LỜI MỞ ĐẦU

Như mọi quốc gia trên thế giới, BHXH Việt Nam trong những năm qua được xem là một trong những chính sách rất lớn của Nhà nước, luôn được sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời của Đảng và Nhà nước; điều này có thể dễ dàng lý giải bởi BHXH không chỉ liên quan đến hàng triệu lao động mà còn bởi nó có ý nghĩa rất lớn đối với cả những người phụ thuộc vào các đối tượng trên. BHXH chẳng những có ý nghĩa về mặt kinh tế – xã hội mà còn có ý nghĩa nhân đạo sâu sắc, chính sách này thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực kinh tế và khả năng tổ chức quản lý của Nhà nước.

Khi đất nước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN thì việc bao cấp toàn bộ cho hoạt động BHXH tỏ ra không còn phù hợp với tình hình mới. Để từng bước đổi mới công tác tổ chức quản lý BHXH, chính phủ đã ra Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 về việc ban hành điều lệ BHXH và Nghị định 19/CP ngày 16/02/1995 về việc thành lập BHXH Việt Nam và các quyết định khác kèm theo về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam. Với mục đích thống nhất việc quản lý và thực hiện các chế độ BHXH nhằm đảm bảo tốt hơn lợi ích của người lao động thì BHXH Việt Nam đã được thành lập trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH ở trung ương và địa phương thuộc hệ thống Bộ Lao động – TB&XH và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam nhằm giúp Thủ tướng chính phủ chỉ đạo công tác quản lý quỹ BHXH và thực hiện chế độ chính sách BHXH theo pháp luật hiện hành. Và để giải quyết tốt vấn đề trên đảm bảo nguồn quỹ chi trả các chế độ BHXH cho các đối tượng được hưởng trợ cấp BHXH thì việc nâng cao hiệu quả thu quỹ đồng thời duy trì và phát triển nguồn quỹ là đòi hỏi bức bách khiến em đi đến lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Thực trạng thu nộp quỹ  BHXH và một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu nộp quỹ BHXH Việt Nam hiện nay”

Những nội dung chính của đề tài:

Lời mở đầu

Phần I. Khái quát chung về BHXH và quỹ BHXH

Phần II. Thực trạng công tác thu nộp quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian qua.

Phần III. Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu nộp quỹ BHXH

Lời kết

Mặc dù em đã rất cố gắng nghiên cứu nhưng do trình độ và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận được sự góp ý, xây dựng của các thầy cô giáo và các bạn

Em xin chân thành cảm ơn ./.

Hà Nội, ngày 4 tháng 11 năm 2000
Tác giả

Nông Hữu Tùng

PHẦN THỨ NHẤT

 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BHXH VÀ QUỸ BHXH

I. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN BHXH

1. Sự tồn tại khách quan của BHXH

Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở và đi lại v.v… Để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu đó, người ta phải lao động để làm ra những sản phẩm cần thiết. Khi sản phẩm được tạo ra ngày càng nhiều thì đời sống con người ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn. Như vậy, việc thoả mãn những nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào chính khả năng lao động của họ. Nhưng trong thực tế, không phải lúc nào con người cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường. Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác. Chẳng hạn, bất ngờ bị ốm đau hay bị tai nạn trong lao động, mất việc làm hay khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ bị suy giảm v.v… Khi rơi vào những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới như: cần được khám chứa bệnh và điều trị ốm đau; tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc nuôi dưỡng v.v… Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong nội bộ công đồng; đi vay, đi xin hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà nước v.v… Rõ ràng, những cách đó là hoàn toàn thụ động và không chắc chắn.

Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổ biến. Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã phải cam kết cả việc bảo đảm cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cu thiết yếu khi không may bị ốm đau, tại nạn, thai sản v.v… Trong thực tế, nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra và người chủ không phải chi ra một đồng nào. Nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ phải bỏ ra một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn. Vì thế, mâu thuẫn chủ – thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ thực hiện cam kết. Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội. Do vậy, Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn. Sự can thiệp này một mặt làm tăng được vai trò của Nhà nước, mặt khác buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với người làm thuê. Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Quỹ này còn được bổ sung từ ngân sách Nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi gặp phải những biến cố bất lợi. Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao động được dàn trải, cuộc sống của người lao động và gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định. Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết. Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng. Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo.

Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên được thế giới quan niệm là BHXH đối với người lao động. Như vậy BHXH ra đời và phát triển là một tất yếu khách quan và ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của mỗi quốc gia, mọi thành viên trong xã hội đều thấy cần thiết tham gia BHXH, nó trở thành quyền lợi và nhu cầu của người lao động và được thừa nhận là nhu cầu tất yếu khách quan.

2. Quá trình phát triển của BHXH

2.1. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển chính sách về BHXH trên thế giới

BHXH đã có từ lâu và thực sự trở thành hoạt động mang tính xã hội từ đầu thế kỷ 19. Bộ luật đầu tiên về chế độ bảo hiểm được hình thành ở Anh vào năm 1819 với tên gọi “Luật nhà máy” và tập trung vào bảo hiểm cho người lao động làm việc trong các xưởng thợ. Vào năm 1883, luật bảo hiểm ốm đau hình thành ở Đức. Cũng tại Đức, một số các luật khác được hình thành, sau đó chẳng hạn luật tai nạn lao động hình thành năm 1884; luật bảo hiểm người già và tàn tật do lao động hình thành năm 1889. Đến nay BHXH được thực hiện trên rất nhiều nước và trở thành một bộ phận quan trọng trong hoạt động của Liên hợp quốc. Một tổ chức quốc tế lớn nhất thế giới hiện nay. Trong tuyên ngôn của Liên hợp quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 có ghi: “Tất cả mọi người, với tư cách là thành viên của xã hội, có quyền hưởng BHXH. Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người”.. Để thể chế hoá tinh thần đó, tổ chức lao động quốc tế ILO (một tổ chức cơ cấu trong liên hợp quốc) đã đưa ra Công ước 102 quy định về tiêu chuẩn tối thiểu của BHXH và những khuyến nghị các nước thành viên về việc thực hiện các tiêu chuẩn này.

2.2. Khái quát về sự hình thành và phát triển chính sách  BHXH  ở Việt Nam

Như ở phần trên, BHXH phát triển gắn liền với sự phát triển của  nền kinh tế hàng hoá, ở Việt Nam trong gần một thế kỷ cai trị, bọn thực dân Pháp hầu như không đề ra được những gì để bảo vệ các quyền cơ bản của con người. Không thực hiện được chế độ chính sách về BHXH đối với người lao động Việt Nam. Ngay sau cách mạng tháng 8 thành công trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ đã ban hành một loạt các sắc lệnh quy định về các chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hưu trí cho công nhân viên chức Nhà nước (có Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947; Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950). Cơ sở pháp lý tiếp theo của BHXH được thể hiện trong Hiến pháp năm 1959. Hiến pháp năm 1959 của nước ta đã thừa nhận công nhân viên chức có quyền được trợ cấp BHXH. Quyền này được cụ thể hoá trong Điều lệ tạm thời về BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nước, ban hành kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 và Điều lệ đãi ngộ quân nhân ban hành kèm theo Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964 của Chính phủ. Suốt trong những năm tháng kháng chiến chống xâm lược, chính sách BHXH nước ta đã góp phần ổn định về mặt thu nhập, ổn định cuộc sống cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ, góp phần rất lớn trong việc động viên sức người sức của cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược thống nhất đất nước.

Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành cải cách kinh tế và chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường. Sự thay đổi về cơ chế kinh tế đòi hỏi có những thay đổi tương ứng về chính sách xã hội nói chung và chính sách BHXH nói riêng. Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ: “Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với công chức Nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động”. Trong văn kiện Đại hội VII của Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã chỉ rõ, cần đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách. Tiếp đến Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII cũng đã nêu lên “Mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế”. Như vậy, các văn bản trên của Đảng và Nhà nước là những cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đổi mới chính sách BHXH nước ta theo cơ chế thị trường. Ngay sau khi Bộ luật lao động có hiệu lực từ ngày 1/1/1995, Chính phủ đã ban hành Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 về Điều lệ BHXH đối với người lao động trong các thành phần kinh tế. Nội dung của bản điều lệ này góp phần thực hiện mục tiêu của Đảng và Nhà nước đề ra, góp phần thực hiện công bằng và sự tiến bộ xã hội, góp phần làm lành mạnh hoá thị trường lao động và đồng thời đáp ứng được sự mong mỏi của đông đảo người lao động trong các thành phần kinh tế của cả nước.

MỤC LỤC

Lời mở đầu       1

I. Khái quát chung về BHXH và quỹ BHXH………………………………. 3

1.1. Sự cần thiết khách quan của BHXH……………………………………. 3

1.2. Quá trình phát triển của BHXH………………………………………….. 5

1.3. Bản chất của BHXH……………………………………………………….. 15

1.4. Chức năng và tính chất của BHXH Error! Bookmark not defined.

1.5. Quỹ BHXH……………………………………………………………………. 15

II. Thực trạng công tac thu nộp quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian qua.        32

2.1. Quy định về thu nộp quỹ BHXH Việt Nam………………………… 48

2.2. Tình hình thu nộp quỹ BHXH Việt Nam hiện nay………………. 57

2.3. Bài học kinh nghiệm rút ra từ hoạt động BHXH trong và ngoài nước.  68

III. Một số biện pháp nhằm nâng  cao hiệu quả thu nộp quỹ BHXH 68

3.1. Tăng cường công tác quản lý thu nộp BHXH……………………… 72

3.2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hiểm xã hội………………. 73

3.3. Công tác thông tin tuyên truyền về BHXH…………………………. 73

3.4. Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hiện đại hoá hoạt động ngành BHXH.        75

3.5. Mở rộng đối tượng tham gia và phạm vi BHXH………………….. 76

3.6. Nâng cao hiệu quả đầu tư nguồn quỹ nhàn rỗi……………………. 77

3.7. Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý……………. 78

3.8. Hợp tác trong nước và quốc tế về BHXH…………………………… 79

Kết luận    80

Tài liệu tham khảo    32

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Dịch vụ viết luận văn. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s