hưu trí, tử tuất và 5% để chi các chế độ ồm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp .

– Người lao động đóng bằng 5% tiền lương tháng để chi các chế độ hưu trí và tử tuất.

– Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện  các chế độ BHXH đối với người lao động.

– Các nguồn khác.

Mức đóng góp BHXH thực chất là phí BHXH. Phí BHXH là yếu tố quyết định sự cân đối thu chi quỹ BHXH. Vì vậy, quỹ này phải được tính toán một cách khoa học. Trong thực tế, việc tính phí BHXH là một nghiệp vụ chuyên sâu của BHXH và người ta thường sử dụng các phương pháp toán học khác nhau để xác định. Khi tính phí BHXH, có thể có những căn cứ tính toán khác nhau:

– Dựa vào tiền lương và thang lương để xác định mức trợ cấp BHXH, từ đó có cơ sở xác định mức phí đóng.

– Quy định mức phí BHXH trước rồi từ đó mới xác định mức hưởng.

– Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác định mức hưởng, rồi từ mức hưởng BHXH này có thể xác định được mức phí phải đóng.

– Mặc dù chỉ thuần tuý mang tính kĩ thuật nhưng xác định phí BHXH  lại khá phức tạp vì nó liên quan cả đến người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước. Liên quan đến khả năng cân đối thu nhập của người lao động và điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, khi xác định phí BHXH vẫn phải đảm bảo các nguyên tắc: cân bằng thu chi, lấy số đông bù số ít và có dự phòng. Mức phí xác định phải được cân đối với mức hưởng, với nhu cầu BHXH và điều chỉnh sao cho tối ưu nhất.

Phí BHXH được xác định theo công thức:

                 P = f1+f2+f3

                  Trong đó : P : Phí BHXH

                                    f1: phí thuần túy trợ cấp BHXH

                                    f2 :phí dự phòng

                                    f3: phí quản lí

Phí thuần tuý trợ cấp BHXH cho cả chế độ ngắn hạn và dài hạn. Đối với các chế độ BHXH ngắn hạn việc đóng và hưởng BHXH xảy ra trong thời  gian ngắn ( thường là một năm ) như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động nhẹ… Vì vậy, số đóng góp BHXH phải đủ cho số phát sinh chi trả trong năm. Đối với chế độ BHXH dài hạn như : hưu trí, trợ cấp mất người nuôi dưỡng, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp nặng  v..v…quá trình đóng và quá trình hưởng BHXH tương đối độc lập với nhau và diễn ra trong khoảng thời gian nhất định. Cho nên sự cân bằng giữa đóng góp và hưởng BHXH phải được dàn trải trong cả thời kì dài. Vì thế, ngoài phí thuần tuý phải có phí dự phòng để đảm bảo quỹ BHXH có dự trữ đủ lớn.

d win�6lKetP��  � mso-border-top-alt:solid windowtext .75pt;mso-border-left-alt:solid windowtext .75pt; mso-border-alt:solid windowtext .75pt;padding:0in 5.4pt 0in 5.4pt’>

37, 28

1, 89

1, 14

Thái Lan

2. 127

53, 64

43, 36

0, 92

0, 80

Malaixia

1. 989

46, 45

53, 55

1, 43

1, 65

Indonexia

1. 233

30, 25

69, 75

0, 26

0, 60

Mỹ

522. 468

41, 44

58, 56

3, 41

4, 82

Đức

107. 403

39, 38

60, 62

2, 25

3, 46

Pháp

84. 303

56, 55

43, 45

3, 80

2, 92

Anh

102. 360

64, 57

35, 43

7, 00

3, 85

(Số liệu tổng cục thống kê)

Ngoài ra để ngành Bảo hiểm nhân thọ được phát triển thì không chỉ có sự cố gắng của công ty bảo hiểm, mà phải có sự ủng hộ tích cực của Nhà nước  thì việc kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ mới phát triển một cách ổn định hơn như:

– Miễn thuế thu nhập đối với khoản tiền đóng phí bảo hiểm hay khoản tiền nhận được từ phía công ty, khi công ty trả quyền lợi bảo hiểm.

– Cho phép dùng hợp đồng bảo hiểm để đi vay tiền ở ngân hàng hay các tổ chức tín dụng khác (hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ đóng vai trò là vật thế chấp).

– Cho phép công ty cho người tham gia Bảo hiểm nhân thọ vay vốn từ số phí bảo hiểm nhàn rỗi.

– Miễn thuế danh thu phí Bảo hiểm nhân thọ.

Đây là toàn bộ những đánh giá nhận xét chung về tình hình triển khai, khả năng và triển vọng phát triển của nghiệp vụ Bảo hiểm nhân thọ. Quá trình triển khai nghiệp vụ trong thời gian qua đã khẳng định vị trí vai trò của nghiệp vụ không chỉ trên địa bàn Hà Nội mà trên phạm vi cả nước. Bảo hiểm nhân thọ thực tế hoạt động đã đạt được nhiều kết quả khả quan, đó là sự biến chuyển phù hợp với mục đích chung của ngành bảo hiểm nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Những kết quả đạt được này là thành quả lao động của toàn thể cán bộ, nhân viên  trong công ty và sự giúp đỡ nhiệt tình của mọi cá nhân, tổ chức xã hội có liên quan.

Để nghiệp vụ ngày càng phát triển thì công ty phải không ngừng cố gắng trong mọi khâu, mọi qui trình công việc triển khai nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu đổi mới, hoàn thiện và nâng cao.

II-     BẢO HIỂM NHÂN THỌ  CÓ THỜI HẠN HỖN HỢP VÀ CHƯƠNG TRÌNH AN SINH GIÁO DỤC.

Ngày 20/03/1996 Bộ Tài chính đã ký quyết định số 28: QĐTC cho phép Bảo Việt triển khai hai loại hình bảo hiểm nhân thọ mang tính chất tiết kiệm đầu tiên ở Việt Nam đó là:

+ Bảo hiểm nhân thọ có thời hạn 5 hoặc 10 năm.

+ Bảo hiểm trẻ em. Chương trình bảo đảm cho trẻ em đến tuổi trưởng thành (gọi tắt là chương trình an sinh giáo dục). Nội dung cụ thể của từng loại hình như sau:

1.     Bảo hiểm nhân thọ có thời hạn hỗn hợp 5 năm và 10 năm.

So với loại hình bảo hiểm trẻ em, đối với loại hình này về phạm vi bảo hiểm; trách nhiệm của mỗi bên là là tương đối giống nhau. Do vậy ở nghiệp vụ này bao gồm những nội dung cơ bản sau:

a. Đối tượng bảo hiểm: Là công dân Việt Nam từ 18 đến 60 tuổi.

b. Thời hạn bảo hiểm: 5 hoặc 10 năm.

Số tiền bảo hiểm: Tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của người tham gia bảo hiểm, số tiền từ 3 đến 50 triệu đồng Việt Nam.

c. Phí bảo hiểm: Tuỳ thuộc vào thời hạn bảo hiểm, tuổi của người  được bảo hiểm và số tiền bảo hiểm. Phí bảo hiểm có thể đóng theo: Tháng, quí, sáu tháng hoặc 1 năm.

d. Quyền lợi bảo hiểm: Nếu người được bảo hiểm còn sống đến hết hạn hợp đồng sẽ được nhận toàn bộ số tiền bảo hiểm đã cam kết.

Trong trường hợp nếu không may bị qua đời:

Khi hợp đồng có hiệu lực ít hơn 1 năm, công ty sẽ hoàn lại 80% số phí đã nộp và trả cho người thừa kế hợp pháp của người được bảo hiểm.

Khi hợp đồng có hiệu lực từ 1 năm trở lên, hoặc người được bảo hiểm bị chết do tai nạn sau một ngày kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực, công ty sẽ trả toàn bộ số tiền bảo hiểm. Nếu trong thời hạn bảo hiểm người được bảo hiểm bị thương tật toàn bộ vụ việc do tai nạn. Công ty sẽ trả cho người được bảo hiểm một khoản trợ cấp bằng số tiền bảo hiểm, ngừng thu phí và hợp đồng vẫn  tiếp tục có hiệu lực cùng với các điều kiện như cũ. Trong trường hợp này người được bảo hiểm được nhận hai lần số tiền bảo hiểm và không phải đóng phí trong thời gian kể từ khi bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn cho đến khi hết hạn hợp đồng.

Ngoài các quyền lợi chắc chắn được đảm bảo như đã nêu trên, hàng năm tuỳ thuộc vào hoạt động đầu tư của công ty, người tham gia bảo hiểm sẽ được chia thêm một khoản lãi. Lãi gộp của tất cả các khoản lãi này sẽ được thanh toán cùng với số tiền bảo hiểm khi hết hạn hợp đồng (hoặc khi người được bảo hiểm bị chết)

Nếu người tham gia bảo hiểm yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng khi hợp đồng đã có hiệu lực từ 2 năm trở lên thì công ty sẽ thanh toán cho người được bảo hiểm một khoản tiền gọi là giá trị hoàn lại của hợp đồng tính đến thời điểm huỷ bỏ. Hoặc tiếp tục duy trì hợp đồng với số tiền bảo hiểm giảm.

e. Điều kiện thủ tục và cách thức mua bảo hiểm: Trên cơ sở giấy yêu cầu bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm, công ty bảo hiểm phát hành hợp đồng bảo hiểm. Hiệu lực bảo hiểm bắt đầu kể từ khi người tham gia bảo hiểm nộp phí bảo hiểm đầu tiên. Trong suốt thời hạn bảo hiểm. Công ty bảo hiểm có trách nhiệm thu phí và quản lý, đầu tư quĩ này giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho người được bảo hiểm khi có sự kiện được bảo hiểm xảy ra như đã qui định trong điều khoản của hợp đồng. Công ty bảo hiểm không có quyền chấm dứt hợp đồng bảo hiểm trừ khi người tham gia bảo hiểm có yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng hoặc vi phạm qui định nộp phí khi hợp đồng có hiệu lực chưa đủ hai năm. Bộ Tài chính là người giám sát việc thực hiện các cam kết của công ty bảo hiểm đối với người được bảo hiểm, giám sát việc quản lý và đầu từ quĩ bảo hiểm để bảo đảm khả năng thanh toán của công ty bảo hiểm và bảo vệ quyền lợi của người được bảo hiểm.

BẢNG 3: TÌNH HÌNH KHAI THÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM NHÂN THỌ
TỪ THÁNG 1 ĐẾN THÁNG 5 NĂM 1977 TẠI HÀ NỘI.

Tháng

Tổng số hợp đồng

Hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ có thời hạn

Hợp đồng bảo hiểm trẻ em

1

167

70

97

2

156

61

95

3

181

73

108

4

229

99

130

5

351

151

200

BẢNG 4: CƠ CẤU TÌNH HÌNH KHAI THÁC

Tháng

Hợp đồng bảo

Hợp đồng bảo

Tăng giảm liên hoàn

hiểm có thời hạn (%)

hiểm trẻ em (%)

bảo hiểm có thời hạn (%)

bảo hiểm trẻ em (%)

1

41, 92

58, 08

2

39, 11

60, 89

– 12, 86

– 2, 06

3

40, 34

59, 66

19, 67

13, 68

4

43, 24

56, 76

35, 61

20, 37

5

43, 02

56, 98

52, 52

53, 84

Qua bảng 3 và bảng 4 ta thấy:

– Trong tất cả các tháng số hợp đồng bảo hiểm trẻ em chiếm tỷ lệ lớn trong số hợp đồng đã phát hành, (ở tỷ lệ gần 60%) trong khi đó hai nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ có thời hạn 5 năm, 10 năm chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 40%.

– Trong 5 tháng ta thấy số hợp đồng Công ty bán ra đã có sự thay đổi rõ rệt bởi ảnh hưởng của nhiều nhân tố: Tháng 2 số lượng hợp đồng bán ra của cả hai nghiệp vụ bị giảm xuống là 2, 06% và 12, 86% so với tháng 1 năm 1997. Sở dĩ số lượng hợp đồng bị giảm xuống là do tháng 2 dương lịch tương ứng với tháng cuối năm âm lịch, khả năng khai thác của toàn bộ công ty giảm xuống rõ rệt đó là do mọi người lo chuẩn bị tết và nghỉ tết. Mặt khác họ còn phải đủ phí cho nhiều khoản phục vụ dịp tết dẫn đến quỹ tài chính gia đình thường được sử dụng tối đa nên tham gia đóng phí Bảo hiểm nhân thọ cũng có thể bị ảnh hưởng.

– Nhưng đến tháng 3, tháng 4 và đặc biệt là trong tháng 5 số lượng hợp đồng đã tăng lên rõ rệt. Cụ thể: Ở cả hai nghiệp vụ tháng 3 tăng so với tháng 2 lần lượt là: 19, 67%; 13, 68%; tháng 4 tăng so với tháng 3 là: 35, 64%; 20, 37% và tháng 5 tăng so với tháng 4 là: 52, 52%; 53, 84%.

Sở dĩ đạt được kết quả như vậy là do:

+ Một mặt là công ty đã tổ chức tuyên truyền quảng cáo vào dịp tết do đó số lượng người tiếp nhận được lượng thông tin nhiều hơn.

+ Mặt khác tính đến thời điểm tháng 4, tháng 5 công ty đã hoạt động được khoảng thời gian gần 1 năm do đó những người đã tha gia đã tuyên truyền và phổ biến với người xung quanh nên có phản ứng dây chuyền rất tích cực.

+ Trong thời gian này, công ty được Bộ Tài chính chính thức không tính thuế doanh thu, công ty đã hoàn thành được biểu phí mới và giảm xuống hơn so với biểu phí cũ.

+ Công ty đã đào tạo tuyển thêm và tăng cường số đại lý lên với mục đích trước tiên là khai thác từ những người xung quanh, những người thân của họ.

Qua đây ta thấy được hai sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ của công ty đã được thị trường chấp nhận và đã tạo được chỗ đứng trên thị trường. Mặt khác nó còn được thể hiện sự cần thiết của sản phẩm đối với cuộc sống của mỗi con người. Nhưng bước đầu mới đạt được ở con số khiêm tốn và công ty vẫn chưa triển khai triệt để và hiệu quả từ nhiều đối tượng khác nhau mà mới chỉ tập trung vào những đối tượng quen biết thân thiết. Nên chăng công ty cần làm tốt và hoàn thiện các khâu, đặc biệt là khâu tuyên truyền quảng cáo, vận động mọi người tham gia là quan trọng nhất. Khi ấy họ sẽ hiểu biết rõ hơn về Bảo hiểm nhân thọ và thấy rõ được lợi ích thiết thực của nó. Hơn nữa khách hàng tới công ty là phải do hiểu mục đích, ý nghĩa của sản phẩm chứ không phải tham gia bảo hiểm là để ủng hộ người quen.

2.     Bảo hiểm trẻ em – Chương trình an sinh giáo dục:

2. 1. Hợp đồng bảo hiểm:

a. Đối tượng được nhận bảo hiểm.

Là trẻ em Việt Nam từ 1 đến 13 tuổi (tính đến thời điểm gửi giấy yêu cầu bảo hiểm). Trong loại hình bảo hiểm này, người tham gia bảo hiểm là bố mẹ, ông bà hoặc người nuôi dưỡng trong độ tuổi từ 18 – 60. Người tham gia bảo hiểm là người yêu cầu bảo hiểm và nộp phí bảo hiểm.

b. Phạm vi bảo hiểm.

Do đây là loại hình Bảo hiểm nhân thọ nên phạm vi bảo hiểm phải gắn liền với cuộc sống của con người. Do vậy ta phân ra:

Rủi ro được bảo hiểm:

+ Rủi ro còn sống: Người được bảo hiểm sống đến hết hạn hợp đồng bảo hiểm.

+ Rủi ro tử vong: Đây là loại rủi ro có thể phát sinh do hai nguyên nhân: Chết do tai nạn hoặc chết do bệnh tật.

+ Rủi ra tai nạn: theo các nhà bảo hiểm tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm là tai nạn do một lực bất ngờ, ngoài ý muốn của người được bảo hiểm từ bên ngoài tác động lên thân thể người đó và là nguyên nhân trực tiếp để cho người đó bị chết hoặc thương tật toàn bộ vĩnh viễn.

+ Rủi ro bệnh tật: Bệnh tật là sự biến chất của sức khoẻ. Trong phạm vi bảo hiểm nó là nguyên nhân gây nên sự thiệt hại về tính mạng của người được bảo hiểm.

Rủi ro loại trừ:

Xảy ra do một số nguyên nhân sau.

+ Hành động cố ý của người được bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm hoặc người thừa kế.

+ Hành động vi phạm pháp luật của người được bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm.

+ Người tham gia bảo hiểm bị ảnh hưởng nghiêm trọng của rượu, bia, ma tuý hoặc các chất kích thích tương tự.

+ Do động đất, núi lửa.

+ Do chiến tranh, bạo động.

c. Trách nhiệm và quyền lợi bảo hiểm:

* Trách nhiệm của các bên.

+ Trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm.

– Ký hợp đồng bảo hiểm: Người tham gia bảo hiểm trực tiếp ký hợp đồng bảo hiểm cùng công ty bảo hiểm thoả thuận cam kết thực hiện đầy đủ các điều khoản trong hợp đồng.

– Trách nhiệm khai báo rủi ro: Ngay khi ký hợp đồng bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm có trách nhiệm kê khai trung thực những yêu cầu của công ty bảo hiểm (kê khai tình trạng sức khoẻ).

– Trách nhiệm đóng phí bảo hiểm: Đây là số tiền mà họ phải đóng cho công ty Bảo hiểm nhân thọ theo qui định nộp phí của công ty khoản phí đóng đầu tiên sẽ là cơ sở xác định thời điểm bắt đầu có hiệu lực của hợp đồng. Người tham gia bảo hiểm phải đóng đủ phí  theo qui định và đúng thời hạn.

– Trách nhiệm khai báo thông báo tổn thất. Khi có sự cố rủi ro xẩy ra người tham gia bảo hiểm phải báo cáo cụ thể tình trạng xẩy ra sự cố tổn thất, tình trạng sức khoẻ của người được bảo hiểm cho công ty bảo hiểm biết. Bên cạnh đó phải cung cấp đầy đủ hồ sơ cho công ty một cách trung thực, chính xác để công ty căn cứ trả tiền bảo hiểm. Tạo điều kiện để công ty bảo hiểm giám định tình trạng sức khoẻ.

+ Trách nhiệm của công ty bảo hiểm:

Công ty bảo hiểm là một bên trong hợp đồng bảo hiểm, theo qui định của họ có quyền thu phí bảo hiểm để lập quĩ bảo hiểm. Công ty bảo hiểm có trách nhiệm chi trả số tiền bồi thường khi có sự cố bảo hiểm xảy ra với người được bảo hiểm.

*  Quyền lợi bảo hiểm:

– Khi đứa trẻ đựơc bảo hiểm tròn 18 tuổi, công ty bảo hiểm sẽ trả cho người được bảo hiểm số tiền bảo hiểm.

– Hợp đồng bảo hiểm vẫn tiếp tục duy trì và miễn đóng phí trong trường hợp.

+ Người tham gia bảo hiểm bị chết nếu:

– Người tham gia bảo hiểm bị chết do tai nạn xẩy ra sau một ngày kể từ khi nộp phí bảo hiểm đầu tiên.

– Người tham gia bảo hiểm bị chết không phải do tai nạn, tử vong hoặc bị nhiễm  HIV sau một năm kể từ ngày hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực.

+  Người tham gia bảo hiểm bị chết do tử vong hoặc nhiễm HIV khi hợp đồng bảo hiểm đã có hiệu lực hai năm trở lên.

Trường hợp người tham gia bảo hiểm bị chết không phải do tai nạn khi hợp đồng có hiệu lực chưa đủ một năm hoặc chết do nhiễm HIV hoặc tử vong hợp đồng có hiệu lực chưa đủ hai năm. Công ty bảo hiểm sẽ hoàn lại 80% số phí đã nộp và hợp đồng bị huỷ bỏ.

+ Người tham gia bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn xẩy ra sau một ngày kể từ khi nộp phí bảo hiểm đầu tiên:

– Trường hợp người được bảo hiểm bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn xảy ra sau một ngày kể từ khi nộp phí bảo hiểm đầu tiên, người được bảo hiểm được hưởng trợ cấp của công ty bảo hiểm cho đến khi tròn 18 tuổi, mức trợ cấp mỗi năm bằng 1/4 số tiền bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm được duy trì miễn phí đến hết thời hạn bảo hiểm.

– Trường hợp người được bảo hiểm bị chết do bất cứ nguyên nhân nào. Do mục đích chính ở đây là đảm bảo cho đứa trẻ khi đến tuổi trưởng thành, do vậy khi đứa trẻ không còn nữa thì mục đích chính của nghiệp vụ cũng mất đi và do vậy trong trường hợp này công ty bảo hiểm sẽ trả lại cho người tham gia bảo hiểm một số tiền tương ứng 80% đến 95% số phí đã đóng.

Hàng năm tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động đầu tư. Công ty bảo hiểm sẽ đưa thêm một khoản lãi cho hợp đồng và thông báo cho người tham gia bảo hiểm vào ngày kỷ niệm của hợp đồng. Lãi gộp của các khoản lãi này được thanh toán cho người tham bảo hiểm vào ngày kỷ niệm lần thứ 5 hoặc 10 năm của hợp đồng bảo hiểm và trả người được bảo hiểm cùng với số tiền bảo hiểm khi hết hạn hợp đồng. Ngoài ra, người tham gia bảo hiểm có quyền huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm trước thời hạn và đựơc nhận lại một số tiền (gọi là giá trị hoàn lại) khi hợp đồng đã có hiệu lực từ hai năm trở lên.

Trường hợp không có khả năng tài chính để tiếp tục đóng phí, người tham gia bảo hiểm có thể tiếp tục duy trì hợp đồng bảo hiểm với số tiền bảo hiểm giảm đi.

d. Thời hạn bảo hiểm: Thời hạn bảo hiểm tối thiếu là 5 năm (với đứa trẻ 13 tuổi) và tối đa là 17 năm (với đứa trẻ một tuổi) Thời hạn bảo hiểm phụ thuộc vào tuổi của người được bảo hiểm lúc bắt đầu được nhận bảo hiểm.

2. 2. Phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm

a. Phí bảo hiểm:

Cũng như tất cả các loại hình bảo hiểm, phí bảo hiểm là cơ sở để xây dựng quĩ bảo hiểm để công ty trả cho người được bảo hiểm và các khoản phụ phí.

Phí Bảo hiểm nhân thọ là số tiền cần phải thu để công ty bảo hiểm đảm bảo trách nhiệm của mình khi có các sự kiện được bảo hiểm xảy ra và đảm bảo cho việc hợp đồng của công ty.

Phí bảo hiểm do người tham gia bảo hiểm nộp cho nhà bảo hiểm nhằm mục đích nhận được sự đảm bảo trước những rủi ro đã được nhà bảo hiểm nhận bảo hiểm.

Nguyên tắc tính phí dựa trên biểu thức cân bằng giữa trách nhiệm của công ty bảo hiểm và thừa nhận của ngươì được bảo hiểm tính theo qui định tại thời điểm ký hợp đồng bảo hiểm.

Trách nhiệm của người được bảo
hiểm tại thời điểm ký hợp đồng

=      trách nhiệm của công ty bảo

hiểm tại thời điểm ký hợp đồng

Phí bảo hiểm bao gồm hai phần là: Phí thuần và phục phí.

+ Phí thuần là những khoản phí dùng để chi trả cho người được bảo hiểm.

+ Phục phí bao gồm:

– Chi phí khai thác: Chi cho tuyền truyền quảng cáo, chi cho hoa hồng cho các đại lý, môi giới…

– Chi phí quản lý hợp đồng trong thời hạn hợp đồng đang thu phí, kể cả chi phí thu phí bảo hiểm.

– Chi phí liên quan đến các khoản chi trả bồi thường.

b. Số tiền bảo hiểm: Đây là hạn mức trách nhiệm của nhà bảo hiểm đối với người được bảo hiểm. Trong Bảo hiểm nhân thọ (cụ thể là bảo hiểm trẻ em) nhà bảo hiểm phải đưa ra nhiều mức số tiền bảo hiểm khác nhau và người tham gia bảo hiểm sẽ dựa trên khả năng tài chính của mình để lựa chọn số tiền bảo hiểm thích hợp nhất.

Người tham gia bảo hiểm có quyền lựa chọn một trong các mức số tiền bảo hiểm sau: 3 triệu; 5 triệu; 10 triệu ; 15 triệu; 20 triệu; 25 triệu; 30 triệu; 35 triệu; 40 triệu; 45 triệu; 50 triệu đồng.

c. Quĩ dự phòng: Công ty phải lập ba loại quĩ dự phòng.

– Dự phòng phí

– Dự phòng bồi thường

– Dự phòng dao động lớn.

Các quĩ này đảm bảo cho trách nhiệm của công ty bảo hiểm thực hiện tốt đối với người được bảo hiểm trong trường hợp có các sự kiện được bảo hiểm xảy ra.

2. 3. Trả tiền bảo hiểm.

a. Trường hợp sống đến hết hạn hợp đồng

Với hợp đồng bảo hiểm gốc công ty bảo hiểm sẽ trả toàn bộ số tiền bảo hiểm đã ký kết trong hợp đồng.

b. Trường hợp người tham gia bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm bị chết cùng với các loại giấy tờ như: Giấy yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm; hợp đồng bảo hiểm gốc; giấy chứng tử công ty bảo hiểm xem xét các giấy trên và sẽ thực hiện mọi quyền lợi đã cam kết trong hợp đồng.

c. Trường hợp người tham gia bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm bị thương tật toàn bộ. v. v…

Cùng với các loại giấy tờ như: Giấy yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm; hợp đồng bảo hiểm gốc; biên bản tai nạn có xác nhận của công an hoặc cơ quan nơi người tham gia bảo hiểm làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi xảy ra tai nạn; giấy xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền về tình trạng thương tật của người được bảo hiểm hoặc người tham gia bảo hiểm.

Công  ty bảo hiểm sẽ xem xét các giấy tờ trên và sẽ thực hiện mọi quyền lợi đã cam kết trong hợp đồng.

d. Trường hợp huỷ bỏ hợp đồng đã có giá trị hoàn lại (sau hai năm).

Gồm các giấy tờ:

– Giấy đề nghị huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm.

– Hợp đồng bảo hiểm gốc.

Trường hợp người tham gia bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm không trung thực hoặc không chấp hành đúng các điều qui định trong hợp đồng này công ty bảo hiểm có   quyền từ chối một phần hoặc toàn bộ số tiền bảo hiểm tuỳ theo mức độ vi phạm.

* Công ty bảo hiểm có trách nhiệm giải quyết và trả tiền bảo hiểm hoặc thanh toán giá trị hoàn lại hoặc số phí đã nộp trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ và hợp lệ. Nếu quá thời hạn trên thì khi thanh toán công ty bảo hiểm phải trả thêm phần lãi của số tiền này theo lãi suất tiền gửi tiết kiệm thời hạn 3 tháng do ngân hàng Nhà nước  qui định trong hợp đồng.

III.   MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT:

Trong điều kiện kinh tế nước ta còn nhiều biến chuyển mạnh mẽ, đang trên đà phát triển. Muốn tạo được bước đi vững chắc trong cơ chế thị trường nó đòi hỏi ngành bảo hiểm nói chung và công ty Bảo hiểm nhân thọ nói riêng phải đạt được yêu cầu, mục tiêu của công tác bảo hiểm.

Cùng với những thuận lợi vốn có, trong quá trình triển khai nghiệp vụ công ty cũng gặp không ít những khó khăn nên kết quả thu được còn rất khiêm tốn. Mặt khác công ty Bảo hiểm nhân thọ là một công ty hoạt động dịch vụ giải quyết đồng thời cả mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội. Do đó trong quá trình triển khai nghiệp vụ, công ty phải xác định cho mình hướng đi đúng đúng đắn và hiệu quả là không ngừng cải tiến quá trình kinh doanh, đặc biệt chú trọng nâng cao công tác bảo hiểm, phương thức phục vụ, đảm bảo giữ vững uy tín của công ty ngày một tốt hơn.

Mục tiêu của công ty đặt ra là “đứng vững và phát triển” do đó thời gian tới nhiệm vụ của công ty rất nặng nề. Vậy phải làm gì để nâng cao sự phát triển của nghiệp vụ. Đây là vấn đề cần phải giải quyết.

Dưới đây là một số kiến nghị nhằm thực hiện tốt mục tiêu của Công ty:

Một là: Nâng cao chất lượng khai thác bằng cách:

– Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động bằng nhiều hình thức trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong các tổ chức đoàn thể và cơ quan đơn vị có tiềm năng: Cụ thể với nghiệp vụ bảo hiểm  trẻ em mà công ty đang triển khai, Công ty triển khai tập trung, Công ty phải tập trung vào vận động cha mẹ, ông bà….của trẻ em. Người khai thác cũng cần phải hiểu rõ được tâm lý của người tham gia loại hình này, phải biết tận dụng khả năng và cần phải thống kê tìm hiểu cặn kẽ xem ở độ tuổi nào là tham gia nhiều, những người thuộc ngành nghề nào hay tham gia, ở địa phương nào là phổ biến, rồi thống kê cả về loại hợp đồng, về mức trách nhiệm về giới tính thậm chí cả về thời gian cần khai thác vào lúc nào là hợp lý và hiệu quả. Công ty cũng cần phải phối hợp với các trường tiểu học, mẫu giáo qua các buổi họp phụ huynh sẽ tranh thủ vận động mọi người tham gia bảo hiểm cho trẻ em, có thể phát tờ rơi quảng cáo để sản phẩm tiếp xúc với khách hàng nhiều hơn.

– Đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền quảng cáo: Mặc dù ta thấy rằng việc quảng cáo trong Bảo hiểm nhân thọ là rất khó bởi vì nó thường đề cập tới những rủi ro trong đời sống mà tâm lý của người Việt Nam thì lại hay kiêng kỵ do đó cần phải có hình thức tuyên truyền và quảng cáo phù hợp. Những điều còn tồn đọng và khó khăn với Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam ta là, thực tế mọi người còn ít biết về Bảo hiểm nhân thọ và còn rất mới mẽ. Điều này cũng do trong thời gian qua công ty chưa chú trọng tới công tác này mặc dù biết rằng hiệu quả đem lại rất cao. Như trong tháng 3 năm 1997, sau khi có quảng cáo liên tục trên ti vi vào dịp tết nguyên đán, số lượng hợp đồng phát hành tăng lên rõ rệt.

– Mở rộng tổ chức mạng lưới cộng tác viên, đại lý đặc biệt ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, cần phải tuyển dụng và đào tạo đội ngũ đại lý chuyên nghiệp để bố trí rộng địa bàn. Công ty nên xem xét tăng cường hơn nữa chương trình, kế hoạch bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ của các cán bộ trong Công ty, đồng thời nên dành một chế độ hoa hồng khen thưởng hợp lý cho đại lý cộng tác viên. Hoa hồng là khoản thu nhập chính của đại lý nên ai cũng muốn có mức hoa hồng cao khi đó sẽ khuyển khích họ khai thác được nhiều hợp đồng, Công ty nên có chế độ khen thưởng như:

+ Hàng tháng đánh giá kết quả làm việc của đại lý có số lần tiếp xúc khách hàng nhiều, làm như vậy sẽ kích thích tình thần thi đua của mọi người, rồi công bố số lượng hợp đồng khai thác được một cách thường xuyên. Và có phần thưởng đối với các đại lý có số hợp đồng khai thác đủ lớn và khả thi.

Hai là: Chú trọng hơn nữa tới công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ của Công ty cũng như giúp đỡ các đại lý, cộng tác viên trong việc đào tạo nghiệp vụ Bảo hiểm nhân thọ. Đây cũng là công việc quan trọng phục vụ cho việc phát triển lâu dài của công ty như:

– Đề nghị ban tổ chức cùng các cơ quan hữu quan quan tâm giúp đỡ hay khyến khích tạo điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác đào tạo cán bộ phục vụ cho chuyên ngành bảo hiểm.

– Công ty nên sắp xếp bố trí công việc, cử cán bộ có năng lực và nhu cầu đi học các lớp đào tạo về bảo hiểm ở nước ngoài trên cơ sở đó có điều kiện và hoàn thiện các loại hình Bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam được tốt hơn. Và từ đó, Công ty sẽ có quyết định đưa ra các sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu phong phú của mọi người.

– Đối với công tác viên: Công ty nên tổ chức các buổi học về Bảo hiểm nhân thọ, cách thức quản lý và theo dõi hợp đồng trên máy vi tính để cho công việc triển khai của các cộng tác viên được thuận lợi.

Ba là: Thiết kế trình bộ Tài chính một số sản phẩm mới để đa dạng hoá sản phẩm nhằm đáp ứng được nhu cầu của nhiều đối tượng, đồng thời hướng dẫn, chỉ đạo các cộng tác viên ở các công ty bảo hiểm địa phương thực hiện triển khai nghiệp vụ Bảo hiểm nhân thọ trên cả nước được nhanh và có hiệu quả. Công ty nên giúp đỡ trong việc cử cán bộ xuống tuyển đại lý khai thác theo tiêu chuẩn của Công ty đồng thời tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ đại lý này. Công ty cũng có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu tập huấn cho đội ngũ này.

Bốn là: Đề nghị Nhà nước nên có chính sách ưu đãi không đáng thuế thu nhập với số tiền đóng phí bảo hiểm nhân thọ để từ đó thúc đẩy bảo hiểm nhân thọ là một ngành có ưu thế và ích lợi hơn hẳn so với hình thức gửi tiền tiết kiệm từ đó sẽ hạn chế những bất lợi cho việc triển khai nghiệp vụ của Công ty và làm cho khách hàng sẽ thấy được tham gia bảo hiểm nhân thọ có hiệu quả cao hơn các hình thức khác. Công ty phải có những ý kiến cụ thể trình lên lãnh đạo cấp trên xin được hưởng những chính sách ưu đãi nói trên đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, đặc biệt là vấn đề đầu tư vốn trong Công ty. Cùng với những việc làm đó Công ty cần phải tiến hành hoà thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm cũng chính là nâng cao chất lượng của các hợp đồng.

Thực tế trong thời gian qua, phần lớn các Công ty mới chỉ quan tâm đến số lượng hợp đồng và doanh thu đạt được mà chưa để mắt xem “đại lý nói gì với khách hàng” để đi đến ký kết được hợp đồng. Trong khi đó số lượng đại lý trong mỗi Công ty ngày một gia tăng. Nên chăng đây cũng làthời điểm mà Tổng công ty phải tăng cường kiểm tra giám sát hoạt động của các công ty, đồng thời các công ty phải tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của các đại lý để sớm sàng lọc được những đại lý đáng tin cậy.

Cùng với việc nâng cao chất lượng hợp đồng công việc quản lý hợp đồng cũng cần được quan tâm hơn.

Năm là: Công ty nên đưa ra kế hoạch cụ thể về việc thành lập phòng giám định và trả tiền bảo hiểm.

Hiện tại Công ty chưa có phòng giám định và trả tiền bảo hiểm, nhưng đã là một nghiệp vụ bảo hiểm, nhất là nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ thì việc giám định và trả tiền bảo hiểm là chắc chắn phải có.

Mục đích của công tác giám định, bồi thường nhằm đảm bảo quyền lợi của người tham gia bảo hiểm, làm tốt công tác này sẽ tạo được lòng tin cho khách hàng thì việc phát triển của nghiệp vụ cũng càng được đảm bảo hơn.

Thiết nghĩ rằng đã đến lúc Công ty cần phải thực hiện mạnh mẽ những mục tiêu đề ra và tiếp thu những ý kiến thiết thực nhất.

Trên đây là những ý kiến đê xuất góp phần vào việc nâng cao hiệu quả và khả năng phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ. Khẳng định về sự phát triển của Bảo hiểm nhân thọ ở nước ta quả là hơi sớm nhưng chúng ta tin rằng các sản phẩm của Bảo hiểm nhân thọ chắc chắn sẽ mang lại lợi ích lớn cho các chủ hợp đồng.


KẾT LUẬN

Toàn bộ bài viết đã phản ánh nên nội dung của đề tài “Bàn về nghiệp vụ Bảo hiểm nhân thọ và các loại hình Bảo hiểm nhân thọ đang được triển khai ở Việt Nam hiện nay”. Trong đó có đề cập đến các nội dung cơ bản và thiết thực nhất cho mỗi chúng ta khi tìm hiểu và đang học tập về chuyên ngành kinh tế bảo hiểm.

Đồng thời trong bài viết này cá nhân tôi cũng đã đề ra một số ý kiến cơ bản có ích cho công tác triển khai nghiệp vụ Bảo hiểm nhân thọ của công ty. Sự hiểu biết tình hình thực tế hiện nay, đáp ứng nhu cầu đông đảo tham gia Bảo hiểm nhân thọ của mọi người.

Do kiến thức lý luận và thực tiễn còn hạn chế. Hơn nữa vẫn còn là một sinh viên đang học tập trên giảng đường chưa được tiếp xúc với thực tế nhiều nên bài viết chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót và hạn chế. Tôi luôn luôn mong được sự giúp đỡ và hướng dẫn của các thầy cô để từ đó sẽ hoàn thiện bài viết và nâng cao được kiến thức của mình hơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình kinh tế bảo hiểm ĐHKTQD

2. Giáo trình kinh tế bảo hiểm Đại học Tài chính kế toán

3. Báo cáo tài chính BHXH Thành Phố Vinh.

4. Điều lệ hoạt động của  BHXH Việt Nam

5. Các văn bản luật của một số loại hình bảo hiểm.

6. Tạp chí bảo hiểm xã hội Việt Nam.

7. Một số tài liệu khác.

MỤC LỤC

 Lời mở đầu…………………………………………………………………………………. 1

Chương I. Lý luận chung về BHXH………………………………………………. 2

I. BHXH và sự cần thiết khách quan của BHXH        …………………………. 2

1. Sự cần thiết………………………………………………………………………………. 2.

2. Bản chất…………………………………………………………………………………… 3

3. Chức năng của bảo hiểm xã hội……………………………………………………. 4

4. Tính chất của bảo hiểm xã hội……………………………………………………… 5

II. Những nội dung cơ bản của BHXH………………………………………………. 5

1. Khái niệm về BHXH…………………………………………………………………. 5

2. Đối tượng của bảo hiểm xã hội…………………………………………………….. 6

3. Phạm vi bảo hiểm xã hội…………………………………………………………….. 6

4. Quỹ bảo hiểm xã hội………………………………………………………………….. 7

4.1.  Khái niệm quỹ BHXH……………………………………………………………… 7

4.2. Đặc điểm……………………………………………………………………………….. 7

4.3. Nguồn hình thành quỹ BHXH……………………………………………………. 8

4.4 Mục đích sử dụng quỹ BHXH…………………………………………………… 11

5. Trách nhiệm và quyền hạn các bên tham gia bảo hiểm xã hội…………. 12

6. Tổ chức quản lý bảo hiểm xã hội………………………………………………… 14

III. Quá trình thành và phát triển của bảo hiểm xã hội………………………. 17

1. Trên thế giới……………………………………………………………………………. 17

2. Tại Việt Nam…………………………………………………………………………… 18

IV. Mối quan hệ giữa BHXH với chính sách xã hội và chính sách kinh tế 20

1. Mối quan hệ giữa BHXH với chính sách xã hội……………………………. 20

2. Mối quan hệ giữa BHXH với chính sách kinh tế…………………………… 21

Chương II. Thực trạng thực hiện BHXH trên địa bàn thành phố Vinh (từ  1995 đến 2002)…………………………………………………………………………………………………. 23

I. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến thực hiện công tác BHXH trên địa bàn thành phố Vinh…………………………………………………………………………… 23

1. Đặc điểm về tự nhiên………………………………………………………………… 23

2. Đặc điểm  kinh tế xã hội……………………………………………………………. 23

II. Hệ thống quản lý và bộ máy hoạt động của BHXH TP Vinh…………. 24

1. Hệ thống quản lý……………………………………………………………………… 24

2. Bộ máy hoạt động …………………………………………………………………… 25

2.1. Chức năng, nhiệm vụ của BHXH thành phố Vinh……………………….. 25

2.2. Bộ máy hoạt động…………………………………………………………………. 26

III. Tình hình công tác quản lý thu BHXH của BHXH thành phố Vinh giai đoạn 1995 -2002…………………………………………………………………………………………………. 28

1. Quá trình thực hiện nghiệp vụ quản lý thu ở BHXH thành phố Vinh. 29

2. Quản lý đối tượng tham gia……………………………………………………….. 31

2.1. Đối tượng phải nộp BHXH……………………………………………………… 31

2.2. Kết quả đạt được…………………………………………………………………… 32

3. Quản lý qũy lương trích nộp BHXH…………………………………………… 35

3.1. Tiền lương làm căn cứ đóng BHXH và cách xác định tổng quỹ tiền lương làm căn cứ đóng…………………………………………………………………………………………………. 35

3.2. Kết quả đạt được…………………………………………………………………… 36

4. Quản lý nguồn thu BHXH…………………………………………………………. 38

4.1. Tình hình thực hiện kế hoạch thu……………………………………………… 38

4.2. Tình hình nợ đọng phí BHXH………………………………………………….. 40

III. Tình hình công tác quản lý chi BHXH TP Vinh………………………….. 41

1. Quy trình chi trả trợ cấp……………………………………………………………. 42

1.1. Đối với 3 chế độ  ngắn hạn……………………………………………………… 42

1.2. Đối với chế độ dài hạn……………………………………………………………. 43

2. Quy định của BHXH Việt Nam về công tác chi trả chế độ……………… 44

2.1. Chế độ trợ cấp ốm đau…………………………………………………………… 44

2.2. Chế độ trợ cấp thai sản…………………………………………………………… 45

2.3. Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp…………………. 46

2.4. Chế độ hưu trí……………………………………………………………………….. 47

2.5. Chế độ tử tuất……………………………………………………………………….. 48

3. Kết quả công tác chi trả…………………………………………………………….. 49

4. Những bất cập trong công tác chi trả…………………………………………… 52

V. Công tác quản lý hồ sơ hưởng chế độ BHXH và công tác cấp sổ cho người tham gia        54

1. Công tác quản lý hồ sơ hưởng chế độ BHXH……………………………….. 54

2. Công tác cấp sổ BHXH cho người tham gia…………………………………. 55

VI. Đánh giá chung về quá trình thực hiện của BHXH TP Vinh…………. 56

1. Ưu điểm………………………………………………………………………………….. 56

2. Những tồn tại………………………………………………………………………….. 56

3. Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế………………………………………. 57

Chương III. Phương hướng và những biện pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt hoạt động của BHXH thành phố Vinh…………………………………………………………. 59

I. Phương hướng hoạt động…………………………………………………………… 59

1. Định hướng hoạt động của BHXH Việt Nam……………………………….. 59

2. Phương hướng nhiệm vụ của BHXH TP Vinh………………………………. 59

II. Một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt hoạt động của

BHXH TP Vinh…………………………………………………………………………… 60

1. Thực hiện đồng bộ các biện pháp tăng cường thu và quản lý thu…….. 60

1.1. Nhóm các giải pháp quản lý đối tượng thuộc diện bắt buộc tham gia BHXH và quỹ lương trích nộp BHXH…………………………………………………………………………… 60

1.2. Nhóm các giải pháp đôn đốc thực hiện trích nộp BHXH và quản lý tiền thu BHXH         61

2. Thực hiện đồng bộ các giải pháp tăng cường quản lý chi BHXH…….. 62

2.1. Các biện pháp tăng cường quản lý chi các chế độ BHXH dài hạn…. 62

2.2. Các giải pháp tăng cường quản lý chi các chế độ BHXH ngắn hạn. 62

3. Thực hiện tốt công tác lưu trữ hồ sơ, phối hợp với BHXH tỉnh và các ngành pháp luật giải quyết dứt điểm các đề xuất khiếu nại về BHXH……………………………….. 63

4. Đảm bảo những điều kiện cần thiết để đạt được các biện pháp trên…. 63

4.1. Nâng cao trình độ cán bộ……………………………………………………….. 63

4.2. Đầu tư cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý BHXH………………… 64

4.3. Xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các ngành, đặc biệt là sự lãnh đạo, chỉ đạo của BHXH cấp trên, của cấp uỷ và chính quyền địa phương………………………………. 64

Kiến nghị đối với BHXH Việt Nam, BHXH Nghệ An, và Nhà nước.. 65

Kết luận…………………………………………………………………………………….. 66

Tài liệu tham khảo……………………………………………………………………… 67

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s