Công tác chi trả Bảo hiểm xã hội ở huyện Cẩm xuyên – Hà Tĩnh giai đoạn 2000-2002 Thực trạng và giải pháp


LỜI MỞ ĐẦU

        Chính sách bảo hiểm xã hội đã được Đảng, Nhà nước ta thực hiện từ năm 1960 của thế kỉ XX. Kể từ đó đến nay, chính sánh bảo hiểm xã hội đã được phát huy, đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của những người lao động. Bảo hiểm xã hội (BHXH) luôn có mặt khi người lao động gặp những rủi ro: ốm đau, bệnh tật, tai nạn, tuổi già và những khó khăn khác trong cuộc sống.

        Từ khi Bộ luật lao động ra đời, BHXH được thực hiện theo điều lệ BHXH đã thực sự đi vào đời sống xã hội, kinh tế và chính trị, có tác dụng tích cực trong mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động. Tổ chức BHXH đã khẳng định được hiệu quả hoạt động và vị thế của mình trong nước, đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Bên cạnh những thành tích đó BHXH Việt Nam vẫn còn có rất nhiều điểm chưa phù hợp đặc biệt là trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước.

        Trước thực tế đó, em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài : Công tác chi trả  Bảo hiểm xã hội ở huyện Cẩm xuyên – Hà Tĩnh giai đoạn 2000-2002 Thực trạng và giải pháp” làm luận văn tốt nghiệp của mình.

        Luận văn này được thực hiện với mục đích nêu lên sự cần thiết của BHXH đối với người lao động làm rõ những vấn đề lý luận về công tác chi trả tại BHXH huyện, những kết quả đạt được, và những tồn tại cần giải quyết để từ đó có những giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác chi trả BHXH tại BHXH huyện Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh

        Kết cấu luận văn ngoài lời nói đầu và kết luận gồm phần

Chương  I :  Lý luận chung về BHXH

Chương II : Công tác chi trả các chế độ BHXH tại huyện Cẩm Xuyên –Hà Tỉnh giai đoạn 2000-2002.

Chương III : Một số kiến nghị.

Luận văn đề cập đến một số vấn đề trong công tác chi trả BHXH, đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác chi trả, đáp ứng được yêu cầu của người lao động trong công cuộc đổi mới đất nước.

Đề tài này được hoàn thành với sự giúp đỡ rất tận tình của các thầy cô giáo chuyên ngành, của Trung tâm Thông tin – Thư viện trường Đại học QL và KD – HN. Đặc biệt là có sự hướng dẫn trực tiếp, nhiệt tình của Giảng viên – Thạc sĩ : Đoàn Thị Thu Hương.

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

1. SỰ CẦN THIẾT, ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN VÀ Ý NGHĨA CỦA BHXH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI

1.1  Sự cần thiết của BHXH.

        Nền sản xuất hàng hoá càng phát triển thì vấn đề thuê mướn nhân công diễn ra càng phổ biến, mâu thuẫn giữa chủ và thợ ngày càng gia tăng. Đặc biệt khi người lao động không may gặp rủi ro, sự cố như: ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động, mất việc làm…phải nghỉ việc. Khi rơi vào những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết không những không mất đi mà còn tăng lên, thậm chí còn phát sinh ra nhiều nhu cầu mới như: cần được khám chữa bệnh, điều trị khi ốm đau; cần người nuôi dưỡng, chăm sóc khi gặp tai nạn, thương tật… Tổng thời gian nghỉ việc người chủ không trả lương, làm cho người lao động càng gặp nhiều khó khăn hơn và không yên tâm làm việc. Vì vậy, lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động nhưng sau đó đã phải cam kết cả việc bảo đảm cho người lao động có một số thu nhập nhất định để họ trang trải khi không may gặp những khó khăn đó.

        Trong thực tế, nhiều khi các rủi ro trên không xẩy ra và người chủ không phải chi ra đồng nào nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ phải bỏ ra một khoản tiền rất lớn mà họ không muốn. Do đó mâu thuẫn chủ thợ càng trở nên vô cùng gay gắt. Khi những mâu thuẫn này kéo dài nhà nước phải đứng ra can thiệp bằng cách: buộc giới chủ phải có trách nhiệm hơn đối với người lao động mà mình sử dụng, thể hiện ở việc phải trích ra một phần thu nhập của mình để hình thành quỹ. Sau đó dùng nguồn quỹ này để trợ cấp cho người lao động và gia đình họ, khi người lao động không may gặp những rủi ro và sự cố bất ngờ. Đồng thời Nhà nước đứng ra bảo trợ cho quỹ. Bằng cách đó cả chủ và thợ đều thấy mình có lợi và tự giác thực hiện, cuộc sống của người lao động được đảm bảo.Người chủ được bảo vệ việc sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết.

        Mối quan hệ ba bên nêu trên được thế giới quan niệm là Bảo hiểm xã hội (BHXH) cho người lao động. Như vậy BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ người lao động, bằng cách thông qua việc tập trung nguồn tài chính được huy động từ sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động (nếu có), sự tài trợ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình họ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập do gặp các rủi ro ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc tử vong…

1.2  Đặc trưng cơ bản của BHXH.

 

        BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động do vậy BHXH có những đặc trưng cơ bản sau:

        – BHXH đảm bảo cho người lao động trong và sau quá trình lao động.

        – Các rủi ro của người lao động liên quan đến thu nhập của họ như : ốm đau, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm, già yếu, chết…Do những rủi ro này mà người lao động bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập, họ cần phải có khoản thu khác bù vào để ổn định cuộc sống, thông qua BHXH nguồn thu nhập này được đảm bảo.

        – Sự đóng góp của các bên tham gia BHXH: Người lao động muốn được quyền hưởng trợ cấp BHXH phải có nghĩa vụ đóng BHXH; người sử dụng lao động cũng phải có nghĩa vụ đóng BHXH cho người lao động mà mình thuê mướn. Quỹ BHXH dùng để chi trả các trợ cấp khi có nhu cầu phát sinh về BHXH.

        – Các hoạt động BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, các chế độ BHXH cũng do luật định, Nhà nước bảo hộ các hoạt động của BHXH.

         1.3  Ý nghĩa của BHXH:

        Ra đời và phát triển cùng với nền kinh tế thị trường, BHXH đã có mặt ở hầu hết các nước trên thế giới. Trình độ phát triển của BHXH được quyết định bởi mức độ phát triển của nền kinh tế, nền kinh tế càng phát triển thì mức độ hoàn thiện của BHXH ngày càng cao và với những đặc trưng riêng có của mình BHXH đã có ý nghĩa thiết thực đối với sự phát triển kinh tế xã hội như sau:

        · Đối với người lao động:

        Trong giai đoạn hiện nay khi đất nước đang ngày càng hoàn thiện quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá thì những “rủi ro” như ốm đau, tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm…lại diễn ra một cách thường xuyên và ngày càng phổ biến hơn, phức tạp hơn. Khi những rủi ro này xảy ra  sẽ gây khó khăn cho người lao động vế cả vật chất lẫn tinh thần, ảnh hưởng không tốt cho cả cộng đồng.

        Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho cá nhân những người lao động gặp phải rủi ro, bất hạnh bằng cách tạo ra cho họ những thu nhập thay thế, những điều kiện lao động thuận lợi…giúp họ ổn định cuộc sống, yên tâm công tác, tạo cho họ một niềm tin vào tương lai. Từ đó góp phần quan trọng vào việc tăng năng suất lao động cũng như chất lượng công việc cho xí nghiệp nói riêng và cho toàn xã hội nó chung.

        • Đối với xã hội :

        Quỹ BHXH là một nguồn tài chính độc lập ngoài ngân sách Nhà nước do các bên tham gia BHXH đóng góp nhằm phân phối lại theo luật định cho mọi thành viên khi bị ngừng hoặc giảm thu nhập gây ra do tạm thời hay vĩnh viễn mất khả năng lao động. Quỹ BHXH không những tác động tới quá trình phát triển kinh tế của đất nước mà còn góp phần tạo ra những cơ sở sản xuất kinh doanh mới, việc làm mới cho người lao động, từ đó giải quyết tình trạng thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động … dưới nhiều hình thức khác nhau như hình thức đầu tư phát triển phần “nhàn rỗi” của quỹ.

        Như vậy, BHXH là một trong những chính sách xã hội quan trọng không thể thiếu của mỗi quốc gia nhằm ổn định đời sống kinh tế- xã hội và góp phần làm vững chắc thể chế chính trị.

          2. NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG CỦA BHXH

        2.1. Quyền hạn và trách nhiệm của các bên tham gia BHXH 

        2.1.1 Người lao động 

        * Quyền hạn

        – Được nhận sổ BHXH.

        – Được nhận lương hưu hoặc trợ cấp kịp thời, đầy đủ thuận tiện khi có đủ điều kiện hưởng BHXH theo quy định tại Điều lệ này.

        – Khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi người sử dụng lao động hoặc tổ chức BHXH có hành vi vi phạm Điều lệ BHXH.

        * Trách nhiệm 

        – Đóng BHXH theo đúng quy định.

        – Thực hiện đúng các quy định về việc lập hồ sơ để hưởng chế độ BHXH.

–    Bảo quản, sử dụng sổ BHXH và hồ sơ về BHXH đúng quy định.

        2.1.2 Người sử dụng lao động 

   *Quyền hạn 

        – Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng với quy định của Điều lệ BHXH.

        – Khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi cơ quan BHXH có hành vi vi phạm Điều lệ BHXH.

   * Trách nhiệm 

        – Đóng BHXH theo đúng quy định.

        – Trích tiền lương của người lao động để đóng BHXH đúng quy định.

        – Xuất trình các tài liệu, hồ sơ và cung cấp thông tin liên quan khi có kiểm tra, thanh tra về BHXH của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

        2.1.3 Cơ quan bảo hiểm xã hội

        * Quyền hạn

        – Trình thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các quy định để quản lí việc thu, chi BHXH và để xác nhận đối tượng hưởng các chế độ BHXH quy định tại Điều lệ này.

        – Tổ chức phương thức quản lý quỹ BHXH để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH có hiệu quả.

        – Tuyên truyền, vận động để mọi người tham gia thực hiện BHXH.

        – Từ chối việc chi trả chế độ BHXH cho các đối tượng được hưởng chế độ BHXH khi có nghi vấn và có khi có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi man trá, làm giả hồ sơ, tài liệu.

        * Trách nhiệm

        – Tổ chức thu, quản lý, sử dụng quỹ BHXH đúng quy định.

        – Thực hiện các chế độ BHXH đúng quy định tại điều lệ này.

        – Tổ chức việc chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH kịp thời, đầy đủ, thuận tiện.

        – Giải quyết các tranh chấp, khiếu nại về BHXH.

        – Thông báo định kỳ hàng năm về tình hình thực hiện BHXH đối với người sử dụng lao động và người lao động.

        2.2. Nguồn quỹ BHXH 

        Quỹ BHXH tập trung những đóng góp bằng tiền của những người tham gia BHXH hình thành một quỹ tiền tệ tập trung để chi trả cho những người được hưởng BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc mất việc làm.

        Như vậy quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng; nó vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển.

       Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo khả năng giải quyết những rủi ro của tất cả những người tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp cho việc giàn trải rủi ro được thực hiện theo cả hai chiều không gian và thời gian, đồng thời giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế cho người sử dụng lao động, tiết kiệm chi  cho cả Ngân sách nhà nướcvà ngân sách gia đình.

Quỹ được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Trước hết đó là phần đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và nhà nước, đây là nguồn chiếm tỉ trọng lớn nhất và cơ bản của quỹ. Thứ hai là phần tăng thêm do bộ phận nhàn rỗi tương đối của quỹ được tổ chức BHXH chuyên trách đưa vào hoạt động sinh lời. Thứ ba là phần nộp phạt của những cá nhân và tổ chức kinh tế vi phạm luật lệ về BHXH. Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêu trên. Tuy nhiên phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia có khác nhau.

* Về phương thức đóng góp

          BHXH của người lao động và người sử dụng lao động vẫn còn hai quan điểm:

Quan điểm thứ nhất: căn cứ vào mức lương cá nhân và quỹ lương của cơ quan đơn vị.

Quan điểm thứ hai: căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối chung trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân để xác định mức đóng.

* Về mức đóng góp 

          Nhìn chung mức đóng góp BHXH ở các nước rất khác nhau, phụ thuộc vào sự phát triển của xã hội và khả năng kinh tế. Ở các nước phát triển thì tỉ lệ đóng cao, thường từ 40-50% tổng quỹ tiền lương. Ở các nước đang phát triển tổng mức đóng từ 15-25% tổng quỹ tiền lương, trong đó người sử dụng lao động đóng khoảng 2/3 và người lao động khoảng 1/3. Có một số nước mức đóng góp thấp từ 6-10% tổng quỹ tiền lương.

          Nhà nước chỉ giảm thuế đối với các khoản đóng BHXH hoặc hỗ trợ về tiền lương đối với người lao động khó khăn.

          Ở nước ta, theo quy định tại Điều 149 – Chương XII- BHXH của Bộ luật Lao động và được cụ thể hoá ở Điều 36- chương III của Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 của Chính phủ thì mức đóng góp tỉ lệ 20% tổng quỹ tiền lương, trong đó :

           – Người sử dụng lao động đóng 15% tổng quỹ tiền lương

          – Người lao động đóng 5% tiền lương.

          Quỹ BHXH càng phát triển thì gánh nặng chi trả BHXH từ ngân sách Nhà nước hiện nay sẽ giảm dần, điều đó cũng có nghĩa là ngân sách Nhà nước có thêm nguồn để thực hiện tăng quỹ lương cho người lao động, giúp họ chăm lo toàn diện đời sống của mình và đầu tư xây dựng phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

           2.3. Nội dung chi của quỹ BHXH

       Tại hội nghị quốc tế về lao động hàng năm, tổ chức quốc tế về lao động (ILO) đã thông qua công ước 102 (6/1952), công ước đầu tiên về những quy phạm tối thiểu của BHXH gồm 9 chế độ trợ cấp như sau:

  1. Chăm sóc y tế
  2. Trợ cấp ốm đau
  3. Trợ cấp tuổi già
  4. Trợ cấp thất nghiệp
  5. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
  6. Trợ cấp gia đình
  7. Trợ cấp thai sản
  8. Trợ cấp tàn tật
  9. Trợ cấp tử tuất.

Công tác BHXH đã hình thành và phát triển ở từng nước khác nhau, không phải nước nào cũng thực hiện đủ 9 chế độ trên và không phải nước nào cũng có đủ đối tượng, phạm vi áp dụng, nguồn hình thành quỹ giống nhau mà tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị – xã hội của từng nước để áp dụng cho phù hợp.

Nội dung chi trả quỹ BHXH ở nước ta hiện nay, theo điều 2 chương 1 –  nguyên tắc chung của điều lệ BHXH ban hành kèm theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 của Chính phủ quy định các chế độ sau:

  1. Chế độ trợ cấp ốm đau
  2. Chế độ trợ cấp thai sản
  3. Chế độ trợ cấp tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp
  4. Chế độ hưu trí
  5. Chế độ tử tuất.

2.4 Quản lý chi Bảo hiểm xã hội 

          Tổng giám đốc BHXH Việt Nam đã ban hành Quy định chung về Quản lý chi trả các chế độ BHXH thuộc hệ thống BHXH Việt Nam kèm theo Quyết định số 2903/1999/QĐ-BHXH ngày 24/12/1999 như sau :

          (1) BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là BHXH tỉnh), BHXH các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là BHXH huyện) là cơ quan tổ chức chi trả BHXH theo đúng chế độ, chính sách của Nhà nước, đảm bảo chi trả kịp thời, đầy đủ cho các đối tượng hưởng BHXH.

          (2) Việc chi trả các chế độ BHXH do BHXH tỉnh, huyện chi trả trực tiếp hoặc uỷ quyền cho đại diện chi trả ở xã, phường và đơn vị sử dụng lao động phải đảm bảo đúng nguyên tắc quản lý tài chính. Cơ quan BHXH có trách nhiệm quản lý chặt chẽ các đối tượng hưởng BHXH, tình hình biến động tăng, giảm đối tượng, số tiền chi trả theo từng tháng và đảm bảo an toàn nguồn tiền mặt trong quá trình chi trả. BHXH tỉnh huyện phía chấp hành chế độ kế toán, thống kê theo quy định của Nhà nước, quy định của tổng giám đốc BHXH Việt Nam.

          (3) BHXH các cấp có quyền ngừng hoặc từ chối chi trả cho đối tượng hưởng BHXH khi có kết luận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về hành vi sai phạm để hưởng BHXH.

          (4) Đơn vị sử dụng lao động, đại diện chi trả ở xã, phường được cơ quan BHXH uỷ quyền chi trả các chế độ BHXH cho người lao động đảm bảo chi trả kịp thời, đầy đủ. Thực hiện thanh quyết toán với cơ quan BHXH, quản lý lưu giữ chứng từ kế toán theo các quy định hiện hành của Nhà nước và của BHXH Việt Nam, có trách nhiệm cung cấp đầy đủ hồ sơ, chứng từ chi trả BHXH khi có yêu cầu kiểm tra, phúc tra, thanh tra chi trả BHXH của các cơ quan thuộc hệ thống BHXH Việt Nam và các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước.

          • Quy trình chi BHXH 

          Đảm bảo những quy định chung về quản lý chi, phòng Kế hoạch Tài chính đã thực hiện chi BHXH như sau :

          * Phân cấp chi trả :

          – Chi lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng 

          + BHXH tỉnh không trực tiếp chi trả.

          + BHXH huyện thực hiện theo 2 mô hình :

          • Ký hợp đồng với phường, xã để chi trả lương hưu, mất sức lao động (MSLĐ), tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp (TNLĐ-BNN), tử tuất, người phục vụ TNLĐ-BNN, cán bộ xã phường (CBXP).

          • BHXH huyện phải thực hiện tổng hợp những đối tượng chết, hết thời hạn hưởng (chế độ tử tuất, MSLĐ), vi phạm pháp luật, vắng mặt quá thời gian quy định không rõ lý do, gửi BHXH tỉnh lập danh sách cho tháng sau.

          –  Chi chế độ BHXH một lần

          + BHXH huyện trực tiếp chi trả trợ cấp một lần  cho : Người đang làm việc trong các đơn vị sử dụng lao động BHXH huyện quản lý và thân nhân của những đối tượng là hưu công nhân viên chức, hưu quân đội đã qua đời.

          + BHXH tỉnh uỷ quyền cho BHXH huyện chi trả toàn bộ chế độ trợ cấp một lần, cho các đối tượng đang làm việc trong các đơn vị sử dụng lao động do BHXH tỉnh trực tiếp quản lý.

          – Chi trợ cấp ốm đau, thai sản, dưỡng sức 

          + BHXH tỉnh, huyện không trực tiếp chi cho đối tượng được hưởng trợ cấp ốm đau, thai sản, dưỡng sức mà uỷ quyền thông qua đơn vị sử dụng lao động tổ chức chi trả. Đơn vị sử dụng lao động có quyền quản lý chứng từ gốc.

          + Hàng quý, sau khi đã cấp tiền thanh toán cho đơn vị sử dụng lao động, BHXH huyện lập báo cáo tổng hợp chi ốm đau, thai sản, dưỡng sức kèm theo danh sách lao động nghỉ hưởng lương trợ cấp ốm đau, thai sản đã được thẩm định. Trên cơ sở báo cáo của BHXH các huyện, thị và biểu tổng hợp chi ốm đau, thai sản, dưỡng sức đối với những đơn vị sử dụng lao động tỉnh trực tiếp quản lý, BHXH tỉnh lập báo cáo tổng hợp ốm đau, thai sản, dưỡng sức trên địa bàn toàn tỉnh để gửi về BHXH Việt Nam.

          + BHXH tỉnh chịu trách nhiệm chi đóng Bảo hiểm y tế vào tháng 1 hàng năm cho các đối tượng hưởng chế độ BHXH hàng tháng, hàng quý căn cứ vào danh sách đối tượng tăng, giảm đóng bổ sung hoặc giảm số thẻ Bảo hiểm y tế cho quý sau. Cuối năm, căn cứ vào sổ đối tượng hàng tháng được cấp thẻ Bảo hiểm y tế của các quý trong năm đối chiếu thanh lý hợp đồng. BHXH huyện thực hiện tiếp nhận và cấp thẻ Bảo hiểm y tế theo danh sách của BHXH tỉnh:

          + Đối tượng là những người đã nghỉ việc hưởng hưu trí, MSLĐ, TNLĐ – BNN, trước 01/01/1995 hay được giải quyết hưu và trợ cấp BHXH từ 01/01/1995 trở đi nhưng do nguồn ngân sách cấp theo quy định, được tính bằng 3% tổng số tiền lương hưu, trợ cấp (không tính phụ cấp khu vực).

          + Đối tượng là những người đã nghỉ việc hưởng hưu trí, TNLĐ -BNN từ 01/01/1995 trở đi do nguồn quỹ BHXH chi, được tính bằng 3% tổng số tiền lương hưu, trợ cấp (không tính phụ cấp khu vực).

          * Lập, xét duyệt dự toán chi BHXH:

Dự toán chi BHXH cho đối tượng hưởng BHXH được lập hàng năm phản ánh đầy đủ nội dung từng khoản chi:

          – Chi các chế độ BHXH từ nguồn ngân sách Nhà nước 

          + Chi hàng tháng (thường xuyên): Lương hưu cho đối tượng là hưu quân đội và hưu công nhân viên chức, trợ cấp BHXH cho đối tượng hưởng chế độ MSLĐ, trợ cấp theo Quyết định số 91 TNLĐ – BNN, người phục vụ TNLĐ – BNN, người hưởng tuất (tuất cơ bản và tuất nuôi dưỡng)

          + Trợ cấp một lần: Trợ cấp tuất đối với người hưởng chế độ hưu (quân đội, công nhân viên chức), MSLĐ, TNLĐ – BNN, mai táng phí đối với người hưởng chế độ hưu (quân đội, công nhân viên chức), MSLĐ, TNLĐ – BNN.

          + Chi đóng Bảo hiểm y tế cho các đối tượng hưởng chế độ BHXH hàng tháng (hưu trí, MSLĐ, TNLĐ -BNN).

          + Trang cấp dụng cụ phục hồi chức năng cho người bị tai nạn lao động

          + Lệ phí chi trả.

          + Chi khác (nếu có).

          –  Chi các chế độ BHXH từ nguồn quỹ BHXH 

          + Chi hàng tháng: lương hưu (quân đội, công nhân viên chức), trợ cấp BHXH cho đối tượng hưởng chế độ TNLĐ – BNN, người phục vụ TNLĐ – BNN, cán bộ xã phường (CBXP), người hưởng tuất (tuất cơ bản và tuất nuôi dưỡng).

          + Trợ cấp một lần: Trợ cấp cho người lao động nghỉ việc nhưng chưa đủ tuổi hưởng trợ cấp hàng tháng (theo Điều 28 Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ), trợ cấp cho người lao động có thời gian đóng BHXH trên 30 năm, trợ cấp một lần cho cán bộ xã phường, trợ cấp TNLĐ – BNN, trợ cấp tử tuất một lần đối với người đang lao động,  người hưởng chế độ hưu (quân đội, công nhân viên chức).

          + Mai táng phí đối với: người lao động, người hưởng chế độ hưu (quân đội, công nhân viên chức), TNLĐ – BNN, cán bộ xã phường (CBXP) theo NĐ 09.

          + Chi trợ cấp ốm đau, thai sản, nghỉ dưỡng sức cho người lao động đang làm việc.

          + Chi đóng bảo hiểm y tế cho đối tượng hưởng chế độ BHXH bằng tháng (hưu trí,TNLĐ – BNN).

          + Trang cấp dụng cụ phục hồi chức năng cho người bị TNLĐ.

          + Lệ phí chi trả.

          + Chi khác (nếu có).

          Dự toán phải kèm theo thuyết minh vế số lượng đối tượng đang hưởng dự kiến đối tượng tăng, giảm và nhu cầu chi khác trong năm. Hàng năm, BHXH tỉnh lập dự toán chi các chế độ BHXH trên địa bàn toàn tỉnh theo hướng dẫn của BHXH Việt Nam. Dự toán chi hàng năm của BHXH tỉnh được lập trên cơ sở tổng hợp dự toán chi BHXH được duyệt của BHXH huyện và số chi trực tiếp tại BHXH tỉnh, lập thành 4 bản : 1 bản lưu tại tỉnh, 1 bản gửi kho bạc nhà nước tỉnh, 1 bản gửi Bộ Tài chính, 1 bản gửi BHXH Việt Nam trước ngày 15/9 năm trước. Dự toán chi hàng năm của BHXH tỉnh là chính thức khi được BHXH Việt Nam và Hội đồng quản lý BHXH Việt nam duyệt.

          * Tổ chức chi trả  BHXH:

          Chi trả BHXH cũng được thực hiện bằng chuyển khoản. Hàng tháng, căn cứ vào bản sao quyết định hưởng chế độ BHXH và danh sách của đối tượng tăng, giảm do phòng Quản lý chế độ Chính sách chuyển sang và danh sách báo giảm do BHXH huyện gửi đến, phòng Kế hoạch Tài chính kiểm tra lại số liệu (đối tượng, số tiền) để lập danh sách chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH, tổng hợp danh sách chi trả, danh sách đối tượng hưởng trợ cấp một lần và truy lĩnh, lập chi tiết cho từng đối tượng và tách riêng thành 2 nguồn (ngân sách Nhà nước, Quỹ BHXH).

          (1) BHXH huyện chi trả cho các đối tượng là người lao động đang làm việc gồm: đối tượng hưởng trợ cấp một lần theo Điều 28 Điều lệ BHXH, người bị tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp hưởng chế độ 1 lần, mai táng phí, tuất một lần và trợ cấp một lần đối với người nghỉ hưu có trên 30 năm đóng BHXH ở các đơn vị sử dụng lao động thuộc BHXH tỉnh tổ chức quản lý thu và ghi sổ BHXH. Đồng thời BHXH huyện thực hiện uỷ nhiệm chi cho kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng NN &PTNT huyện Cẩm Xuyên theo yêu cầu.

          (2) Kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng NN & PTNT huyện Cẩm Xuyên thực hiện lệnh chuyển tiền theo yêu cầu của BHXH tỉnh về kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng NN&PTNT của huyện.

          (3) BHXH huyện có thể trực tiếp hoặc thông qua đại lý chi trả cho người lao động đang làm việc được BHXH tỉnh uỷ quyền và các đối tượng hưởng trợ cấp BHXH một lần thuộc các đơn vị BHXH huyện trực tiếp quản lý.

          (4) Hoặc có thể uỷ nhiệm chi cho Kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng NN&PTNT các huyện chuyển tiền về tài khoản của đơn vị sử dụng lao động.

          (5) Các đơn vị sử dụng lao động trực tiếp chi trả cho các đối tượng.

          * Lập báo cáo thanh quyết toán chi :

          – BHXH tỉnh chỉ đạo BHXH huyện thực hiện .

          + Hàng tháng lập 2 bộ gồm : báo cáo chi lương  hưu và trợ cấp BHXH, danh sách thu hồi kinh phí chi quản BHXH, danh sách đối tượng chưa nhận hưu và trợ cấp BHXH, danh sách không phải trả lương hưu và trợ cấp BHXH, danh sách báo giảm hưởng BHXH. Trong đó một 1 gửi BHXH tỉnh trước ngày 30 hàng tháng, một bộ lưu lại huyện.

          + Hàng quý căn cứ để chi trợ cấp ốm đau, thai sản, dưỡng sức ; lập 2 bản báo cáo chi ốm đau, thai sản, dưỡng sức kèm theo danh sách đối tượng nghỉ hưởng chế độ tính đến  tháng cuối quý trên địa bàn huyện quản lý. Một bản lưu lại huyện, bản còn lại gửi BHXH tỉnh trước ngày 5 đầu tháng sau.

          BHXH tỉnh lập báo cáo quyết toán trên cơ sở tổng hợp quyết toán của BHXH các huyện, thị và việc chi thực tế của BHXH tỉnh :

          + Lập 2 bộ báo cáo chi lương hưu và trợ cấp BHXH tách nguồn đảm bảo, kèm theo biểu thuyết minh đối tượng tăng (giảm) hưởng BHXH do 2 nguồn đảm bảo. Một bộ gửi ban quản lý chi BHXH Việt Nam, một bộ lưu lại tỉnh.

          + Hàng tháng, căn cứ vào danh sách không phải trả lương hưu và trợ cấp BHXH của BHXH các huyện, thị lập biểu tổng hợp không phải trả lương hưu và trợ cấp BHXH toàn tỉnh và lưu lại tỉnh.

          + Hàng quý, tổ chức xét duyệt báo cáo chi ốm đau, thai sản, dưỡng sức do BHXH huyện duyệt chi báo cáo chi trả trực tiếp cho các đối tượng BHXH tỉnh quản lý để lập : 2 bản báo cáo tổng hợp chi ốm đau, thai sản, dưỡng sức ; 2 bản báo cáo thu hồi kinh phí (nếu có) và biểu thống kê số chi trả trợ cấp ốm đau, thai sản, dưỡng sức, một bản lưu lại BHXH tỉnh, một bản gửi ban quản lý chi BHXH Việt Nam trước ngày 15 tháng đầu của quý sau.

          + Hàng quý BHXH tỉnh lập báo cáo tổng hợp  đóng Bảo hiểm y tế cho đối tượng hưởng BHXH theo quy định, để làm căn cứ thanh toán và cuối năm thanh lý hợp đồng Bảo hiểm y tế.

          * Thẩm định, xét duyệt chi các chế độ BHXH :

          Hàng tháng hoặc quý, BHXH tỉnh xét duyệt, quyết toán chi các chế độ BHXH cho BHXH huyện theo các chế độ kế toán quy định. Đồng thời căn cứ vào kết quả thẩm định của các đối tượng hưởng chế độ, chính sách BHXH do phòng chế độ chính sách chuyển đến, Phòng Kế hoạch Tài chính có trách nhiệm kiểm tra trước khi chuyển tiền cho BHXH huyện hoặc chủ sử dụng lao động chi trực tiếp cho đối tượng hưởng BHXH.

  

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHI TRẢ BHXH
Ở HUYỆN CẨM XUYÊN TỪ NĂM 2000 – 2002

I. Vài nét khái quát về BHXH ở Huyện Cẩm xuyên

       1. Quá trình hình thành và phát triển BHXH huyện Cẩm xuyên

        Chính sách BHXH đã được Đảng và Nhà nước ta  quan tâm và tổ chức thực hiện ngay từ khi thành lập nước, trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ đã ban hành sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 quy định về các chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn lao động, hưu trí cho công nhân viên chức Nhà nước. Giai đoạn này (1945), đất nước trong hoàn cảnh kháng chiến, kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nên BHXH mới thực hiện được một số chế độ cơ bản với mức trợ cấp thấp, mức hưởng còn mang tính bình quân, chưa có tính chất lâu dài. Chính sách BHXH chưa có quỹ riêng để thực hiện, 100% nguồn quỹ lấy từ ngân sách. Tuy vậy, trong suốt những năm kháng chiến chống xâm lược, chính sách BHXH nước ta cũng đã góp phần ổn định về mặt thu nhập ổn định cuộc sống cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ, góp phần rất lớn trong việc động viên sức người sức của cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược thống nhất đất nước. Và khi Bộ luật lao động được quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 15/7/1995 cho các đối tượng hưởng BHXH là công nhân viên chức và lực lượng vũ trang. Nhưng kể từ ngày 1/1/1995 các chế độ BHXH được thực hiện theo quy định của Bộ lao động và được cụ thể hoá bằng Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 của Chính phủ. Nhưng nghị định này được bổ sung bằng NĐ số 01/2003/NĐ – CP ngày 09/01/2003 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ Bảo Hiểm Xã Hội ban hành.

        Hệ thống BHXH Việt Nam ra đời có 61 cơ quan tại 61 tỉnh, thành trong cả nước.

        Ngày 11/7/1995, BHXH huyện Cẩm Xuyên chính thức được thành lập theo quyết định của BHXH tỉnh Hà Tĩnh và BHXH Việt Nam, cơ sở biên chế từ công đoàn Lao động và Phòng thương binh xã hội chuyển sang, chịu sự quản lý theo ngành dọc:

        • Bảo hiểm xã hội Việt Nam

• Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

• Bảo hiểm xã hội huyện thị, thành phố thuộc tỉnh.

        BHXH tỉnh nói chung và BHXH Huyện Cẩm Xuyên nói riêng là đơn vị dự toán cấp 3 của hệ thống BHXH Việt Nam, chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của BHXH tỉnh Hà Tĩnh.

           2. Cơ cấu tổ chức của BHXH Huyện Cẩm Xuyên.

        BHXH huyện Cẩm Xuyên có cơ cấu tổ chức theo sơ đồ sau:

Sơ đồ tổ chức của BHXH Huyện Cẩm Xuyên

 

 

 

           Giám đốc BHXH

  – Làm việc theo chế độ thủ trưởng, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ.

          – Là người chịu trách nhiệm trước nhà nước và cơ quan cấp trên về việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ kế hoạch được giao.

          – Tổ chức, chỉ đạo và đề ra các biện pháp cụ thể nhằm hoàn thiện kế hoạch được giao.

  • Bộ phận phụ trách kế toán, có chức năng:

Tiếp nhận chuyển đến, chuyển đi của các đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH.

– Duyệt chế độ ốm đau, thai sản

– Duyệt hồ sơ hưu trí

– Duyệt chế độ tử tuất.

  • Bộ phận kế toán chi:

          – Lập dự toán chi hàng năm tích duyệt cấp trên

          – Tổ chức chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH, chế độ thai sản, nghỉ dưỡng sức

          – Đầu mối ngân hàng để tiền mặt chi trả hàng tháng theo kế hoạch cụ thể và thực hiện thanh quyết toán với BHXH cấp trên.

  • Bộ phận kế toán thu:

        Thu BHXH các đơn vị trực thuộc thành phố, tổ chức thực hiện để hoàn thành kế hoạch hàng năm và phấn đấu thu năm sau cao hơn năm trước, tận thu các đơn vị tồn  đọng nợ…

           3. Nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của BHXH huyện Cẩm Xuyên.

           Huyện Cẩm Xuyên có địa bàn gồm 27 xã có đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng hơn 11.555 người, trên 85 đơn vị tham gia BHXH.

         + Nhiệm vụ:

         BHXH huyện Cẩm Xuyên là cơ quan trực thuộc BHXH tỉnh Hà Tĩnh, thực hiện nhiệm vụ do BHXH tỉnh giao, bao gồm:

– Tiếp nhận đăng ký hưởng chế độ BHXH do BHXH tỉnh chuyển  đến.

– Thực hiện việc đôn đốc, theo dõi nộp BHXH đối với người sử dụng lao động và người lao động trên địa bàn huyện.

– Tổ chức mạng lưới hoặc trực tiếp chi trả các chế độ BHXH cho người được hưởng trên địa bàn huyện.

+ Quyền hạn:

– Tạm ngừng hoặc từ chối chi trả cho đối tượng hưởng BHXH khi có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi sai phạm để hưởng chế độ BHXH.

– Uỷ quyền cho đơn vị sử dụng lao động chi trả trợ cấp ốm đau, thai sản.

4. Khó khăn, thuận lợi

  • Khó khăn:

– Là đơn vị có đông đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng (hơn 15.579 người) lại thường xuyên biến động.

– BHXH của huyện chưa nắm chắc tình hình tăng , giảm đối tượng, nhất là khi đối tượng hết hạn hưởng chế độ hoặc khi đã chết. Các trường hợp sai, hưởng khống.

– Việc chi trả cho các chế độ ngắn hạn đang diễn ra tràn lan do chưa có các quy định cần thiết.

– Quá trình chi trả cũng có nhiều bất cập, một số địa phương mới chú tâm đến việc chi trả cho đối tượng mà chưa quan tâm đến các yếu tố khác để quản lí đối tượng. Như vậy BHXH vẫn chưa đi sâu đi sát thực tế.

  • Thuận lợi:

        – Được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của BHXH tỉnh Hà Tĩnh, huyện ủy, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân huyện .

        – Sự phối hợp của các ban ngành hữu quan các đơn vị sử dụng lao động, các phường xã trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

        – Sự nổ lực phấn đấu của tập thể cán bộ công chức khắc phục khó khăn hoàn thành kế hoạch được giao.

        5. Những kết quả đạt được

         Qua những năm thực hiện chính sách BHXH đổi mới, đến nay có thể khẳng định rằng những quan điểm, nội dung và phương pháp đổi mới chính sách BHXH của Đảng và Nhà nước ta đã hoàn toàn đúng đắn phù hợp với mục tiêu đổi mới toàn diện đất nước. Công tác BHXH đã từng bước khẳng định tầm quan trọng và vị thế của mình đối với việc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước nói chung và BHXH huyện Cẩm Xuyên nói riêng, cũng như việc đảm bảo quyền lợi về BHXH cho người lao động bằng những kết quả cụ thể. Trong những năm vừa qua, BHXH huyện Cẩm Xuyên đã đạt được những thành tích chủ yếu sau :

  • Về đối tượng tham gia BHXH.

Bảng 1 : Số lao động đóng BHXH ở huyện Cẩm Xuyên 2000-2002

 

Năm

2000

2001

2002

Số lao động(người)

3.196

3.260

3300

(Nguồn số liệu : BHXH huyện Cẩm Xuyên)

        Dựa vào bảng số liệu trên có thể thấy, số lao động tham gia BHXH ở huyện Cẩm Xuyên tăng dần qua các năm. Năm 2001 tăng 64 người so với năm 2000 tương ứng với tỷ lệ tăng là 2%, còn năm 2002 tăng 40 người so với năm 2001 tức là tăng 1.2%. Nguyên nhân của sự tăng thêm này là do nền kinh tế xã hội phát triển. Mặt khác do sự tuyên truyền hướng dẫn tận tình của cán bộ  trong cơ quan mà mọi người lao động cũng như người sử dụng lao động hiểu rõ tầm quan trọng của BHXH  và sẵn sàng tham gia đóng BHXH.

  • Về đối tượng được hưởng BHXH.

        Từ khi mới thành lập, BHXH Cẩm Xuyên được tỉnh Hà tĩnh  giao cho quản lý gần 7000 lao động thuộc địa bàn huyện Cẩm Xuyên. Và tính đến nay số đối tượng hưởng BHXH thường xuyên trên địa bàn huyện được thể hiện dưới bảng thống kê sau :

 Bảng 2 : Số lao động hưởng BHXH ở huyện cẩm Xuyên 2000-2002

 

Năm

2000

2001

2002

Số lao động (người)

10.681

10. 940

11.555

(Nguồn số liệu : BHXH huyện Cẩm Xuyên)

        Dựa vào bảng số liệu trên ta thấy, số lượng đối tượng hưởng BHXH ở huyện Cẩm Xuyên biến đổi  qua các năm. Sự biến đổi  không ngừng của số lượng đối tượng hưởng BHXH do những nguyên nhân chính sau :

        – Hàng năm, có những người trong độ tuổi lao động đến tuổi nghỉ hưu do quy định của Bộ luật lao động  (nam : 60, nữ : 55 ) về hưu và hưởng trợ cấp hưu trí.

        – Có những người đang trong độ tuổi lao động có tham gia BHXH không may gặp phải những tai nạn rủi ro trong qua trình lao động, làm giảm hoặc mất khả năng lao động cũng được hưởng trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp theo điều lệ BHXH Việt Nam….

        Nhìn chung, sự biến đổi này là không nhiều lắm và tăng dần qua các năm.

  • Công tác thu BHXH

        Từ tháng 1/1995 đến tháng 9/1995, nhiệm vụ thu BHXH do ngành thuế và tài chính thu, chỉ đến tháng 10/1995 BHXH huyện Cẩm Xuyên mới trực tiếp thu. Theo điều lệ BHXH, bộ phận thu phải theo nghi chép đóng của từng đơn vị chính xác đến từng người, từng tháng. Đây là nghiệp vụ mới đặt ra mà trước đây chưa có nên bước đầu thực hiện gặp rất nhiều khó khăn. Nhận thức được nhiệm vụ quan trọng đó BHXH huyện Cẩm Xuyên đã đề ra những biện pháp sau :

        – Cử cán bộ thường xuyên bám sát cơ sở, nắm vững chắc tình hình lao động- quỹ lương, tình hình sản xuất kinh doanh, tận tình hướng dẫn các chế độ và các biểu mẫu mới.

        – Đối chiếu thu hàng quý cũng như thanh toán chế độ ốm đau, thai sản kịp thời, chính xác được cơ sở ghi nhận.

        – Kết hợp chặt chẽ với phòng Lao động- Thương binh và Xã hội huyện, Công đoàn lao động huyện và uỷ ban nhân dân các xã trong việc vận động hướng dẫn cơ sở tư nhân có sử dụng từ 10 lao động trở lên thực hiện chế độ BHXH theo qui định của pháp luật.

        Nhờ những biện pháp trên, BHXH đã xác định tương đối đầy đủ số đơn vị đóng trên địa bàn huyện cùng với số lao động và tổng quỹ tiền lương để xác định được số thu BHXH. Nhìn chung, công tác thu đạt được kết quả tốt, tổng thu BHXH năm sau cao hơn năm trước. Số đơn vị và số lao động tham gia BHXH tăng lên cũng là một nguyên nhân cơ bản làm cho số thu của huyện Cẩm xuyên tăng lên. Thực tế, số thu của BHXH huyện Cẩm xuyên trong những năm qua như sau :

        Bảng 3 : Công tác thu BHXH ở huyện Cẩm Xuyên 2000-2002

 

Năm

Kế hoạch thu

(đơn vị : triệu VNĐ)

Số tiền thu được

(đơn vị : triệu VNĐ)

2000

3.017

3.014

2001

3.610

3.613

2002

3.660

3.590

(Nguồn số liệu : BHXH huyện Cẩm Xuyên)

        Bằng những cố gắng, BHXH huyện Cẩm xuyên đã thực hiện công tác thu với một kết quả khả quan. Hàng năm, tổng thu luôn xấp xỉ bằng chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra. Cụ thể, năm 2000, số tiền thu BHXH là  hơn 3 tỉ đồng, đạt  tỉ lệ 99,90% so với kế hoạch đã đề ra.Năm 2002, con số này lên tới gần 3,6 tỉ đồng, đạt 98,09% so với kế hoạch đã đề ra. Đặc biệt năm 2001, số tiền thu được là hơn 3,6 tỉ, vượt mức kế hoạch đã đề ra là 0,08%.

  • Công tác chi trả  các chế độ BHXH.

        Đây là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của ngành BHXH. Trong 3 năm qua, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn nhưng cơ quan vẫn không ngừng phấn đấu để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

        Bảng 4 : Tình hình chi trả BHXH ở huyện Cẩm Xuyên 2000-2002

Năm

2000

2001

2002

Tổng chi (đơn vị : triệu VNĐ)

17.212,829

19.793,537

20.298,888

(Nguồn số liệu : BHXH huyện Cẩm Xuyên)

        Tính  đến ngày 31 tháng 12 năm 2002, số tiền đã chi trả BHXH cho các đối tượng là  hơn 57,3 tỉ. Số chi BHXh tăng dần qua các năm là một dấu hiệu cho thấy số người tham gia BHXH ngày càng tăng. Nếu năm 2000, tổng chi  BHXH chỉ đạt hơn 17,2 tỉ đồng thì đến năm 2002 tổng chi lên đến gần 20,3 tỉ đồng.Tỷ lệ chi BHXH thông qua hai nguồn  thể hiện qua bảng thống kê sau.

        Bảng 5 : Bảng thống kê các nguồn chi BHXH ở huyện Cẩm Xuyên

                                                   2000-2002

Chỉ tiêu

 

 

năm

Chi từ ngân sách Nhà nước

(đơn vị: triệuVNĐ)

Chi  từ

quỹ BHXH

(đơn vị : triệuVNĐ)

Tỉ lệ chi từ ngân sách so với tổng chi

(đơn vị:triệuVNĐ)

2000

16.110,875

1.101,954

93,60%

2001

18.661,953

1.131,584

94,28%

2002

18.689,492

1.609,396

92,07%

(Nguồn số liệu : BHXH huyện Cẩm Xuyên)

  • Công tác đối chiếu tờ khai và cấp sổ BHXH.

Thực hiện theo kế hoạch chỉ đạo của BHXH huyện cẩm xuyên, BHXH huyện tập trung đôn đốc cơ sở hoàn thiện tờ khai cấp sổ BHXH đã được đối chiếu, viết bổ sung sổ  BHXH đã được cấp và tiếp tục đối chiếu tờ khai cấp sổ BHXH ở những đơn vị còn đông người lao động chưa được cấp sổ BHXH.

       Đến ngày 31/12/2002, toàn huyện đã :

– Đối chiếu được 2.955 tờ khai cấp sổ BHXH đạt 89,54% so với số lao động đóng BHXH năm 2002.

– Đã cấp  được 2.843 sổ BHXH, đạt  86,15% so với số lao động đóng BHXH năm 2002.

       Qua công tác cấp sổ BHXH, công tác quản lý lao động, quản lý hồ sơ của các đơn vị sử dụng lao động cũng được chấn chỉnh, kiện toàn và được quan tâm hơn trước.

          6.  Một số điểm còn tồn tại:

        Bên cạnh những kết quả đạt được công tác chi trả còn một số tồn tại cần được khắc phục.

        Quá trình chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường kéo theo sự  chuyển đổi cơ chế BHXH. Sự chuyển đổi này gây ra một số vướng mắc trong việc giải quyết  quyền lợi một số chính sách cũ và chính sách mới, giữa thời gian đóng bảo hiểm và thời gian hưởng…mặt khác, trong quy định về BHXH còn những điểm chưa thật sự phù hợp như tuổi nghỉ hưu- giữa nam và nữ, giữa các nhóm lao động…Điều này gây khó khăn trong tổ chức thực hiện của BHXH huyện với các đơn vị, với người lao động khi đi giải quyết  quyền lợi cụ thể của họ.

        – Số người trong độ tuổi lao động tăng nhanh nhưng số người tham gia BHXH chỉ chiếm khoảng 40% tống số lao trong địa bàn huyện. Phần lớn số người tham gia BHXH đều nằm trong đối tượng bắt buộc. Các chủ sử dụng lao động trong các doanh nghiệp  ngoài quốc doanh luôn tìm cách tránh né hoặc cố tình vi phạm luật lao động, kí hợp đồng ngắn hạn, thậm chí không kí hợp đồng lao động, kí quyết định lương thấp hơn mức hưởng để không thực hiện tốt việc trích nộp BHXH hoặc  thực hiện hiện ở mức tượng trưng nhằm đối phó.

        – Nhận thức của người lao động còn hạn chế, chưa thấy rõ được ý nghĩa của 5% tiền lương đóng BHXH để hưởng cao hơn do có phần của chủ sử dụng lao động đóng 15% tổng quỹ lương và được Nhà nước hỗ trợ, là lợi ích thiết thực lâu dài như ốm đau, thai sản…Bên cạnh đó còn nhiều cơ quan chầy ỳ, né tránh nợ BHXH ý thức chấp hành điều lệ BHXH còn lỏng lẻo. Do đó cần phải có những luật định chặt chẽ hơn.

        – Địa bàn huyện rộng lớn, số đơn vị đóng trên địa bàn nhiều, số lao động đông trong khi số cán bộ làm việc tại BHXH huyện còn rất ít, nơi làm việc chật hẹp… các đơn vị sử dụng, thường ỷ vào cán bộ BHXH (trong việc tăng giảm và đối chiếu mức đóng) nên cán bộ công nhân ở phòng BHXH phải làm việc rất căng thẳng.

        Tất cả những khó khăn đó đã trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện công tác BHXH trên địa bàn huyện.

       7. Phương hướng phát triển BHXH của huyện Cẩm Xuyên trong thời gian tới.

       Nhằm phát triển BHXH huyện Cẩm Xuyên năm 2003 cơ quan cố gắng phấn đấu để hoàn thành tốt những kế hoạch đã đề ra, cụ thể :

       – Công tác đốc thu đạt chỉ tiêu tỉnh giao.

       – Công tác chi lương đảm bảo an toàn đúng đối tượng, chính sách và xong trước ngày 15 hàng tháng.

       – 100% người lao động được đối chiếu tờ khai và cấp sổ BHXH.

       – Xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện.

       Để thực hiện tốt những nhiệm vụ đó BHXH huyện Cẩm Xuyên phải tiếp tục hoàn thiện mình nâng cao uy tính chất lượng phục vụ, luôn tự đổi mới để phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế thị trường. Kinh tế phát triển sẽ thu hút nhiều lao động, thu nhập của họ tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH, tăng nguồn đóng góp vào quỹ. Ngoài sự nổ lực của bản thân BHXH huyện Cẩm Xuyên cũng cần đến sự phối hợp của các ngành có liên quan, của BHXH tỉnh Hà Tĩnh cũng như sự khuyến khích hỗ trợ của nhà nước để BHXH ngày càng phát triển bền vững.

II. Thực trạng công tác chi trả BHXH ở huyện cẩm Xuyên  năm 2000-2002.

       Có thể nói rằng : chi trả là kết quả cuối cùng của quá trình thực hiện chính sách BHXH, là khâu cuối cùng của công tác giải quyết các chính sách BHXH liên quan đến người lao động bị suy giảm sức lao động, chế độ TNLĐ- BNN, chế độ thai sản, ốm đau…cho đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH khi hoàn thành nghĩa vụ.

        Bảo đảm chi trả các chế độ BHXH cho đối tượng đủ điều kiện thụ hưởng đầy đủ và nhanh chóng là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của hệ thống

BHXH huyện Cẩm Xuyên. Hiện nay có 11.555 người hưởng BHXH. Đặc biệt  những người đã đóng góp rất nhiều công tác của mình cho sự nghiệp xây dựng tổ quốc, phần lớn trong số họ cuộc sống hàng ngày do các chế độ BHXH nhất là chế độ trợ cấp thường xuyên đảm bảo hiểu rõ vai trò quan trọng đó, ngành BHXH huyện đã thực hiện tốt công tác chi trả các chế độ BHXH.

Để thấy rõ hơn về hoạt động này tại BHXH huyện Cẩm Xuyên chúng ta cùng đi vào nghiên cứu các chế độ chi trả.

1. Tổ chức chi trả các chế độ BHXH tại huyện Cẩm Xuyên

       Phần chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH sẽ giao cho UBND các xã chịu trách nhiệm chi tận tay người hưởng.

       Phần chi trả 3 chế độ ốm đau, thai sản và dưỡng sức chuyển cho người lao động thông qua các chủ sử dụng lao động.

       Còn danh sách bảng lương được lập trước một tháng và gửi lên BHXH tỉnh Hà tĩnh để BHXH tỉnh quản lý chính xác số chi của huyện. Vào ngày 4 hàng tháng, cơ quan sẽ đi lĩnh tiền ở Kho bạc và chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH, BHXH huyện luôn tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của huyện uỷ, uỷ ban nhân dân huyện, phối kết hợp chặt chẽ với các phường trong việc rà soát, nắm chắc sự biến động của các đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH, nhờ đó đã kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp hưởng sai, hưởng quá thời gian…Đồng thời, cơ quan cũng phân công cán bộ theo dõi chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH của từng xã, tổ chức kiểm tra luân phiên việc chi trả lương hưu và trợ cấp của các xã, qua đó kịp thời cùng xã giải quyết những phát sinh hoặc rút kinh nghiệm để tổ chức chi trả ngày càng tốt hơn.

       Mặc dù  đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH đông, số tiền chi trả lớn song BHXH huyện đã cùng với các xã có sự tham gia tích cực các đồng chí công an trong huyện đã thực hiện chi trả kịp thời, đủ số, đúng đối tượng, an toàn tuyệt đối, đảm bảo đến tận tay người hưởng trước ngày 10 hàng tháng.

2. Thực hiện chi trả các chế độ

a. Chi trả chế độ ốm đau.

Những người bị ốm đau, tai nạn (Không phải tai nạn lao động) có xác nhận của y tế phải nghỉ việc thì được hưởng trợ cấp ốm đau thay bằng tiền lương hoặc tiền công được quy định trong Nghị định 12/CP của Chính phủ như sau :

  • Các trường hợp được nghỉ hưởng trợ cấp ốm đau:

–         Bản thân người lao động có tham gia BHXH bị ốm

–         Người lao động có con dưới 7 tuổi bị ốm

–         Người lao động thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá dân số.

  • Điều kiện được hưởng trợ cấp

–         Phải đóng BHXH, thời hạn hưởng trợ cấp phụ thuộc vào thời gian đóng BHXH

–         Có giấy xác nhận của tổ chức y tế (do Bộ y tế quy định)

  • Thời hạn trợ cấp và mức trợ cấp
    • Đối với người lao động làm việc trong điều kiện bình thường

–         30 ngày trong một năm nếu đã đóng BHXH dưới 15 năm

–         40 ngày trong một năm nếu đã đóng BHXH từ 15 đến 30 năm

–         50 ngày trong một năm nếu đóng BHXH từ 30 năm trở lên.

  • Đối với người làm trong ngành nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0.7 trở lên được nghỉ dài hơn 10 ngày so với người lao động làm việc trong điều kiện bình thường có thời gian tương ứng như trên.
  • Người lao động bị mắc các loại bệnh cần chữa trị dài ngày (theo  quy định của Bộ y tế) thì thời gian hưởng trợ cấp tối đa là 180 ngày không phụ thuộc vào thời gian đã đóng BHXH. Trường hợp hết 180 ngày mà vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng trợ cấp tiếp nhưng mức thấp hơn.
  • Người lao động thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá dân số thì được nghỉ từ 7-20 ngày tuỳ từng trường hợp cụ thể.
  • Người lao động được nghỉ chăm sóc con ốm 20 ngày trong năm đối với con dưới 3 tuổi và 15 ngày trong năm đối với con từ 3- 7 tuổi.
  • Trong thời gian nghỉ theo quy định người lao động được hưởng trợ cấp BHXH bằng 75% mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH dưới 30 năm. Tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bao gồm lương theo cấp bậc, chức vụ, phụ cấp chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp đắt đỏ (nếu có). Và đây là kết quả mà BHXH huyện đạt được như bảng số liệu sau.


Bảng6 :   Chi trả chế độ ốm đau năm 2000-2002.

 

NĂM

CHỈ TIÊU

TĂNG GIẢM QUA CÁC NĂM

SỐ NGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG CHI TRỢ CẤP ỐM ĐAU (NGƯỜI)

SỐ TIỀN ĐƯỢC HƯỞNG

(ĐV : 1000 đồng)

SỐ TIỀN

(ĐV :1000 đồng)

TỶ LỆ (%)

2000

398

87.405

2001

417

90.574

3.169

3,63

2002

662

121.973

31.399

34,67

(Nguồn số liệu : BHXH huyện Cẩm Xuyên)

       Từ bảng số liệu trên chúng ta thấy:

        Số tiền được hưởng của năm 2001 tăng 3.169.000 đồng tương ứng với tỉ lệ 3,63% so với năm 2000.

        Đặc biệt là năm 2002  số tiền được hưởng có sự tăng đột biến về số tuyệt đối lên tới 31.399.000 đồng tức là tăng 34,67% so với năm 2001.

          Sở dĩ qua các năm số  tiền được hưởng đều tăng như vậy là do số  người được hưởng BHXH  tăng lên, mà số người tăng lên là do Nhà nước ngày càng quan tâm đến sức khoẻ của người lao động nên các khoản trợ cấp được giải quyết nhanh và các khoản trợ cấp cũng được tăng lên.Bên cạnh đó, số người tham gia vào BHXH càng nhiều nên khoản trợ cấp cũng tăng lên. Một số người được hưởng vì phải chăm sóc con cái ốm đau, có người được hưởng vì bận việc riêng của gia đình và còn một số người nữa vì mắc bệnh cần điều trị dài ngày.

        b. Chi trả chế độ thai sản.

Trong Nghị định 12/CP của Chính phủ quy định :

4Các trường hợp được hưởng

–         Lao động nữ có thai, sinh con thứ nhất, thứ hai.

–         Lao động nữ nuôi con sơ sinh.

       4Điều kiện

– Có tham gia đóng góp BHXH.

4 Thời hạn hưởng và mức hưởng BHXH

i Thời hạn.

 –   Khi có thai được nghỉ khám thai 3 lần, mỗi lần 1 ngày.

 –   Sẩy thai nghỉ từ 20 ngày đến 30 ngày tuỳ theo tháng thai.

 –   Khi sinh con được nghỉ từ 4 đến 6 tháng tuỳ theo điều kiện làm việc

      –  Sinh 1 lần nhiều con thì tính từ con thứ 2 trở đi, mỗi con sinh thêm mẹ được nghỉ thêm 30 ngày.

      – Trường hợp sau khi sinh con chết, người mẹ được nghỉ 75 ngày kể từ ngày sinh, nếu con dưới 60 ngày tuổi bị chết thì người mẹ được nghỉ thêm 15 ngày kể từ khi con bị chết nhưng không quá thời hạn nghỉ sinh con theo quy định chung.

      ‐   Nếu nuôi con sơ sinh thì người nuôi được nghỉ cho đến khi con đủ 4 tháng tuổi.

iMức trợ cấp

     – Được hưởng trợ cấp bằng 100% mức tiền lương làm cơ sở đóng BHXH trước khi nghỉ trong thời hạn đã nêu.

     – Được trợ cấp thêm một tháng tiền lương.

          Với đặc điểm là huyện tập trung nhiều nhà máy thuộc công nghiệp dệt, may, thực phẩm…nên việc thực hiện chế độ trợ cấp thai sản là nhu cầu đòi hỏi thường xuyên của người lao động bởi vì số lao động trong huyện đa phần là nữ. Chế độ này nhằm giúp người lao động nữ có khoản trợ cấp để thay thế cho khoản thu nhập bị mất đi do không làm việc vì sinh con. Hơn nữa, việc quy định thời gian nghỉ đã tính đến yếu tố điều kiện và môi trường lao động nhằm đảm bảo sức khoẻ cho sản phụ thuộc các nhóm lao động khác nhau.Và đây là kết quả đạt được khi thực hiện chế độ này.

Bảng 7: Chi trả chế độ thai sản 2000 -2002 .

 

 

NĂM

CHỈ TIÊU

TĂNG GIẢM QUA CÁC NĂM

SỐ NGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG (NGƯỜI)

SỐ TIỀN ĐƯỢC HƯỞNG

(ĐV :1000 đồng)

SỐ TIỀN

(ĐV :1000 đồng)

TỶ LỆ (% )

2000

117

186.404

2001

129

187.402

+ 998

0,54

2002

119

275.378

+ 87.976

46,95

(Nguồn số liệu: BHXH huyện Cẩm Xuyên)

           Từ bảng số liệu trên chúng ta thấy:

        Năm 2001 số tiền được hưởng tăng 998.000 đồng hay 0,54% điều này là do số người được hưởng trợ cấp thai sản năm 2001 nhiều hơn năm 2000, số người được hưởng tăng lên như vậy là do số lao động nữ trong độ tuổi sinh đẻ và những người sinh con thứ nhất, thứ hai tương đối lớn cho nên việc tăng số tiền chi trả trợ cấp thai sản cho người tham gia đóng BHXH đó là điều tất yếu. Năm 2002 số tiền được hưởng tăng số tuyệt đối là 87.976.000 đồng tức 46,95%, nhưng số nguời được hưởng chế độ thai sản giảm so với năm 2001. Số người được hưởng giảm đi mà số tiền được hưởng lại tăng lên đột biến  như vậy là do năm 2002 số người sinh con ít hơn năm 2001 và đặc biệt là do  điều kiện và trang thiết bị y tế, thuốc men ngày càng hiện đại hơn, giá cả những trang thiết bị y tế ngày một đắt hơn, và hơn nữa ngày càng có nhiều doanh nghiệp, xuất hiện trong nhiều thành phần kinh tế, nên mức độ chi trả ngày một  nhiều và tăng lên một cách đáng kể.

        c.  Chi trả chế độ Dưỡng sức.

        Điều kiện hưởng :

        Người lao động đã đóng đủ BHXH theo quy định thì được nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khoẻ khi có trong 3 điều kiện sau đây :

        – Có đủ 3 năm đóng BHXH trở lên tại đơn vị mà bị suy giảm sức khoẻ.

        – Sau khi điều trị nội trú hoặc ngoại trú do ốm đau, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp  mà chưa phục hồi sức khoẻ.

        – Lao động nữ yếu sức khoẻ sau khi nghỉ thai sản( kể cả trường hợp nghỉ việc do sẩy thai). Đây là kết quả BHXH huyện đã chi trả.

Bảng 8: Chi trả chế dưỡng sức 2000-2002

 

 

NĂM

CHỈ TIÊU

TĂNG GIẢM QUA CÁC NĂM

SỐ NGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG

( NGƯỜI)

SỐ TIỀN ĐƯỢC HƯỞNG

(ĐV :1000 đồng)

SỐ TIỀN

(ĐV :1000 đồng)

TỶ LỆ (%)

2001

195

14.650

2002

612

101.750

+ 87.100

594,54

(Nguồn số liệu:BHXH huyện Cẩm Xuyên)

         Từ bảng số liệu trên ta thấy:

        Năm 2000 chưa có số liệu về chế độ dưỡng sức, vì chế độ này được thực hiện vào năm 2001 khi có quyết định số 37/2001/QĐ- TTG của Chính phủ. Còn 2 năm tiếp theo khi được thực hiện thì BHXH đă đạt được những kết quả rất khả quan. Năm 2002 tăng rất mạnh so với năm 2001 là 87.100.000 đồng tức là tăng 594,54%( nghĩa là tăng gần 7 lần). Lí do số tiền hưởng đạt được kết quả như vậy là do số người được nghỉ dưỡng sức nhiều hơn, có sự thay đổi về số lượng người tham gia đóng BHXH. Và số người lao động ốm đau, thai sản  đều ảnh hưởng đến nhu cầu nghỉ dưỡng sức của người lao động.

        d. Chi trả chế độ Hưu trí.

          Nghị định số 12/CP của Chính phủ ban hành ngày 26/01/1995 quy định những đối tượng sau đây được hưởng chế độ hưu trí :

          4Điều kiện

Trong chế độ hưu trí điều kiện để hưởng trợ cấp gồm tuổi đời và sổ năm đóng BHXH.

          Trong chế độ hưu trí điều kiện để hưởng trợ cấp gồm tuổi đời và số năm đóng BHXH.

          iĐể được hưởng trợ cấp hưu trí đầy đủ thì về tuổi đời.

          + Nam phải đủ 60 tuổi trong điều kiện lao động bình thường và đủ 55 tuổi nếu làm ở ngành nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, hoặc ở nơi khó khăn có phụ cấp khu vực với hệ số 0,7 trở lên, hoặc công tác ở chiến trường B,C,K.

          + Nữ phải có đủ 55 tuổi trong điều kiện lao động bình thường hoặc đủ 50 tuổi nếu làm ở các công việc và khu vực nêu trên như nam giới.

          i Về thời gian đóng BHXh  có phải đủ 20 năm đóng đối với các loại lao động và đối với các trường hợp giảm tiền thì trong đó phải có 15 năm ở ngành nghề hoặc công việc nặng nhọc độc hại hoặc ở nơi khó khăn gian khổ có phụ cấp với hệ số 0,7 trở lên, hoặc công tác ở chiến trường B, C, K.

          i Những người nghỉ hưu nhưng được hưởng trợ cấp thấp hơn với các điều kiện sau :

          + Nam đủ 60 tuổi, nữ 55 tuổi nhưng có thời gian đóng BHXH đủ 15 năm đến dưới 20 năm.

          + Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi thời gian đóng BHXH đủ 20 năm trở lên mà bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.

          + Người lao động có ít nhất 15 năm làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại đã đóng BHXH đủ 20 năm mà bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, không phụ thuộc vào tuổi đời.

        4Sự thay đổi chế độ hưu

          Ngày 12/11/1998 Chính phủ ban hành Nghị định 39/CP sửa đổi một số quy định đối với chế độ hưu như sau :

          – Đối với những người đủ 55 tuổi ( đối với nam ) và 50 tuổi (đối với nữ) mà có đủ 30 năm đóng BHXH trở lên thì hưởng đủ 75% tiền lương bình quân của 5 năm cuối mà không bị trừ tỷ lệ % như trước. Còn đối với những người không đủ điều kiện được hưởng hưu đầy đủ thì thay vì trừ 2% nay chỉ trừ 1%.

        – Đối với những người đã từng có 15 năm làm công việc nặng nhọc độc hại mà sau đó chuyển sang làm công việc khác có mức tiền lương thấp hơn thì khi tính tiền lương bình quân, được tính bình quân của 5 năm liền kề có mức lương cao nhất.

        Chi trả lương hưu chiếm tỉ lệ lớn nhất trong tổng chi của BHXH trong  các năm. Những người hưởng lương hưu được phân chia thành hai loại đối tượng; hưu quân đội và hưu công nhân viên chức. Thông qua bảng thống kê dưới đây chúng ta sẽ thấy rõ được thực trạng chi trả lương hưu của BHXH huyện trong những năm qua.

Bảng 9: Chi trả chế độ hưu trí 2000-2002

 

NĂM

CHỈ TIÊU

SỐ TIỀN TĂNG GIẢM QUA CÁC NĂM

SỐ NGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG TRỢ CẤP

SỐ TIỀN TRỢ CẤP

(ĐV :1000 đồng)

SỐ TIỀN

(ĐV :1000 đồng)

TỶ LỆ(%)

NSNN

QBHXH

NSNN

QBHXH

NSNN

QBHXH

NSNN

QBHXH

2000

8.949

230

15.004.518

988.000

2001

9.050

164

17.460.974

1.008.762

+2.456.456

+20.762

16,37

2,10

2002

9.066

140

17.282.937

1.447.302

-178.037

+438.540

1,01

43,47

(Nguồn số liệu: BHXH huyện Cẩm Xuyên)

        Từ bảng số liệu trên ta thấy: Chi trả chế độ hưu trí BHXH lấy từ nguồn ngân sách lớn hơn nhiều so với nguồn quỹ BHXH. Vì nguồn quỹ chỉ dùng để chi trả cho các đối tượng nghỉ việc trước 01/01/1995 trở đi. Nếu so sánh cụ thể số chi trong từng nguồn thì :

        * Chế độ hưu trí BHXH chi trả từ Nguồn Ngân Sách :

        Năm 2001 số tiền BHXH huyện Cẩm Xuyên chi trả lớn hơn năm 2000 là: 2.456.456.000 đồng tức tăng 16,37%. Đó là do có sự điều chỉnh lương hưu theo NĐ 175/CP.

        Năm 2002 số tiền hưởng trợ cấp  giảm 178.037.000 đồng tức giảm 1,01%. Nguyên nhân giảm là do : những cán bộ hưu trí ở tuổi cao, già yếu, ốm đau, bệnh tật chết tương đối lớn và BHXH huyện đã cắt giảm kịp thời, và vì  điều kiện hoàn cảnh gia đình nên số cán bộ hưu trí chuyển đi các tỉnh khác.

        * Chế độ Hưu trí BHXH chi trả từ nguồn quỹ:

        Trong năm 2001 số tiền trợ cấp so với năm 2000 tăng  20.762.000 đồng tức là tăng 2,10% và năm 2002 cũng tăng so với năm 2001 là 438.540.000 đồng tức là tăng  43,47%. Nguyên nhân của việc tăng chi từ quỹ là do tỷ lệ cán bộ công chức Nhà nước nghỉ hưu tăng tương đối lớn. Và số cán bộ công chức nghỉ hưu trước tuổi tăng do quá trình sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước, các đơn vị hành chính sự nghiệp tinh giảm biên chế và nghỉ theo các chế độ khác của Nhà nước.

        e.  Chế độ Tử tuất.

        Nghị định 12/CP của Chính phủ quy định :

        4 Các trường hợp

        – Người lao động đang làm việc bị ốm đau bệnh tật hoặc tai nạn chết.

        – Những người đang nghỉ chờ hưu bị chết.

        – Những người đang hưởng trợ cấp BHXH hàng tháng (như hưu, mất sức lao động, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp) bị chết những trường hợp trên  thân nhân được hưởng chế độ trả trước.

        4 Điều kiện hưởng

        Tham gia BHXH dưới 15 năm mà chết thân nhân được hưởng trợ cấp 1 lần.

        Tham gia BHXH từ 15 năm trở lên mà chết thì được hưởng trợ cấp hàng tháng kèm theo các điều kiện của thân nhân.

        4 Các loại trợ cấp

        – Mai táng phí : chung cho tất cả mọi người chết là bằng 8 tháng tiền lương tối thiểu.

        – Trợ cấp 1 lần : người lao động chưa đủ 15 năm đóng BHXH hoặc thân nhân chưa đủ điều kiện hưởng trợ cấp hàng tháng. Mức trợ cấp là mỗi năm đóng BHXH thì được một tháng tiền lương bình quân làm căn cứ đóng BHXH nhưng không quá 12 tháng.

        Đối với người đang hưởng hưu chết mà thân nhân không đủ điều kiện trợ cấp hàng tháng thì nếu chết trong năm hưởng hưu thứ nhất thì được hưởng 12 tháng lương hưu. nếu chết từ năm hưởng hưu thứ 2 trở đi, mỗi năm đã hưởng BHXH giảm đi một tháng lương, nhưng tối thiểu cũng bằng 3 tháng lương hưu.

        – Trợ cấp tuất hàng tháng : khi thân nhân của người đủ điều kiện hưởng trợ cấp hàng tháng ở vào một trong các trường hợp sau:

        + Con chưa đủ 15 tuổi hoặc đến 15 tuổi nếu đang đi học.

        + Bố mẹ đẻ, bố mẹ vợ chồng đã hết tuổi lao động (nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi).

        Mức trợ cấp được hưởng đối với mỗi thân nhân bằng 40% tiền lương tối thiểu nhưng không quá 4 suất. Những người cô đơn, không người nuôi dưỡng thì được trợ cấp bằng 70% tiền lương tối thiểu.

        BHXH huyện còn chịu trách nhiệm quản lý đối tượng là người về hưu, lão thành cách mạng và mất sức lao động. Khi những người này chết thì thân nhân tiến hành làm hồ sơ xin hưởng tiền tuất tuỳ theo điều hưởng một lần hoặc hàng tháng. Chi trả BHXH ở BHXH huyện chủ yếu là cho đối tượng hưu là công nhân viên chức chiếm tỷ lệ lớn còn lại là hưu trí quân đội và lão thành cách mạng chiếm tỷ lệ nhỏ. Các đối tượng hưởng chế độ tuất trên địa bàn huyện  như sau:

Bảng 10: Chi trả chế độ tử tuất 2000-2002

 

NĂM

CHỈ TIÊU

SỐ TIỀN TĂNG GIẢM QUA CÁC NĂM

SỐ NGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG TRỢ CẤP

SỐ TIỀN TRỢ CẤP

(ĐV :1000 đồng)

SỐ TIỀN

(ĐV :1000 đồng)

TỶ LỆ(%)

NSNN

QBHXH

NSNN

QBHXH

NSNN

QBHXH

NSNN

QBHXH

2000

836

116

812.990

95.746

2001

865

89

969.908

97.744

+156.918

+ 1.980

19,30

2,07

2002

871

60

880.939

131.163

– 88.969

+33.419

9,17

34,19

(Nguồn số liệu: BHXH huyện Cẩm Xuyên.)

        Qua bảng số liệu trên chúng ta thấy từ nguồn ngân sách Nhà nước và từ nguồn  quỹ bảo hiểm xã hội :

        Trong năm 2001 nguồn ngân sách Nhà nước chi trả lớn hơn nguồn quỹ BHXH cụ thể là tăng 156.918.000 đồng tức là tăng 19,30 so với năm 2000 và nguồn quỹ BHXH cũng tăng nhưng với số tiền bé hơn là 1.980.000 đồng hay tăng 2,07% . Nguyên nhân hai  nguồn này tăng lên là do chi trả cho  con của người lao động bị chết chưa đủ 15 tuổi hoặc bố, mẹ, vợ hoặc chồng người nuôi dưỡng hợp pháp đã hết tuổi lao động.

        Năm 2002 số tiền trợ cấp từ nguồn quỹ BHXH cũng tăng 33.419.000 đồng tức là tăng 34,19% so với năm 2001. Nhưng số tiền trợ cấp đối với nguồn NSNN giảm 88.969.000 đồng hay giảm 9,17% (so với năm 2001). Nguyên nhân giảm là qua quá trình rà soát hồ sơ của các đối tượng hưởng tuất, BHXH  huyện phát hiện và cắt giảm kịp thời một số lượng tương đối lớn các đối tượng  ở tuổi trưởng thành hết hạn hưởng.

        g. Chế độ Tai nạn lao động và Bệnh nghề nghiệp (TNLĐ – BNN)

        Nghị định 12/CP của Chính phủ quy định :

        8 Trường hợp được xác định là TNLĐ và BNN.

        – Bị tai nạn trong giờ làm việc, tại nơi làm việc và ngoài giờ làm việc theo yêu cầu của chủ sử dụng lao động.

        – Bị tai nạn lao động ngoài giờ làm việc theo yêu cầu của chủ sử dụng lao động.

        – Bị tai nạn trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc.

        – Bị các bệnh nghề nghiệp do môi trường và điều kiện lao động. Danh mục BNN do Bộ y tế và Bộ lao động- thương binh xã hội quy định.

        8 Điều kiện được hưởng trợ cấp

– Có tham gia đóng BHXH

– Có giám định thương tật, bệnh tật theo quy định của pháp luật hiện hành.

        8Các loại trợ cấp

          i Khi bị TNLĐ, BNN trong thời gian điều trị người lao động vẫn được hưởng lương và các chi phí điều trị do chủ sử dụng lao động chi trả (không thuộc trợ cấp BHXH).

          i Khi đã ổn định thương tật, được giám định thương tật thì được hưởng trợ cấp BHXH tính từ khi ra viện, gồm :

          – Trợ cấp 1 lần (nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 5-30% bằng từ 4 đến 12 tháng tiền lương tối thiểu).

          – Trợ cấp hàng tháng( nếu bị suy giảm từ 31% trở lên) bằng từ 0,1-1,6 lần mức lương tối thiểu tuỳ thuộc vào tỷ lệ suy giảm khả năng lao động.

          – Được phụ cấp cho người phục vụ bằng 0,8 mức tiền lương tối thiểu đối với những người mất khả năng lao động từ 81% trở lên và bị liệt cột sống, mù hai mắt, cụt hai tay, tâm thần nặng.

          – Nếu bị TNLĐ hoặc BNN mà chết thì gia đình được hưởng trợ cấp một lần bằng 20 tháng tiền lương tối thiểu và được hưởng trợ cấp trước, không phụ thuộc vào thời gian đóng BHXH.

          – Người bị TNLĐ và BNN có đủ điều kiện được hưởng trợ cấp hưu trí.

        Cùng với sự phát triển kinh tế, điều kiện lao động và cống tác an toàn vệ sinh lao động trong các doanh nghiêp ở nước ta hiện nay đã có sự thay đổi đáng kể. Mặc đã có nhiều cải cách nhưng để xoá bỏ hoàn toàn TNLĐ và BNN là điều không thể. Vì vậy chế độ này được quan tâm đặc biệt ở những nước thực hiện BHXH đối với người lao động.

        Kết quả chi trả chế độ trợ cấp TNLĐvà BNN tại BHXH huyện như sau :

Bảng 11: Chi trả chế độ TNLĐ- BNN 2000-2002

 

NĂM

CHỈ TIÊU

SỐ TIỀN TĂNG GIẢM QUA CÁC NĂM

SỐ NGƯỜI ĐƯỢC HƯỞNG TRỢ CẤP

SỐ TIỀN TRỢ CẤP

(ĐV :1000 đồng)

SỐ TIỀN

(ĐV :1000 đồng)

TỶ LỆ(%)

NSNN

QBHXH

NSNN

QBHXH

NSNN

QBHXH

NSNN

QBHXH

2000

16

19

19.558

18.208

2001

16

15

29.019

25.078

+9.461

+6.870

48,37

37,73

2002

15

10

26.515

30.931

-2.504

+5.853

8,63

23,34

(Nguồn số liệu: BHXH huyện Cẩm Xuyên.)

        Qua số liệu trên chúng ta thấy: Số tiền chi trả qua các năm đều có sự tăng, giảm khác nhau cụ thể :

        Từ nguồn ngân sách, năm 2001 tăng là 9.46.000 đồng tức tăng 48,37% so với năm 2000. Nguyên nhân dẫn đến sự biến động trên là do có sự điều chỉnh lương hưu và trợ cấp BHXH theo nghị định 176/CP. Năm 2002 giảm 8,63% hay giảm là 2.504.000 đồng so với năm 2001. Nguyên nhân là do các đối tượng lao động di chuyển đến các tỉnh bạn, và có nhiều trường hợp bị chết…

        Nguồn quỹ: năm 2001 tăng hơn năm 2000 là 6.870.000 đồng tức là tăng 37,73% và năm 2002 tăng hơn năm 2001 là 5.853.000 đồng hay là tăng 23,34%. Nguyên nhân dẫn đến sự tăng số tiền chi trả qua các năm là do số cán bộ công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước, các xí nghiệp sản xuất bị tai nạn ngày càng tăng vì gặp nhiều rủi ro trong lao động sản xuất, chế độ bảo hộ lao động không đảm bảo an toàn trong quá trình làm việc, công tác…

        3. Đánh giá chung.

        Trong những năm qua BHXH huyện Cẩm Xuyên đã gặt hái được nhiều thành công đáng kể. Cụ thể là các khoản thu trong các năm qua tăng dần. BHXH huyện Cẩm Xuyên đã có nhiều cố gắng nhằm đạt được những chỉ tiêu đã đề ra. Nhìn chung các khoản chi từ ngân sách nhà nước vẫn chiếm một khoản lớn trong tổng chi BHXH trong những năm qua. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế huyện Cẩm Xuyên chưa phát triển mạnh so với một số quận huyện khác trên toàn quốc nên tỷ lệ thu so với chi vẫn chưa cao.

        Ngoài ra, những hiện tượng tiêu cực trong cơ quan là không đáng kể đội ngũ cán bộ trong cơ quan hết sức tận tình trong việc giải thích, hướng dẫn những người làm chế độ. Công tác chi trả các chế độ BHXH ngày càng được cải thiện, việc chi trả diễn ra nhanh chóng kịp thời, an toàn và chính xác. Chính vì vậy đã được đông đảo những người hưởng chế độ hoan nghênh, tạo niềm tin đối với BHXH tỉnh Hà Tĩnh.

  CHƯƠNG III

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP

 

        BHXH Việt Nam là ngành mới được thành lập theo NĐ 19/CP ngày 16/2/1995 của Chính phủ để giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo công tác quản lý BHXH và thực hiện các chế độ, chính sách BHXH theo pháp luật của Nhà nước. Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, BHXH Việt nam đã nhanh chóng ổn định tổ chức và từ ngày 01/10/1995 toàn bộ hệ thống BHXH Việt nam đã chính thức đi vào hoạt động. Đến nay, mặc dù bước đầu còn gặp nhiều khó khăn nhưng BHXH đã có nhiều cố gắng và đạt được những thành tích nhất định, khẳng định được vị trí của mình, khẳng định được sự tồn tại và phát triển thông qua các hoạt động của ngành. Đó là số thu BHXH ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước, chi trả cho các chế độ BHXH kịp thời, đúng đối tượng, đúng chế độ chính sách và đủ số lượng, bước đầu đã có những biện pháp đầu tư tăng trưởng quỹ mang lại hiệu quả.

        Tuy nhiên, qua một thời gian ngắn hoạt động, BHXH Việt nam nhận thấy còn có những thiếu sót tồn tại trong chính sách BHXH và trong quá trình thực hiện.

        Để chính sách BHXH bảo đảm tốt hơn đời sống cho người lao động, góp phần tích cực vào việc ổn định an toàn xã hội và sự nghiệp phát triển kinh tế. Dưới đây em xin đưa ra một số ý kiến của mình nhằm hoàn thiện và đổi mới chính sách BHXH.

        1.Về văn bản pháp luật

  Chuyển sang nền kinh tế thị trường cùng với sự thay đổi trong nội dung và đối tượng điều chỉnh các quan hệ xã hội – pháp luật nói chung và chế độ BHXH nói riêng cũng có sự thay đổi. Tuy nhiên, trong các chế định thì chế định pháp lí về BHXH dường như mang tính chất ổn định nhất, điều này rất thuận lợi trong việc xây dựng lại hệ thống quy định về BHXH cho tương lai. Tất nhiên, vẫn cần thiết phải có điều chỉnh trợ cấp cho phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và sự phát triển kinh tế. Yêu cầu ở đây là cần phải có chính sách lao động đồng bộ. Việc xây dựng chế độ BHXH phải khắc phục được tính giải quyết tình thế vì chế độ BHXH ban hành hôm nay không chỉ áp dụng để giải quyết các chế độ cho người lao động đã làm việc trước đây nay về nghỉ chế độ mà còn áp dụng trong hiện tại và tương lai. Mặt khác, sự sát nhập của BHXH và BHYT sẽ gây ra nhiều khó khăn cho công tác quản lý hai nghiệp vụ này.Vì vậy, theo em cần sớm ban hành Luật BHXH và hệ thống hoá văn bản về BHXH pháp quy về BHXH ở mức cao hơn để thực hiện  rõ tầm quan trọng của BHXH và có thể quản lý thống nhât hai nghiệp vụ này.

        Song song với việc ban hành Luật BHXH, chúng ta cũng nên thay đổi lại tỉ lệ đóng BHXH. Hiện nay, do mức sống của xã hội ngày càng được nâng cao đã làm cho tuổi thọ trung bình của con người cũng tăng theo. Cách đây 30 năm, tuổi thọ trung bình của người Việt nam chỉ vào khoảng 50 –60 tuổi thì đến nay tuổi thọ trung bình của người Việt nam đã khoảng 75 tuổi. Tuổi thọ trung bình tăng lên sẽ làm cho số tiền chi trả lương hưu tăng, điều này không đảm bảo nguyên tắc cân bằng thu – chi trong BHXH bởi vì tỉ lệ thu BHXH như  hiện nay la hơi thấp. Vì vậy theo tôi, tỷ lệ đóng BHXH nên tăng lên 25% tổng quỹ lương và được phân chia như sau :

        + Người sử dụng lao động đóng góp 18% tổng quỹ lương.

        + Người lao động đóng góp 7% tổng quỹ lương.

        2. Về đối tượng hưởng, chế độ hưởng BHXH

        Do nhu cầu tham gia BHXH của các đối tượng lao động ngày càng cao cho nên trong những năm gần đây BHXH Việt nam đã cho triển khai loại hình BHXH tự nguyện (thí điểm ở 5 tỉnh, thành) song song với loại hình BHXH bắt buộc. Tuy nhiên, những quy định cụ thể về loại hình BHXH tự nguyện vẫn chưa có và loại hình BHXH này cũng chưa được áp dụng rộng rãi. Vì vậy, theo em BHXH Việt nam nên triển khai rộng rải loại hình BHXH tự nguyện kèm theo những quy định cụ thể, rõ ràng để BHXH huyện cũng như BHXH các huyện khác có thể nhanh chóng triển khai rộng rãi loại hình BHXH này.

        -Đối tượng tham gia BHXH là những người làm nông nghiệp, tiểu thương, những người làm việc trong các đơn vị sử dụng dưới 10 người lao động có một khoản thu nhập tương đối ổn định.

        – Các khoản đóng góp cho quỹ BHXH tự nguỵện chủ yếu dựa vào sự đóng góp của người tham gia. Tuy nhiên tỷ lệ đóng góp này phải được đảm bảo hợp  lí.

        – Hiện nay chỉ nên triển khai BHXH tự nguyện cho 4 chế độ sau

        + Chi trả lương hưu

        + Trợ cấp ốm đau

        + Trợ cấp thai sản

        + Trợ cấp tử tuất

        Riêng 2 chế độ, chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp thì chưa nên triển khai vội, bởi vì chưa thể kiểm soát được rủi ro sẽ xẩy ra cũng như khó quản lí đối tượng này. Còn chế đô dưỡng sức mới được đi vào hoạt động (2001) nên chưa thể tìm  ra được những nguyên nhân cụ thể để triển khai nên  cũng có thể triển khai sau.

        3. Về chế độ, chính sách BHXH

  1. a.     Chế độ hưu trí

        Chế độ hưu trí là một chính sách lớn của xã hội, nó quyết định đời sống của người lao động trong những năm còn lại của cuộc đời sau khi đã về hưu. Vì vậy,  các chế độ chính sách cần hoàn thiện song hành với sự phát triển chung của toàn xã hội.

        Hiện nay, tuổi thọ trung bình quân của ngừơi dân ở các nước có xu hướng ngày càng tăng lên và mức sinh ngày càng giảm. Đa số các nước độ tuổi nghỉ hưu được quy định tăng tương ứng nhằm giảm bớt gánh nặng xã hội về chi BHXH cũng như tận dụng chất xám của người lao động.

        Quy định độ tuổi nghỉ hưu hợp lý sẽ hạn chế sự mất cân đối quỹ BHXH, đồng thời thu hút lực lượng lao động có trình độ cao cống hiến cho công cuộc xây dựng đất nước.

        Pháp luật cần có quy định mềm dẻo hơn trong chế độ này sao cho phù hợp với tính chất nghề nghiệp, điều kiện kinh tế – xã hội, vừa khai thác được hiệu quả tiềm năng và chất lượng lao động.

Cụ thể, những đề xuất của em đối với chế độ hưu trí như sau :

        iNên quy định lại tuổi nghỉ hưu :

        – Đối với những người làm trong điều kiện bình thường thì nên quy định bắt buộc tuổi nghỉ hưu như sau :

        + Nam : 60 tuổi nghỉ hưu

        + Nữ : 60 tuổi nghỉ hưu

        – Đối với những người làm việc trong môi trường độc hại, điều kiện làm việc kém an toàn, nên điều chỉnh sao cho họ có thể nghỉ sớm hơn bình thường từ 10 năm trở xuống (nếu họ muốn). Tuy nhiên họ phải đảm bảo thời gian đóng BHXH là 25 năm.

        iChính sách BHXH vẫn có đan xen với chính sách ưu đãi xã hội. Những người đi B, C, K phải do pháp luật ưu đãi, xã hội điều chỉnh chứ không phải do pháp luật BHXH điều chỉnh. Vì vậy cần phải tách chính sách này ra khỏi chính sách BHXH để đảm bảo cho sự chi trả của quỹ BHXH.

        i Mức trợ cấp BHXH chưa phù hợp với quan hệ đóng- hưởng giữa các nhóm lao động trong việc quy định sau 30 năm đóng BHXH thì từ năm thứ 31 mổi năm đóng thêm được hưởng một lần bằng 1/2 tháng lương nhưng không quá 5 tháng. Việc quy định như vậy là không đảm bảo công bằng xã hội. Vì vậy, theo em nên không nên khống chế số thời gian chi trả lần đầu cho số tháng trên 30 năm là 5 tháng, mà tính chi trả tương ứng thời gian đóng BHXH vượt trội trên 30 năm, mỗi năm 1/2 tháng lương bình quân.

        iViệc tính lương hưu dựa vào mức lương bình quân 5 năm cuối trước khi nghỉ hưu cũng nên xem xét lại, bởi vì có người trong 5 năm cuối hệ số lương chỉ thay đổi 2 lần nhưng cũng có người hệ số lương trong 5 năm cuối lại thay đổi 3 lần. Nếu chỉ dựa vào mức lương bình quân trong 5 năm cuối để tính lương hưu cũng không đảm bảo công bằng xã hội.

        b. Chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản

        Quy định rõ cơ sở y tế nào được khám chữa bệnh và điều trị bệnh cho người lao động hưởng BHXH.

        Đối với những người lao động có thời gian nghỉ nhiều hơn 180 ngày thì mức hưởng trợ cấp BHXH là 65% hoặc70% mức lương đóng BHXH. Thực tế, đây là những người thực sự gặp khó khăn, cần có sự hỗ trợ lớn về thu nhập để đảm bảo đời sống. Vì vậy, để đảm bảo công bằng xã hội, Nhà nước nên chăng quy định lại tỉ lệ hưởng trợ cấp với nhóm người này là75% tiền lương đóng BHXH trước khi nghỉ không phân biệt số năm đóng BHXH.

        Quy định rõ trách nhiệm của y, bác sỹ, lương y xác nhận ngày nghỉ ốm cho người lao động.

        c.  Chế độ Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (TNLĐ và BNN)

        TNLĐ và BNN xẩy ra ngoài ý muốn của người lao động. Khi xét hưởng trợ cấp BHXH chỉ căn cứ vào tỉ lệ suy giảm khả năng lao động thì chưa đủ và thoả đáng vì chưa tính đến sự đóng góp của người lao động. Người lao động bị tai nạn lao động là một thiệt thòi lớn đối với bản thân. Vì vậy, mức hưởng BHXH không tính đến sự đóng cho quỹ BHXH sẽ làm cho người lao động thiệt thòi hơn.

        Vì vậy, một mặt Nhà nước nên chăng tính toán mức trợ cấp dựa trên tỷ lệ tiền lương hiện hành mà người lao động đóng BHXH ; mặt khác, tiếp tục nghiên cứu để có thể định tỷ lệ trợ cấp tỷ lệ thuận với tỷ lệ suy giảm khả năng lao động để tránh tình trạng có người lợi dụng cơ sở để cố ý làm sai.

        d. Chế độ Tử tuất.

        Ở đây chế độ tiền  tuất hàng tháng còn có điểm chưa hợp, điều kiện hưởng không căn cứ vào tình trạng kinh tế của gia đình và sự đóng góp của người chết khi còn sống. Phần lớn thân nhân của người chết chưa đến tuổi lao động hoặc quá tuổi lao động đều được hưởng trợ cấp, dẫn đến mức trợ cấp hàng tháng thấp, không đảm bảo ý nghĩa nhân đạo của chế độ trợ cấp này.

        Vì vậy, nên chăng Nhà nước tính mức trợ cấp dựa trên mức lương bình quân của người lao động trước khi chết ; mặt khác, Nhà nước quy định đại diện đối tượng hưởng trợ cấp, chẳng hạn thân nhân có người nuôi dưỡng trực tiếp có mức thu nhập lớn hơn 10 lần mức lương tối thiểu thì không được hưởng trợ cấp tuất tháng.

        4. Về tổ chức quản lí chi BHXH

        – Từ nay đến những năm tiếp theo BHXH huyện Cẩm Xuyên trong đó phòng Quản lý chế độ chính sách tiếp tục tăng cường quản lý đối tượng được hưởng BHXH. Thực hiện chặt chẽ quy trình xét duyệt hưởng các chế độ về thời gian, mức đóng góp… chỉ tiến hành giải quyết chi trả các chế độ cho người lao động thông qua tổ chức sử dụng lao động( trừ chi lương hưu). Không trực tiếp giải quyết với người lao động để đảm bảo sự công tâm và tránh mọi biểu hiện gây phiền hà, tiêu cực.

        – Rà soát lại hồ sơ của đối tượng để lập phiếu trung gian và đưa vào hệ thống máy tính nhằm đáp ứng yêu cầu công tác và quản lý đối tượng thuận tiện lâu dài và chính xác. Đặc biệt đối với đối tượng đang hưởng trợ cấp mất sức lao động khi hết 1/2 thời gian hưởng trợ cấp phải cắt giảm kịp thời theo quyết định số 60/HĐBT nay là Chính Phủ.

        – BHXH huyện kết hợp với uỷ ban nhân dân xã, phường, thị hướng dẫn uỷ ban nhân các xã, phường , thị trấn thực hiện tốt hợp đồng đã ký kết về chi trả BHXH, quản lý an toàn tiền mặt trong thời gian chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH.

        – Tổ chức chi trả chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, tai nạn lao động đúng nguyên tắc, đúng chứng từ gốc và đảm bảo đúng quy định hiện hành.

Thực hiện chi quản lý tiết kiệm hiệu quả.

        – Tổ chức quản lý an toàn và đảm bảo sử dụng đúng mục đích nguồn kinh phí chi BHXH tiếp tục gắn trách nhiệm thu nộp BHXH với việc xét duyệt và chi trả.

        – Năm 2002, BHXH và BH Y TẾ  sát nhập thành một cơ quan thống nhất từ trên xuống dưới. Vì vậy số cán bộ trong cơ quan sẽ tăng lên. Song, trụ sở cơ quan chật hẹp, nếu có thể cơ quan nên xây dựng một trụ sở mới rộng hơn, giúp cho cán bộ trong cơ quan có điều kiện làm việc thoải mái hơn.

        5. Thực hiện công tác cấp sổ BHXH

        Công tác này không chỉ có vai trò quan trọng đối với người lao động mà còn đối với cơ quan BHXH. Đối với người lao động, nó ghi nhận sự đóng góp vào quỹ BHXH của từng người, trong từng giai đoạn theo lương tháng. Trên cơ sở đó tính mức lương hưởng BHXH theo chế độ, giúp người lao động giám sát kết quả đóng BHXH của người sử dụng lao động, việc thực hiện các chế độ của cơ quan BHXH thu được tiền đóng BHXH một cách chính xác, đúng đối tượng. Tuy nhiên, vấn đề vướng mắc trong công tác cấp sổ BHXH là chưa chặt chẽ do những năm đầu ngành BHXH mới thành lập. Sổ được cấp đồng loạt hoá với một số lượng lớn, nên việc thống kê quản lý sổ đã cấp không chính xác gây nên một số trường hợp người lao động tự ý tẩy xoá vào sổ, ghi sai mức lương, phụ cấp, chức danh nên sau khi kiểm tra phát hiện phải đổi lại sổ gây mất thời gian, kinh phí cho người lao động, chủ sử dụng lao động và cơ quan BHXH khi xét duyệt chế độ chính sách.

        Như vậy, để nâng cao hiệu quả quản lý công tác cấp sổ BHXH :

        – Về phía cơ quan sử dụng lao động : thống kê đầy đủ số lao động, tài liệu về người lao động như tờ khai cấp sổ, hồ sơ trong cơ quan.

        – Về phía cơ quan BHXH: Công tác thu, công tác quản lý sổ BHXH phải đảm bảo chặt chẽ, thu, xác nhận sổ đúng chức danh, đúng mức lương, phụ cấp của người lao động, khớp đúng giữa sổ BHXH với danh sách lao động và quỹ lương trích nộp BHXH. Bên cạnh đó, bổ sung đội ngũ cán bộ ngành BHXH, nâng cao kỹ năng thực hiện các nghiệp vụ BHXH. Chương trình này có thể thông qua các chuyên đề chuyên sâu như : những nội dung cơ bản của luật BHX, đầu tư các quỹ BHXH, quản lý hồ sơ trên máy vi tính  để nâng cao tốc độ cấp sổ.

 KẾT LUẬN

 

        Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, đã và đang phát huy vai trò hết sức to lớn đối với người lao động, góp phần ổn định đời sống của hàng triệu người lao động và gia đình họ khi gặp phải những trường hợp ốm đau, bệnh tật, khó khăn trong cuộc sống.

        Có thể nói, BHXH luôn gắn liền trách nhiệm và quyền lợi của người lao động và chủ sử dụng lao động với nhau. Đây cũng là tổng hợp các quan hệ Kinh tế – Xã hội giữa các thành viên trong xã hội, giữa các cơ quan, doanh nghiệp, các thành phần kinh tế khác. Do đó, không thể không thực hiện chính sách BHXH có hiệu quả.

        Kể từ khi thành lập cơ quan BHXH huyện Cẩm Xuyên đã góp phần ổn định ngân sách Nhà nước, giảm gánh nặng cho ngân sách, giúp Nhà nước tập trung vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội, giúp người lao động ổn định cuộc sống, an tâm lao động…

        Hoàn thành luận văn về hoạt động công tác chi BHXH- một vấn đề lớn và quan trọng nên chắc chắn em không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để luận văn hoàn thành tốt hơn.

        Em xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Đoàn Thị Thu Hương và cơ quan BHXH huyện Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh đã hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành  luận văn này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO.

 

1. Giáo trình BHXH – Trường ĐH Quản lý và Kinh doanh Hà Nội.

2. Hỏi đáp về những chính sách trợ cấp xã hội chủ yếu của Nhà nước nhà xuất bản Lao động – Xã hội 2003

3. Báo  Bảo Hiểm Xã Hội  số 3/ 2003 .

4. Tạp chí Lao động Xã hội.

5. BHXH- Những điều cần biết – Nhà xuất bản Thống kê – Hà nội/ 2001

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s