Đánh giá thực trạng triển khai BHYT HS – SV tại cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam


LỜI MỞ ĐẦU

Một xã hội phát triển trước hết phải có những con người khoẻ mạnh. Có sức khoẻ con người mới có thể thực hiện được các hoạt động sống phục vụ cho chính bản thân mình và cho cộng đồng. Nhưng không phải lúc nào con người cũng khoẻ mạnh và không phải ai cũng có khả năng chi trả chi phí khám chữa bệnh khi không may gặp rủi ro bất ngờ như ốm đau, bệnh tật … Chính vì vậy ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều triển khai BHYT nhằm giúp đỡ và tạo ra sự công bằng trong chăm sóc sức khoẻ đối với người bệnh.

Ở nước ta BHYT được thực hiện từ năm 1992, tuy đã đạt được nhiều kết quả nhưng còn gặp rất nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau. Mặc dù vậy tại Đại hội Đảng IX, Nhà nước ta đã quyết tâm đến 2010 nước ta sẽ tiến tới BHYT toàn dân, tạo điều kiện chăm sóc sức khoẻ cộng đồng mà không phân biệt địa vị, giới tính, nơi cư trú …Muốn đạt được mục tiêu này phải từng bước tăng nhanh đối tượng tham gia, đặc biệt  là trú trọng BHYT tự nguyện bởi lẽ diện bắt buộc tham gia BHYT của nước ta chưa nhiều. Hơn 80 triệu dân mới chỉ có trên 30 triệu người có thẻ BHYT bắt buộc, còn lại đều thuộc diện tự nguyện, trong đó học sinh – sinh viên chiếm hơn 20% dân số (khoảng 23 triệu người) vẫn chỉ nằm trong diện vận động tham gia.

Là thế hệ trẻ của đất nước, học sinh; sinh viên cần được quan tâm chăm sóc sức khoẻ  của cả cộng đồng để sẵn sàng gánh vác trách nhiệm lớn lao trong tương lai. Ngay từ khi thành lập, Bảo hiểm Y tế Việt Nam đã quan tâm đến việc triển khai BHYT HS-SV. Sau hơn 10 năm thực hiện, BHYT HS-SV do Bảo hiểm xã hội Việt Nam triển khai đã chứng tỏ được vai trò không thể thiếu của mình, em muốn đánh giá  những gì đã đạt được trong 10 năm qua và nhìn nhận những mặt còn hạn chế trong việc triển khai. Chính vì vậy em đã chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng triển khai BHYT HS – SV tại cơ  quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Em chọn đề tài này với mục đích nghiên cứu từ kết quả thực tế và thực trạng triển khai để đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của BHYT HS-SV góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu tiến tới BHYT toàn dân mà toàn Đảng, toàn dân đã đặt ra.

Nội dung chuyên đề của em gồm 3 chương:

Chương I    :   Cơ sở lý luận chung của BHYT HS-SV

Chương II  :  Thực trạng triển khai BHYT HS-SV tại Bảo hiểm xã hội     Việt Nam

Chương III  : Một số kiến nghị nhằm phát triển BHYT HS-SV tại Bảo              hiểm xã hội Việt Nam

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn đặc biệt là cô giáo Nguyễn Thị Hải Đường đã trực tiếp hướng dẫn em và các cán bộ tại Ban Tự nguyện –  Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã giúp đỡ để em hoàn thành tốt bài luận văn này. Với khối kiến thức còn hạn chế chắc chắn trong bài luận văn của em còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy các cô.

CHƯƠNG I

 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BHYT HS – SV

I. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA BHYT ĐỐI VỚI HỌC SINH – SINH VIÊN.

Ra đời từ cuối thế kỷ XIX, BHYT là một trong những biện pháp hiệu  quả nhất nhằm giúp đỡ mọi người khi gặp rủi ro về sức khoẻ để trang trải phần nào chi phí khám chữa bệnh giúp ổn định đời sống góp phần bảo đảm an toàn xã hội.

Ngày nay, BHYT có ý nghĩa quan trọng hơn khi chi phí y tế và nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng. Không ai có thể phủ nhận những thành tựu của ngành y học mở ra cho con người những hy vọng mới , nhiều bệnh hiểm nghèo đã tìm được thuốc phòng và chữa bệnh. Nhiều trang thiết bị y tế hiện đại được đưa vào để chuẩn đoán và điều trị.  Nhiều công trình nghiên cứu về các loại thuốc đặc trị đã thành công. Tuy nhiên không phải ai cũng có thể tiếp cận với những thành tựu đó đặc biệt là những người nghèo. Đại đa số người dân bình thường không có đủ khả năng tài chính để khám chữa bệnh, còn những người khá giả hơn cũng có thể gặp “ bẫy ” đói nghèo bất cứ khi nào.

BHYT là sự san sẻ rủi ro của mọi người trong cộng đồng, là giải pháp hữu hiệu để mọi người vượt qua bệnh tật. Theo đó người khoẻ mạnh gíup đỡ người bị bệnh về mặt tài chính để họ được sử dụng thuốc men, trang thiết bị y tế sớm bình phục sức khoẻ. Trên thế giới, không một quốc gia nào có thể khẳng định ngân sách nhà nước đủ để chăm lo sức khoẻ cho toàn cộng đồng mà không có sự huy động của các thành viên trong xã hội.  Càng  ngày  BHYT càng khẳng định vai trò không thể thiếu của mình trong đời sống con người.

BHYT là cần thiết với tất cả mọi người  vì nó có tác dụng rất thiết thực. Hầu hết  các quốc gia trên thế giới đều đã triển khai BHYT dưới nhiều hình thức tổ chức khác nhau. Tuy nhiên dù triển khai dưới hình thức nào thì BHYT cũng có chung những tác dụng sau:

Một là giúp những người tham gia BHYT khắc phục khó khăn về kinh tế khi bất ngờ bị ốm đau, bệnh tật.

Chi phí khám chữa bệnh là mối lo rất lớn đối với mỗi con người. Khi bị ốm đau, họ không thể tham gia lao động hoặc lao động với hiệu quả thấp dẫn đến thu nhập bị mất hoặc giảm. Trong khi đó chi phí y tế ngày càng tăng gây khó khăn, ảnh hưởng đến ngân sách của mỗi gia đình. Nhờ có BHYT mà người bệnh yên tâm chữa bệnh vì khó khăn của họ đã đựơc  nhiều người san sẻ. Từ đó họ sẵn sàng chữa bệnh cho đến khi khỏi hẳn.

Tham gia BHYT sẽ giúp người bệnh giải quyết được một phần khó khăn kinh tế vì chi phí khám chữa bệnh đã được cơ quan BHYT thay mặt thanh toán với các cơ sở khám chữa bệnh. Họ sẽ nhanh chóng khắc phục hậu quả và kịp thời ổn định cuộc sống, tạo cho họ sự yên tâm, lạc quan trong cuộc sống. Với người lao động thì họ yên tâm lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất làm giàu cho họ từ đó làm giàu cho xã hội.

Hai là làm tăng chất lượng khám chữa bệnh và quản lý y tế.

BHYT và vấn đề chăm sóc sức khoẻ cộng đồng luôn có mối liên hệ chặt

chẽ với nhau. Chất lượng khám chữa bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, tăng chất lượng khám chữa bệnh là mục tiêu hàng đầu của BHYT. Trong các khoản chi thì chi cho hoạt động khám chữa bệnh, nâng cấp và mở rộng cơ sở khám chữa bệnh là một trong những khoản chi thường xuyên , chiếm tỷ trọng lớn nhất. Chất lượng khám chữa bệnh có tốt

thì mới thu hút được các đối tượng tham gia BHYT. Ngược lại, nhờ có BHYT mới có nguồn tài chính để đầu tư cho công tác khám chữa bệnh. Một trong những nguyên tắc của BHYT là số đông nên sự đóng góp của một người là nhỏ bé nhưng của cả cộng đồng thì rất lớn nên nguồn tài chính là rất lớn. Tăng chất lượng khám chữa bệnh chỉ có thể bền vững và lâu dài thì phải dựa vào nguồn kinh phí tự sự đóng góp của người tham gia thông qua phí bảo hiểm. Qua đó công tác quản lý y tế cũng đơn giản và dễ dàng hơn.

Ba là tạo ra sự công bằng trong khám chữa bệnh.

BHYT là phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia. Tham gia BHYT, người bệnh được chi trả theo phác đồ điều trị riêng của từng người chứ không phân biệt địa vị giàu nghèo. BHYT hoạt động theo nguyên tắc có đóng có hưởng và mang tính nhân văn sâu sắc. Ai cũng được đảm bảo quyền lợi khi tham gia tránh tình trạng tiêu cực vì bị cơ quan BHYT giám sát chặt chẽ.

Bốn là góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước.

Nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước là từ thuế nhưng có rất nhiều khoản chi cần đến nguồn ngân sách này. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, hàng rào thuế quan dần được giảm bớt thậm chí là bãi bỏ. Vì vậy chăm sóc y tế không thể dựa vào nguồn viện trợ của Nhà nước. Một trong những phương pháp đem lại hiệu quả cao nhất là BHYT, Nhà nước và nhân dân cùng chi trả. Như vậy, BHYT có hạch toán thu chi độc lập với ngân sách Nhà nước sẽ làm giảm được gánh nặng rất lớn cho ngân sách trong việc đảm bảo hoạt động cho ngành y tế.

Như vậy, mọi lứa tuổi đều có thể tham gia BHYT để bảo vệ sức khoẻ cho mình. Tuổi học sinh là một quãng thời gian dài không thể thiếu trong sự phát triển của mỗi con người.  Ở độ tuổi này cơ thể các em phát triển chưa hoàn chỉnh, các em còn rất hiếu động, chưa nhận thức đầy đủ về các mối nguy hiểm có thể xảy ra vì vậy rất dễ gặp rủi ro có thể dẫn đến hậu quả nặng nề sau này. Nếu không có sự quan tâm đúng đắn đối với vấn đề chăm sóc sức khoẻ ngay từ khi còn nhỏ thì các em sẽ không có đủ điều kiện tốt để tiếp thu đủ kiến thức làm hành trang bước vào đời. Có sức khỏe tốt  các em mới phát triển một cách toàn diện, mới có thể tiếp thu hết khối kiến thức mà các thầy, các cô truyền đạt khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Như vậy thế hệ trẻ sẽ có đủ năng lực để gánh vác trọng trách lớn là chèo lái con tàu đất nước trong tương lai.

Nếu các em không may mắc bệnh phải nằm viện điều trị thì cha mẹ các em không yên tâm làm việc và phải nghỉ việc để chăm sóc cho các em. Như vậy cha mẹ các em mất phần thu nhập cộng thêm chi phí KCB cho các em sẽ làm cho kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn. Có BHYT thì chi phí KCB này sẽ được chia sẻ với nhiều người do  vậy cha mẹ các em sẽ giảm được gánh nặng kinh tế rất lớn. Cha mẹ các em cũng không phải mất thời gian để đưa các em đi khám sức khoẻ định kỳ và yên tâm khi các em không may gặp rủi ro trong khi đang học tập tại trường vì đã có y tế trường học đảm nhận. Con em mình được chăm lo sức khoẻ thì cha mẹ sẽ toàn tâm toàn ý tham gia lao động sản xuất góp phần ổn định kinh tế gia đình và làm giàu cho xã hội.

BHYT HS-SV là một giải pháp cơ bản để chăm sóc sức khoẻ cho học sinh – sinh viên. Đây là đối tượng gắn liền với trường học nên công tác chăm sóc sức khoẻ cho các em cũng gắn liền với công tác YTHĐ. Hiện nay ở nhiều nước trên thế giới, công tác chăm sóc sức khoẻ  học sinh tại các trường học rất được chú trọng. Một số nước như: Anh, Mỹ, Nhật, Philippin…hệ thống YTHĐ phất triển mạnh và hoạt động rất có hiệu quả trong việc chăm sóc sức khỏe cũng như giáo dục kiến thức sức khoẻ cho học sinh.

BHYT HS – SV là chăm lo cho thế hệ trẻ một cách toàn diện, không những chăm lo về mặt sức khoẻ mà còn giáo dục nhân cách và lối sống nhân ái. Tham gia BHYT  các em sẽ thấy được tác dụng của BHYT  đối với mọi người xung  quanh, với bạn bè mình và chính bản thân mình. Thông qua BHYT  các em sẽ học được cách chia sẻ khó khăn, đồng cảm với người không may gặp rủi ro. Nhân cách sống tốt đẹp ấy sẽ hình thành trong các em, theo các em đi hết cuộc đời và truyền từ đời này sang đời khác.

Nói tóm lại, cũng như sự cần thiết phải thực hiện BHYT nói chung, BHYT HS-SV cũng rất cần thiết phải triển khai vì tương lai của các em và vì một xã hội phát triển.

II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BHYT.

1. Nội dung cơ bản của BHYT  trên thế giới.

1.1. Đối tượng tham gia BHYT.

Đối tượng của BHYT  là  sức khoẻ của con người, bất kỳ ai có sức khoẻ và có nhu cầu bảo vệ sức khoẻ cho mình đều có quyền tham gia BHYT. Như vậy đối tượng tham gia BHYT  là tất cả mọi người dân có nhu cầu BHYT  cho sức khoẻ của mình hoặc một người đại diện cho một tập thể, một cơ quan …đứng ra ký kết hợp đồng BHYT  cho tập thể, cơ quan ấy.

Trong thời kỳ đầu mới triển khai BHYT, thông thường các nước đều có hai nhóm đối tượng tham gia BHYT  là bắt buộc và tự nguyện. Hình thức bắt buộc áp dụng đối với công nhân viên chức nhà nước và một số đối tượng như người về hưu có  hưởng lương hưu, những người thuộc diện chính sách xã hội theo qui định của pháp luật …, hình thức tự nguyện áp dụng cho mọi thành viên khác trong xã hội có nhu cầu và thường giới hạn trong độ tuổi nhất định tuỳ theo từng quốc gia.

1.2.Phạm vi BHYT.

Mọi đối tượng tham gia BHYT  khi không may gặp rủi ro về ốm đau, bệnh tật đi KCB đều được cơ quan BHYT  xem xét chi trả bồi thường nhưng không phải mọi trường hợp đều được chi trả và chi trả hoàn toàn chi phí KCB, BHYT  chỉ chi trả trong một phạm vi nhất định tuỳ điều kiện từng nước.

BHYT  là hoạt động thu phí bảo hiểm và đảm bảo thanh toán chi phí y tế cho người tham gia bảo hiểm. Mặc dù mọi người dân trong xã hội đều có  quyền tham gia BHYT  nhưng trên thực tế BHYT  không chấp nhận bảo hiểm thông thường cho người mắc bệnh nan y nếu không có sự thoả thuận gì thêm.

Những người đã tham gia BHYT  khi gặp rủi ro về sức khoẻ đều được thanh toán chi phí KCB với nhiều mức độ khác nhau tại các cơ sở y tế. Tuy nhiên nếu KCB trong các trường hợp cố tình tự huỷ hoại bản thân trong tình trạng không kiểm soát được hành động của bản thân, vi phạm pháp luật … thì không được cơ quan BHYT  chịu trách nhiệm.

Ngoài ra, mỗi quốc gia đều có những chương trình sức khoẻ quốc gia khác nhau. Cơ quan BHYT  cũng không có trách nhiệm chi trả đối với những người tham gia BHYT  nếu họ KCB  thuộc chương trình này.

1.3. Phương thức BHYT.

Căn cứ vào mức độ thanh toán chi phí KCB cho người có thẻ BHYT  thì BHYT  có nhiều phương thức thanh toán khác nhau, cụ thể là:

– BHYT  trọn gói là phương thức BHYT  trong đó cơ quan BHYT  sẽ chịu trách nhiệm về mọi chi phí y tế thuộc phạm vi BHYT  cho người được BHYT.

– BHYT  trọn gói trừ các đại phẫu thuật là phương thức BHYT  trong đó cơ quan BHYT  sẽ chịu trách nhiệm về mọi chi phí y tế thuộc phạm vi BHYT  cho người được BHYT  , trừ các chi phí y tế cho các cuộc đại phẫu ( theo quy định của cơ quan y tế).

– BHYT  thông thường là phương thức BHYT  trong đó trách nhiệm của cơ quan BHYT  được giới hạn tương xứng với trách nhiệm và nghĩa vụ của người được BHYT.

Đối với các nước phát triển có mức sống dân cư cao ,  hoạt động BHYT  đã có từ lâu và phát triển có thể thực hiện BHYT  theo cả ba phương thức trên. Đối với các nước đang phát triển, mới triển khai hoạt động BHYT  thường áp dụng phương thức BHYT  thông thường.

Đối với phương thức BHYT  thông thường thì BHYT  được tổ chức dưới hai hình thức đó là BHYT  bắt buộc và BHYT  tự nguyện. BHYT  bắt buộc được thực hiện với một số đối tượng nhất định được qui định trong các văn bản pháp luật về  BHYT. Dù muốn hay không những người thuộc đối tượng này đều phải tham gia BHYT, số còn lại  không thuộc đối tượng bắt buộc tuỳ theo nhu cầu và khả năng kinh tế có thể tham gia BHYT  tự nguyện.

PHẦN KẾT LUẬN

Sau 10 năm thực hiện, được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, của các Bộ, Ban, Ngành hữu quan và của UBND các cấp, sự phối hợp của Sở Y tế các tỉnh, thành phố, các cơ sở KCB, các tổ chức đoàn thể, các cơ quan truyền thông từ Trung ương đến địa phương và sự cố gắng của các cán bộ nhân viên trong ngành BHXH, việc thực hiện chính sách BHYT HS – SV tại cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam  đã đạt được những kết quả quan trọng, đáng khích lệ tạo cơ sở cho sự phát triển và mở rộng BHYT tự nguyện để tiến tới BHYT toàn dân trong những năm tới. Số lượng học sinh – sinh viên tham gia liên tục tăng, quyền lợi của học sinh  tham gia BHYT được đảm bảo và ngày càng mở rộng. Quỹ BHYT HS – SV  luôn ổn định đảm bảo chi trả cho việc chăm sóc sức khoẻ học sinh. Giảm dần sự bao cấp của Nhà nước chuyển sang hình thức Nhà nước và nhân dân cùng chi trả. Nguồn thu từ BHYT HS – SV  đã hỗ trợ một phần chi phí cho các cơ sở KCB, đặc biệt là YTHĐ tạo điều kiện cho việc củng cố và nâng cao chất lượng dịch vụ KCB. Trên đây em đã đưa ra một số giải pháp cụ thể cho từng cơ quan có liên quan nhằm từng bước chăm lo sức khoẻ toàn diện cho học sinh. Em tin tưởng rằng với sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan hữu quan cùng với sự nỗ lực của hệ thống BHXH và cơ sở KCB  thì công tác BHYT HS – SV nói riêng và BHYT  nói chung ngày càng phát triển sớm thực hiện thành công nghị quyết Trung ương là tiến tới BHYT  toàn dân.


MỤC LỤC

Lời mở đầu. 1

Chương I:   Cơ sở lý luận của BHYT HS – SV.. 3

I. Sự cần thiết khách quan của BHYT đối với học sinh – sinh viên. 3

II. Nội dung cơ bản của BHYT. 7

1. Nội dung cơ bản của BHYT  trên thế giới. 7

1.1. Đối tượng tham gia BHYT. 7

1.2.Phạm vi BHYT. 7

1.3. Phương thức BHYT. 8

1.4. Phí BHYT.. 9

1.5. Quỹ BHYT. 9

2. Nội dung cơ bản của BHYT  ở Việt Nam. 10

2.1.Đối tượng tham gia. 10

2.2. Phạm vi BHYT.. 11

2.3.Phương thức BHYT.. 13

2.4. Phí BHYT . 13

2.5.Quản lý và sử dụng quỹ BHYT.. 14

2.5.1. Nguồn hình thành quỹ BHYT . 14

2.5.2. Quản lý và sử dụng quỹ BHYT. 14

2.6.Quyền và trách nhiệm của các bên tham gia BHYT.. 15

2.6.1. Đối với người tham gia BHYT.. 15

2.6.2. Đối với cơ quan, đơn vị và người sử dụng lao động. 16

2.6.3.Đối với cơ quan BHYT. 16

2.6.4. Đối với cơ sở KCB.. 17

2.7. Tổ chức, quản lý BHYT. 18

III  . Nội dung cơ bản của BHYT HS – SV  ở  Việt Nam. 19

1.Đối tượng tham gia. 19

2. Phạm vi của BHYT HS-SV.. 20

3. Phí và quỹ BHYT HS-SV.. 21

3.1. Phí BHYT HS-SV.. 21

3.2 Quỹ BHYT HS-SV.. 23

4. Quyền lợi và trách nhiệm của các bên tham gia BHYT HS – SV.. 24

4.1. Đối với  học sinh – sinh viên. 24

4.2. Đối với nhà trường. 27

4.3. Đối với các cơ sở khám chữa bệnh. 28

4.4. Đối với cơ quan BHXH. 29

5. In ấn và phát hành thẻ. 29

6. Tổ chức thực hiện. 30

7. Mối quan hệ giữa BHYT HS-SV và YTHĐ.. 30

7.1. BHYT HS-SV tác động đến YTHĐ.. 32

7.2. YTHĐ tác động đến BHYT HS – SV.. 32

IV. So sánh BHYT HS – SV của Bảo hiểm xã hội Việt Nam với bảo hiểm học sinh của các Công ty Bảo hiểm thương mại. 33

1.Giống nhau. 33

2. Khác nhau. 33

Chương IIThực trạng triển khai BHYT HS – SV tại  Bảo hiểm xã hội Việt Nam   36

I. Các qui định pháp lý về BHYT HS – SV. 36

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu và khả năng tham gia BHYT HS-SV tại cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam.. 38

1. Nhu cầu về BHYT của HS-SV.. 38

2. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia BHYT HS-SV tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam. 39

2.1 Khả năng  tài chính. 40

2.2. Khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế. 41

2.3. Dân số. 42

2.4 Các sản phẩm thay thế. 43

III. Thực tế thực hiện BHYT HS-SV tại bảo hiểm xã hội việt nam trong giai đoạn 1998 – 2004. 43

1.Thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện. 43

1.1.Thuân lợi. 43

1.2.Khó khăn. 45

2. Tình hình  học sinh – sinh viên tham gia BHYT tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam. 48

3. Tình hình thu, chi Quỹ BHYT HS-SV qua các năm. 53

3.1. Tình hình thu BHYT HS – SV. 53

3.2. Tình hình chi BHYT HS – SV. 58

IV. Đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động BHYT HS – SV tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam. 63

Chương IIIMột số kiến nghị nhằm phát triển BHYT.. 70

HS – SV tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam.. 70

I.Quan điểm định hướng của Đảng và Nhà nước ta trong việc tổ chức thực hiện BHYT HS – SV từ nay đến 2010. 70

1. Quan điểm định hướng của Đảng và Nhà nước. 70

2.Phương hướng chung và dự kiến kế hoạch từ nay đến 2010. 71

II. Một số kiến nghị đối với các bên có liên quan. 73

1.Đối với Nhà nước. 73

2. Đối với cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam. 76

3.Đối với Bộ Y tế. 83

4.Đối với nhà trường. 84

5.Đối với chính quyền các cấp. 84

Phần kết luận. 86

  TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Giáo trình Kinh tế bảo hiểm – PGS. TS. Hồ Sĩ Sà chủ biên – Nhà xuất bản Thống Kê – 2000.
  2. Giáo trình Kinh tế bảo hiểm – TS. Nguyễn Văn Định chủ biên – Nhà xuất bản Thống Kê – 2004.
  3. Giáo trình Thống Kê bảo hiểm – PGS. TS. Hồ Sĩ Sà chủ biên – Nhà xuất bản Thống Kê – 2000.
  4. Tạp chí Bảo hiểm Y tế Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2002.
  5. Tạp chí Bảo hiểm xã hội từ năm 2003 đến năm 2005.
  6. Thông tư liên tịch số 40/1998/TTLT – BGD ĐT – BYT ngày 19/8/1998 về BHYT HS – SV
  7. Nghị định 58/CP ngày 13/8/1998 ban hành kèm theo điều lệ BHYT
  8. Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT – BYT – BGD ĐT ngày 01/03/2000 hướng dẫn thực hiện công tác y tế trường học.
  9. Thông tư liên tịch số 77/2003/TTLT – BTC – BYT ngày 07/8/2003 hướng dẫn thực hiện BHYT  tự nguyện.
  10. Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010 của Bộ Tài chính.
  11. Các báo cáo tổng kết nghiệp vụ BHYT HS – SV từ năm 1998 đến năm 2004 của Ban Tự nguyện – Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
  12. Niên giám thống kê từ năm 2001 đến năm 2004.

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s