Một số vấn đề cần lưu ý của UCP 600


 

LỜI MỞ ĐẦU

Xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế đã mở ra cho nhân loại cánh cửa giao lưu đầy triển vọng, các nước đang xích lại gần nhau thông qua chiếc cầu nối thương mại quốc tế. Vượt qua không gian và thời gian, những luồng chu chuyển hàng hóa, dịch vụ và tiền tệ đã tạo ra sự gắn kết bền vững giữa cung và cầu ở những nước có trình độ kinh tế khác nhau và ngày càng trở nên phong phú, đa dạng kéo theo sự phức tạp ngày càng lớn trong mắt xích cuối cùng của quá trình trao đổi, thanh toán quốc tế. Điều đó đặt ra cho các ngân hàng thương mại phải phát triển các dịch vụ kinh tế đối ngoại một cách tương ứng, trong đó không thể không kể đến hoạt động thanh toán quốc tế với nhiều phương thức thanh toán đa dạng và phong phú. Trong các phương thức thanh toán này, tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến nhất do những ưu việt của nó. Song tín dụng chứng từ không phải là nghiệp vụ đơn giản, trong thực tế công tác này đã gặp phải không ít những rủi ro gây thiệt hại cả về tài chính lẫn uy tín cho các ngân hàng thương mại cũng như các doanh nghiệp Việt Nam.  Các doanh nghiệp cần hiểu rõ đối tác về năng lực tài chính, tiểu sử về hoạt động sản xuất kinh doanh, lĩnh vực xuất nhập khẩu; khi ký hợp đồng phải chặt chẽ và tuân thủ các quy định của tiêu chuẩn quốc tế, các nguồn luật cần tuân thủ để khi có xảy ra tranh chấp sẽ dễ giải quyết.

UCP ra  đời với mục đích khắc phục các xung đột về luật điều chỉnh tín dụng chứng từ giữa các quốc gia bằng việc xây dựng một bản quy tắc thống nhất cho hoạt động tín dụng chứng từ. Bản UCP đang được áp dụng hiện nay là UCP 600 (The Uniform Custom and Practice for Documentary Credits, ICC Publication No. 600) vẫn còn khá mới mẻ đối với các DN cũng như các NHTM. Chính vì vậy mà chúng tôi mạnh dạn đưa ra đề tài nghiên cứu: “ Một số vấn đề cần lưu ý của UCP 600” qua đó đưa ra một số đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các bên, giảm thiểu rủi ro trong phương thức thanh toán này.

 

 

Phần I:  

Khái quát về ICC và UCP 600

 

1. Vài nét về phòng thương mại quốc tế ICC

Quyết định thành lập Phòng thương mại quốc tế (The International chamber of commerce dưới đây viết tắt là ICC) được thông qua tại Hội nghị quốc tế về thương mại, họp tại thành phố Atlantic-city vào tháng l0/1919, với sự tham gia của đại diện giới thương mại và công nghiệp của 5 nước Mỹ, Anh, Pháp, Bỉ và Ý. Ngày 24/10/1919 ngày thông qua quyết định thành lập ICC được coi là ngày thành lập ICC. Tháng 6/1920, tại Pa-ri đă tiến hành họp Ðại hội sáng lập (Constituent Congress) ICC với sự tham gia của gần 500 đại diện của 5 nước nói trên. Tại Ðại hội này, người ta đã thông qua Ðiều lệ, thành lập các cơ quan chức năng và quyết định lấy Paris làm trụ sở chính của ICC.

82 năm đă trôi qua kể từ khi điều lệ hoạt động của ICC được thông qua. Trong  ngần ấy năm trời, điều lệ của ICC đă nhiều lần được sửa đổi, bổ sung. Song toàn bộ những sửa đổi, bổ sung đó không làm thay đổi bản chất của điều lệ cũng như cơ cấu tổ chức của ICC mà chỉ nhằm làm rõ hơn nữa mục đích và nhiệm vụ mà ICC đã vạch ra cho mình từ những ngày đầu và hoàn thiện thêm cơ cấu tổ chức, nhằm bảo đảm cho việc lãnh đạo hoạt động của toàn bộ hệ thống các cơ quan của ICC có kết quả hơn.

Theo điều lệ, ICC là một liên đoạn tập hợp những lực lượng kinh tế chủ yếu nhất của từng nước hội viên vào các ủy ban quốc gia (National committes) ICC là một tổ chức Quốc tế phi chính phủ.

Mục đích và nhiệm vụ chính thức của ICC, như điều lệ qui định là: thông qua việc tác động tới tất cả các lĩnh vực của hoạt động kinh tế quốc tế bao gồm thương mại, công nghiệp, vận tải và tài chính) nhằm cài thiện các điều kiện quan hệ kinh tế giữa các nước và giải quyết những vấn đề kinh tế quốc tế, thiết lập các mối giao tiếp quốc tế và sự hiểu biết tương hỗ giữa các giới kinh tế và các tổ chức của chúng để trên cơ sở đó “gìn giữ hòa bình và củng cố các mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc”.

Song, trong thực tế, ngay từ lúc mới thành lập, ICC đã trở thành một tổ chức đai diện cho quyền lợi của các giới độc quyền ở các nước đế quốc. Các chinh kiến chính trị, triết học làm cơ sở nền tảng cho hoạt động của ICC, liên minh riêng của các giới đại diện khổng lồ của thế giới tư bản cùng những ảnh hưởng chính trị của họ, sự hiểu biết tuyệt vời về trạng thái kinh tế và các quy luật của các nước TBCN đã khiến cho ICC trở thành cương lĩnh thúc đẩy liên kết TBCN, hình thành và phát triển hệ thống liên đoàn độc quyền quốc tế.

Mục đích chủ yếu của ICC là bằng mọi cách, bảo vệ hòa bình cho các xí nghiệp kinh doanh tư nhân. Đấu tranh để thủ tiêu những trở ngại về kinh tế và chính trị đang kìm hãm việc tự do lưu thông tư bản, hàng hóa, sức lao động những nhà lãnh đạo ICC, dưới ảnh hưởng trực tiếp của chủ nghĩa độc quyền quốc tế, đang đưa ra một mô hình về thế giới TBCN trong tương lai như là một liên kết thống nhất trước hết là trong lĩnh vực kinh tế xã hội và sau đó là trong lĩnh vực chính trị. Họ cho rằng “hệ thống liên kết thống nhất” của TBCN sẽ dẫn tới việc sử dụng lực lượng sản xuất và tài nguyên hợp lý và có hiệu quả hơn và việc phân công lao động quốc tế trong thế giới TBCN cũng sẽ hợp lý hơn.

Các nhà tư bản luôn luôn coi ICC là người bảo vệ quyền lợi cho mình. ICC không phải là một tổ chức theo đuổi lục đích lợi nhuận nhưng nó được thành lập nhằm phục vụ cho các hãng, các công ty tư nhân TBCN chạy theo lợi nhuận và làm ra lợi nhuận. ICC là một tổ chức quốc tế hoạt động vì quyền lợi của các nhà kinh doanh tư nhân, được thành lập với mục đích thúc đẩy, nâng đỡ mọi bước đi của người buôn bán cá thể thông qua sự giúp đỡ có tính chất tập thể của các ủy ban quốc gia của ICC ở các nước cũng như của bản thân ICC.

Kể từ khi thành lập đến nay, ICC đã chứng kiến biết bao biến đổi của nền kinh tế thế giới. Nhiều tổ chức quốc tế kếch sù đã ra đời và những quan điểm về nền kinh tế thế giới hôm nay đã khác xa với những quan điểm từng có trước đây. Song, tất cả những điều đó không hề làm giảm vai trò và uy tín của ICC. ICC vẫn đang là trung tâm đầu não thai nghén ra những tư tưởng và sáng kiến, trung tâm phối hợp hoạt động của thế giới tư bản-thế giới sản sinh ra hàng loạt những vấn đề lớn trong lĩnh vực phát triển kinh tế nói chung và chính sách kinh tế và tài chính nói riêng. Tất cả những điều này có thể dễ dàng thấy được thông qua số lượng hội viên, cơ cấu tổ chức và hoạt động của ICC.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, số hội viên của ICC và số các nước có đại diện của mình ở ICC đã tăng lên một cách đáng kể. Nếu như trước chiến tranh, ICC chỉ tập hợp các đại diện tư bản tư nhân của các nước đế quốc chủ yếu ở Châu Âu và Bắc Mỹ thì ngày nay đã có hơn 100 nước ở khắp các lục địa có đại diện ở ICC. Tính đến tháng 4/1987, hội viên của ICC gồm 7000 hãng công ty tư nhân có hoạt động gắn liền với việc kinh doanh quốc tế (Intemational business) và gần 2000 tổ chức kinh tế (các liên doanh công nghiệp, các phòng thương mại, các hiệp hội ngân hàng khác nhau…) liên kết, hợp hàng nghìn xí nghiệp kinh doanh tư nhân.

 

2. Quy tắc và Thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ UCP 600

Quy tắc và Thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ (tên tiếng Anh: The Uniform Customs and Practice for Documentary Credits – viết tắt là UCP) là một bộ các quy định về việc ban hành và sử dụng thư tín dụng (hay L/C). Sau 03 năm soạn thảo và chỉnh lý, ngày 25 tháng 10 năm 2006 Uỷ ban Ngân hàng của Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) đã thông qua Bản Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ mới (UCP 600) thay thế cho Bản Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ cũ (UCP 500). UCP 600 này sẽ có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2007.

Bản UCP đầu tiên được ICC phát hành từ năm 1933 với mục đích là khắc phục các xung đột về luật điều chỉnh tín dụng chứng từ giữa các quốc gia bằng việc xây dựng một bộ quy tắc thống nhất cho hoạt động tín dụng chứng từ. Theo đánh giá của các chuyên gia, UCP là bộ quy tắc (thông lệ quốc tế) tư nhân thành công nhất trong lĩnh vực thương mại. Ngày nay, UCP là cơ sở pháp lý quan trọng cho các giao dịch thương mại trị giá hàng tỷ đô la hàng năm trên toàn thế giới. UCP được các ngân hàng và các bên tham gia thương mại áp dụng ở trên 175 quốc gia. Khoảng 11-15% thương mại quốc tế sử dụng thư tín dụng với tổng giá trị hơn 1.000 tỷ USD mỗi năm.

UCP 600 có một số thay đổi cơ bản so với bản UCP 500 như sau:

(i)                           Thứ nhất, UCP 600 đã bổ sung nhiều định nghĩa và giải thích thuật ngữ mới dể làm rõ nghĩa của các thuật ngữ còn gây tranh cãi trong bản UCP 500;

(ii)                        Thứ hai, thuật ngữ “thời gian hợp lý” (reasonable time) cho việc từ chối hoặc chấp nhận các tài liệu đã được thay thế bằng khoảng thời gian cố định là “05 ngày làm việc ngân hàng”;

(iii)                      Thứ ba, UCP 600 bổ sung thêm các quy định mới cho phép chiết khấu tín dụng thư chậm trả;

(iv)                      Thứ tư, theo UCP 600, các ngân hàng có thể chấp nhận tài liệu bảo hiểm có các nội dung dẫn chiếu đến các điều khoản miễn trừ (exclusion clause).

Để có thể hiểu và thực hiện chính xác, có hiệu quả các quy định của UCP 600, trong khoảng thời gian 07 tháng còn lại, các ngân hàng và doanh nghiệp được khuyến cáo là phải nghiên cứu kỹ lưỡng các quy định mới của UCP 600.

So với phiên bản cũ, UCP600 có nhiều điểm nổi bật hơn. Các từ ngữ trong thanh toán quốc tế được ghi ngắn gọn và rõ ràng hơn, các điều kiện giao dịch được cụ thể hóa hơn và không còn mơ hồ để có thể tạo ra tranh chấp giữa các bên. Cụ thể,  UCP 600 giải thích các quy định pháp lý trong tín dụng và bổ sung mới như cho phép dùng các thuật ngữ “hạng nhất”, thời gian xử lý chứng từ đã được rút ngắn từ 7 ngày xuống 5 ngày…UCP 600 quy định nếu xuất trình chứng từ phù hợp thì phải thanh toán; nếu xuất trình không phù hợp, ngân hàng phát hành, ngân hàng xác nhận…có quyền từ chối thanh toán hoặc thương lượng thanh toán. Ở điều khoản 28, UCP 600 có quy định rõ ngoài đại lý, còn có thêm “người ủy quyền” tham gia bảo hiểm; quy định không gian bảo hiểm; quy định mức bảo hiểm tối

Khi công việc sửa đổi bản quy tắc ban đầu, một số khảo sát trên phạm vi quốc tế chỉ ra rằng khoảng 70% chứng từ xuất trình theo Thư tín dụng bị từ chối trong lần xuất trình đầu tiên do có những sai sót. Rõ ràng điều này đã và sẽ tiếp tục ảnh hưởng xấu đến Thư tín dụng vốn được coi là một phương tiện thanh tóan, và nếu không được điều chỉnh, sẽ có những tác động nghiêm trọng đến việc duy trì và gia tăng thị phần của tín dụng chứng từ như là một phương tiện thanh toán quan trọng trong thương mại quốc tế. Việc một số ngân hàng đưa ra phí sai biệt của chứng từ càng chứng tỏ tầm quan trọng của vấn đề này, đặc biệt là nhiều sai sót không rõ ràng và hợp lý. Mặc dù số vụ kiện cáo không tăng trong thời gian áp dụng UCP 500, việc ban hành bản Quy tắc Giải quyết tranh chấp về tín dụng chứng từ (DOCDEX) của ICC vào tháng 10/1997 (và được sửa đổi vào tháng 3/2002) đã dẫn đến hơn 60 vụ kiện phải xét xử.

Để giải quyết những vấn đề này và một số vấn đề khác có liên quan, Ủy ban Ngân hàng thành lập Nhóm soạn thảo để sửa đổi UCP 500. Nhóm thứ hai là nhóm tư vấn cũng được thành lập để rà soát và góp ý cho các dựthảo do Nhóm soạn thảo đệ trình. Nhóm tư vấn, với trên 40 thành viên từ 26 quốc gia, bao gồm nhiều chuyên gia trong ngành ngân hàng và vận tải. Dưới sự chỉ đạo của John Turbull, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn ngân hàng Sumitomo Mitsui Châu Âu tại London và Carlo Di Ninni, Cố vấn Hiệp hội ngân hàng Italia tại Rome, Nhóm tư vấn đã đưa ra những góp ý rất có giá trị cho Nhóm soạn thảo trước khi đệ trình dự thảo lên các ủy ban quốc gia của ICC.

Nhóm soạn thảo bắt đầu quá trình rà soát bằng việc phân tích những ý kiến chính thức của Ủy ban Ngân hàng đối với UCP 500. khoảng 500 ý kiến đã được xem xét để đáng giá xem khi giải quyết các vấn đề phát sinh sẽ cần phải sửa đổi, bổ sung hay xóa bỏ điều khoản nào trong UCP. Ngoài ra, Nhóm cũng xem xét 4 bản đánh giá do Ủy Ban Ngân hàng đưa ra vào tháng 9/1994, 2 Quyết định của Ủy ban Ngân hàng (liên quan đến đồng euro và quy định về việc xác định chứng từ gốc theo tiểu mục 20(b) của UCP 500 và các phán quyết được ban hành trong các vụ kiện của DOCDEX).

Trong quá trình sửa đổi, nhóm làm việc cũng lưu ý đến khối lượng công việc đáng kể phải hoàn thành khi soạn thảo Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụng chứng từ (International Standard Banking Practice for the Examination of Documents under Documentary Credits – ISBP), ấn phẩm ICC số 645. Ấn phẩm này đã trở thành một tài liệu quan trọng kèm theo UCP để xác định mức độ phù hợp của chứng từ với các điều khoản của thư tín dụng. Nhóm soạn thảo và Ủy ban Ngân hàng hy vọng các nguyên tắc của ISBP, kể cả các sửa đổi sau này, sẽ tiếp tục được áp dụng trong thời gian UCP 600 có hiệu lực. Khi UCP 600 được áp dụng, ISBP cũng sẽ được cập nhật để nội dung của nó phù hợp với bản chất và hình thức của Quy tắc mới.

Bốn bản đánh giá phát hành vào tháng 9/1994 dựa trên các nguyên tắc của UCP 500, do đó sẽ không áp dụng được cho UCP 600. Những vấn đề quan trọng trong Quyết định về việc xác định chứng từ gốc đã được đưa vào nội dung của UCP 600. Phán quyết trong các vụ kiện của DOCDEX vẫn dựa theo ý kiến đánh giá của Ủy ban Ngân hàng ICC nên không có nội dung cụ thể nào cần điều chỉnh trong bản quy tắc này.

Một trong những thay đổi trong cấu trúc của UCP là đã đưa vào các điều khoản về định nghĩa (điều 2) và giải thích (điều 3). Khi đưa ra định nghĩa về vai trò của ngân hàng và ý nghĩa của các thuật ngữ và sự kiện cụ thể, UCP 600 không nhắc lại lời văn để mô tả cách giải thích và áp dụng. Tương tự, điều khoản giải thích nhằm loại bỏ sự mập mờ hoặc không rõ ràng trong ngôn ngữ thường xuất hiện trong thư tín dụng và đưa ra sự giải thích dứt khoát các đặc trưng của UCP hoặc thư tín dụng.

Trong 3 năm qua, các ủy ban quốc gia của ICC đã nghiên cứu hàng loạt vấn đề có liên quan để lựa chọn ra được văn bản phù hợp nhất mà nhóm soạn thảo trình lên. Kết quả của việc nghiên cứu này cũng như nhiều đóng góp của các Ủy ban quốc gia đối với nhiều mục trong văn bản được thể hiện rõ trong nội dung của UCP 600. Nhóm soạn thảo đã không chỉ xem xét thực tiễn đang diễn ra có liên quan đến tín dụng chứng từ mà còn cân nhắc cả những xu hướng phát triển của nó trong tương lai.

Bản sửa đổi UCP này là kết quả của hơn 3 năm phân tích rà soát, tranh luận và dung hòa giữa các thành viên của nhóm soạn thảo, Ủy ban Ngân hàng và các Ủy ban quốc gia có liên quan của ICC. Các góp ý rất có giá trị cũng được giử đến từ Ủy ban về Vận tải và logistics của ICC Ủy ban về pháp luật và Thực hành thương mại và Ủy ban về bảo hiểm.

Việt Nam đang đứng trước thềm hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới với tốc độ và quy mô trao đổi thương mại ngày càng tăng nhanh, một khi phương thức thanh toán tín dụng chứng từ vẫn là phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu thì yêu cầu tìm hiểu những quy tắc và tập quán quốc tế trong thanh toán xuất nhập khẩu như UCP 600 là một yêu cầu quan trọng cho các ngân hàng và doanh nghiệp Việt Nam.

 

3. Nội dung của UCP 600:

Điều 1: Áp dụng UCP

Điều 2: Định nghĩa

Điều 3: Giải thích

Điều 4: Tín dụng và hợp đồng

Điều 5: Các chứng từ và hàng hóa, dịch vụ hoặc các thực hiện

Điều 6: Thanh toán, ngày hết hạn và nơi xuất trình

Điều 7: Cam kết của Ngân hàng phát hành

Điều 8: Cam kết của Ngân hàng xác nhận

Điều 9: Thông báo tín dụng và các sửa đổi

Điều 10: Sửa đổi tín dụng

Điều 11: Tín dụng và sửa đổi được sơ báo và chuyển bằng điện

Điều 12: Sự chỉ định

Điều 13: Thỏa thuận hoàn trả giữa các ngân hàng

Điều 14: Tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ

Điều 15: Xuất trình phù hợp

Điều 16: Chứng từ có sai biệt, bỏ qua sai biệt và thông báo

Điều 17: Các chứng từ gốc và bản sao

Điều 18: Hóa đơn thương mại

Điều 19: Chứng từ vận tải dụng cho ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau

Điều 20: Vận tải đơn

Điều 21: Giấy gửi hàng đường biển không chuyển nhượng

Điều 22: Vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu

Điều 23: Chứng từ vận tải hàng không

Điều 24: Chứng từ vận tải đường bộ, đường sắt và đường song

Điều 25: Biên lai chuyển phát, biên lai bưu điện hoặc giấy chứng nhận bưu phẩm

Điều 26: Trên boong, người gửi hàng xếp và đếm, người gửi hàng kê khai gồm có và chi phí phụ thêm vào cước phí

Điều 27: Chứng từ vận tải hoản hảo

Điều 28: Chứng từ bảo hiểm và bảo hiểm

Điều 29: Gia hạn ngày hết hạn hiệu lực và ngày xuất trình cuối cùng

Điều 30: Dung sai về số tiền, số lượng và đơn giá

Điều 31: Giao hàng hoặc thanh toán từng phần

Điều 32: Giao hàng hoặc thanh  toán nhiều lần

Điều 33: Giờ xuất trình

Điều 34: Miễn trách về hiệu lực của chứng từ

Điều 35: Miễn trách về dịch thuật và chuyển giao thư tín

Điều 36: Bất khả kháng

Điều 37: Miễn trách về hành động của một bên ra chỉ thị

Điều 38: Tín dụng có thể chuyển nhượng

Điều 39: Chuyển nhượng số tiền thu được

 

4. Những con số thống kê

Quá trình sửa đổi UCP kéo dài hơn 3 năm (bắt đầu từ tháng 5/2003). Nhóm Dự Thảo UCP 600 đã có 15 cuộc họp với tổng thời gian hơn 45 ngày và đã nhận được khoảng 5000 ý kiến từ các UBQG. UBNH đã dành 7 ngày để thảo luận nội dung của UCP 600, bao gồm một cuộc họp thêm ở Dublin dành toàn bộ thời gian cho việc sửa đổi. Có 15 bản dự thảo được gửi đi; trong đó có 3 bản dự thảo đầy đủ. 9 bản dự thảo trong số 15 bản dự thảo đã được Nhóm Tư Vấn ICC xem xét trước khi được gửi đến các UBQG. Những bản dự thảo liên quan được gửi đến các uỷ ban chuyên môn của ICC: Uỷ ban Vận tải và Logistics, Uỷ ban Tập quán và Luật Thương mại và Uỷ ban Bảo hiểm để xem xét.

Phần II:

Một số điểm đáng lưu ý trong UCP 600

 

1. Những quy định tiến bộ trong UCP 600:

UCP 600 có những ưu điểm nổi bật sau đây:

 

1.1. Về hình thức

UCP 600 được bố cục lại với 39 điều khoản (so với 49 điều khoản của UCP 500) và được sắp xếp một cách khoa học, dễ tra cứu, trong đó bổ sung nhiều định nghĩa và giải thích thuật ngữ mới để làm rõ nghĩa của các thuật ngữ còn gây tranh cãi trong bản UCP 500.

Xét Điều 2 UCP 600:

“Ngân hàng thông báo là ngân hàng tiến hành thông báo tín dụng theo yêu cầu của ngân hàng phát hành.

Người yêu cầu là bên mà theo yêu cầu của bên đó, một tín dụng được phát hành.

Ngày làm việc ngân hàng là ngày mà vào ngày đó ngân hàng thường xuyên mở cửa tại nơi mà ở nơi đó một hoạt động có liên quan đến các Quy tắc này được thực hiện.

Người thụ hưởng là bên mà vì quyền lợi của  bên đó, một tín dụng được phát hành.

Xuất trình phù hợp nghĩa là việc xuất trình chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản của tín dụng, với các điều khoản có thể áp dụng của các Quy tắc này và với tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế.

Xác nhận là một cam kết chắc chắn của ngân hàng xác nhận thêm vào sự cam kết chắc chắn của ngân hàng phát hành để thanh toán hoặc thương lượng thanh toán khi xuất trình phù hợp.

Ngân hàng xác nhận là ngân hàng theo yêu cầu hoặc theo sự ủy quyền của ngân hàng phát hành thêm sự xác nhận của mình đối với một tín dụng.

Tín dụng là bất cứ một sự thỏa thuận nào, dù cho được mô tả hoặc đặt tên như thế nào, là không thể hủy bỏ và theo đó là một sự cam kết chắc chắn của ngân hàng phát hành để thanh toán khi xuất trình phù hợp.

Thanh toán có nghĩa là

  1. a.      trả ngay khi xuất trình, nếu tín dụng có giá trị thanh toán ngay.
  2. b.      Cam kết thanh toán về sau và trả tiền khi đáo hạn, nếu tín dụng có giá trị thanh toán về sau.
  3. c.      Chấp nhận hối phiếu do người thụ hưởng ký phát và trả tiền khi đáo hạn, nếu tín dụng có giá trị thanh toán bằng chấp nhận.

Ngân hàng phát hành là ngân hàng theo yêu cầu của người yêu cầu hoặc nhân danh chính mình phát hành một tín dụng.

Thương lượng thanh toán là việc ngân hàng chỉ định mua các hối phiếu (ký phát đòi tiền ngân hàng khác, trừ ngân hàng chỉ định) và/hoặc các chứng từ khi xuất trình phù hợp bằng cách trả tiền trước hoặc ứng tiền trước cho người thụ hưởng vào hoặc trước ngày làm việc ngân hàng mà vào ngày đó ngân hàng chỉ định được hoàn trả tiền…”

è Nhận xét: rõ ràng ta thấy các định nghĩa và giải thích thuật ngữ rõ ràng này sẽ giúp cho các bên tham gia trong quy trình thanh toán tín dụng chứng từ tránh khỏi tranh chấp không đáng có.

Đặc biệt về  thương lượng thanh toán, trong UCP 500, thuật ngữ này được gọi là “ discount” chứ không phải “ negotiation” như ở bản 600 này. Điều này có ý nghĩa rất lớn  vì “Discount” có nghĩa là định giá và thanh toán  chỉ cho hối phiếu nhưng trong phương thức thanh toán TDCT, giao dịch giữa các bên là giao dịch trên cơ sở chứng từ mà rất nhiều bộ chứng từ khi xuất trình không đòi hỏi phải có hối phiếu. Trong những trường hợp này thuật ngữ “negotiation” thể hiện rõ bản chất của quá trình này hơn. Chiết khấu phải được hiểu là thương lượng thanh toán bằng thế chấp bộ chứng từ.

Tiếp theo là khoản quy định về thư tín dụng, so với UCP 500, UCP 600 đã quy định rõ ràng tín dụng là không thể hủy ngang. Quy định này thực sự rất có ý nghĩa đối với bên xuất khẩu, họ có thể giao dịch một cách an toàn hơn và không sợ bị bên nhập khẩu từ chối giao dịch giữa chừng. Bên cạnh đó, trong phương thức thanh toán TDCT, tín dụng phải là một tín dụng không thể hủy ngang thì mới có thể đảm bảo cho các ý nghĩa của phương thức này. Đó là sự đảm bảo thanh toán cho các bên.

Ngoài điều 2, điều 3 của UCP cũng giải thích rất kỹ các thuật ngữ được sử dụng trong thư tín dụng, làm cho các bên hiểu rõ ràng và giao dịch trôi chảy hơn.

 

1.2. Về thời gian làm việc ngân hàng

UCP 600 đã quy định rõ thời gian cho việc từ chối hoặc chấp nhận các chứng từ xuất trình là khoảng thời gian cố định “5 ngày làm việc ngân hàng” (five banking days). ở UCP 500, khoảng thời gian này được quy định không rõ ràng là “Thời gian hợp lý” (Reasonable Time) và “Không chậm trễ” (Without delay) để kiểm tra chứng từ và thông báo chứng từ bất hợp lệ. Cụ thể như sau:

UCP 600 Điều 14(b) và 16 (d)

Ngân hàng được chỉ định, ngân hàng xác nhận, nếu có, và ngân hàng phát hành sẽ có tối đa mỗi ngân hàng là 5 ngày làm việc tiếp theo ngày xuất trình chứng từ để xác định chứng từ xuất trình có hợp lệ hay không.

Thông báo (từ chối bộ chứng từ) theo yêu cầu ở điều 16(c) phải được gửi bằng viễn thông, hoặc, nếu không thể được, thì bằng các phương tiện nhanh chóng khác không muộn hơn ngày làm việc thứ 5 của ngân hàng tiếp theo ngày xuất trình chứng từ.

è Nhận xét: việc quy định rõ ràng thời hạn để ngân hàng làm việc ra quyết định từ chối hay không từ chối bộ chứng từ như trên là rất cần thiết. Khoảng thờp gian này cũng rất hợp lý để các ngân hàng xem xét chứng từ và đưa ra quyết định. Ngoài ra, so với 7 ngày trong UCP 500, 5 ngày trong UCP 600 có thể giúp đẩy nhanh quá trình xử lý chứng từ qua đó thúc đẩy nhanh hoạt động thương mại thông qua hình thức thư tín dụng. Quan trọng hơn nữa, quy định này sẽ chấm dứt những tranh chấp trong việc hiểu và vận dụng quy đinh thời gian hợp lý trong việc xử lý chứng từ của ngân hàng mà trên thực tế đã phát sinh.

1.3. Quy định về địa chỉ của Người yêu cầu và Người thụ hưởng

UCP 600 đã đưa ra quy định mới về địa chỉ của người yêu cầu mở và người hưởng lợi thư tín dụng phải được thể hiện trên chứng từ xuất trình đúng như trong L/C:

UCP 600 Điều 14(j)

Khi địa chỉ của người hưởng và người yêu cầu mở thư tín dụng thể hiện trên bất kỳ chứng từ nào thì không nhất thiết phải giống như địa chỉ trong thư tín dụng hoặc trong bất kỳ một chứng từ nào khác, tuy nhiên phải trong cùng nước với địa chỉ tương ứng quy định trong thư tín dụng. Các chi tiết liên lạc (số fax, điện thoại, email,…) là một phần địa chỉ của người hưởng và người yêu cầu mở thư tín dụng sẽ bị bỏ qua. Tuy nhiên, khi địa chỉ và các chi tiết liên lạc của người yêu cầu mở thư tín dụng xuất hiện như là một phần chi tiết của người nhận hàng hay bên được thông báo trong chứng từ vận tải theo điều 19, 20, 21, 22, 23, 24 hoặc 25 thì phải giống như trong thư tín dụng.

è Nhận xét: việc quy định địa chỉ của người thụ hưởng và người yêu cầu thể hiện trong các chứng từ không nhất thiết phải giống như đã nêu trong thư tín dụng hay các chứng từ khác là rất tiến bộ và hợp lý. Trên thực tế đã có nhiều trường hợp ngân hàng từ chối bộ chứng từ vì người thụ hưởng và người yêu cầu trong bộ chứng từ xuất trình không giống hoàn toàn với NTH NYC trong thư tín dụng. Việc quy định như trên sẽ giúp giảm thiểu các bộ chứng từ bị từ chối một cách không hợp lý và làm cho quá trình thực hiện L/C được linh hoạt hơn.

1.4 . Quy định về việc từ chối bộ hồ sơ:

UCP 600 Điều 16(c)

Khi ngân hàng được chỉ định, ngân hàng xác nhận, nếu có, hoặc ngân hàng phát hành quyết định từ chối chấp nhận hoặc chiết khấu bộ chứng từ xuất trình, thì phải gửi một thông báo duy nhất cho người xuất trình.

Thông báo phải nêu rõ:

i. Ngân hàng từ chối chấp nhận hoặc chiết khấu; và

ii. Mỗi điểm bất hợp lệ theo đó ngân hàng từ chối chấp nhận hoặc chiết khấu; và

iii. a) Ngân hàng đang giữ chứng từ chờ các chỉ dẫn tiếp theo từ người xuất trình; hoặc

b) Ngân hàng phát hành đang giữ bộ chứng từ cho tới khi nhận được chấp nhận bộ chứng từ bất hợp lệ của người yêu cầu mở thư tín dụng và đồng ý với việc chấp nhận đó; hoặc nhận các chỉ dẫn tiếp theo từ người xuất trình trước khi đồng ý việc chấp nhận bộ chứng từ của người mở yêu cầu thư tín dụng; hoặc

c) Ngân hàng đang gửi trả lại bộ chứng từ; hoặc

d) Ngân hàng đang hành động theo các chỉ dẫn từ người xuất trình chứng từ đã nhận từ trước.

è Nhận xét: Như vậy theo quy định mới này của UCP 600, ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng chỉ định có thể lựa chọn hình thức định đoạt cho chứng từ một cách linh hoạt và thích hợp để thông báo cho người xuất trình. Chẳng hạn trong trường hợp bộ chứng từ xuất trình có sai sót, nhưng người nhập khẩu quyết định bỏ qua lỗi để nhanh chóng lấy được bộ chứng từ đi nhận hàng chỉ cần thông báo bỏ qua sai biệt và chấp nhận sai biệt cho phía ngân hàng là có thể rút ngắn thời gian lấy chứng từ đi nhận hàng, giảm thiểu các thiệt hại về phí lưu kho, nhanh chóng giải phóng hàng. Điều này đặc biệt quan trọng trong thời kì kinh tế thị trường, cạnh tranh gay gắt, thời gian là yếu tố quyết định.

1.5. Quy định về vấn đề chiết khẩu hối phiểu trả chậm:

Điều 7 UCP 600: Trích dẫn thêm khái niệm “Honour” để làm rõ nghĩa hơn việc Ngân hàng chỉ định được bảo vệ trong trường hợp thanh toán trước hạn đối với L/C trả chậm. Theo đó, Ngân hàng chỉ định được phép ứng trước/chiết khấu trước cho Người hưởng lợi ngay cả khi không có hối phiếu.

Cam kết hoàn trả của NH phát hành cho NH được chỉ định tách biệt độc lập với cam kết thanh toán của NH phát hành cho người thụ hưởng.

Điều 8 nhấn mạnh trách nhiệm của Ngân hàng xác nhận đối với trường hợp chứng từ xuất trình phù hợp, thanh toán và “chiết khấu miễn truy đòi” nếu tín dụng thư được xuất trình cho Ngân hàng xác nhận để chiết khấu. Cam kết hoàn trả của NH xác nhận đối với NH được chỉ định độc lập với cam kết thanh toán của NH xác nhận đối với người thụ hưởng

Điều 12 UCP 600 cũng quy định rõ: Bằng cách chỉ định một ngân hàng chấp nhận một hối phiếu hoặc cam kết trả tiền sau, ngân hàng phát hành đã uỷ quyền cho ngân hàng chỉ định đó trả trước hoặc mua một hối phiếu đã được chấp nhận hoặc cam kết trả tiền sau.

è Với việc quy định rõ trách nhiệm của ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận về việc hoàn trả vào ngày đáo hạn của bộ chứng từ dù ngân hàng chỉ định có trả trước hối phiếu hay mua lại bộ chứng từ. Do vây, các ngân hàng chỉ định hoàn toàn có thể quyết định việc thương lượng chứng từ mà không lo bộ chứng từ đó cò phải giả mạo không, miễn là bộ chứng từ đó phù hợp với các quy định của L/C. Những quy định mới này cũng một phần tạo cơ sở pháp lý cho các ngân hàng mạnh dạn thực hiện việc chiết khấu đối với các L/C trả chậm. Nghiệp vụ này vừa giúp ngân hàng có thể thu được một khoản phí, vừa giúp người thụ hưởng không bị tồn đọng vốn trong kinh doanh.

1.6.Các quy định về chứng từ vận tải:

Điều 19 UCP 600: điều chỉnh về chứng từ vận tải đa phương thức. Thay vì gọi là vận tải đa phương thức như trong UCP 500 thì trong của điều 19UCP 600 lại gọi 1 cách rõ ràng là “ chứng từ vận tải dùng cho ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau”. Cách gọi này rõ ràng và dễ hiểu hơn, hơn nữa nhấn mạnh được tầm quan trọng của loại chứng từ này.

Quy định về “chứng từ vận tải sạch” trong điều 27 UCP 600 cũng có nhiều điểm tiến bộ. Theo điều này, từ “ sạch” không cần phải được thể hiện trên bề mặt của chứng từ vận tải, ngay cả khi L/C yêu cầu xuất trình một vận đơn sạch. Quy định này có ý nghĩa thực tiễn rất lớn  khi trên thực tế một vận đơn chỉ cần không có phê chú xấu thì được coi là vận đơn sạch chứ không cần có chữ “ clean” trên bề mặt. Việc quy định như trên sẽ làm giảm bớt các rắc rối không đáng có trong quá trình thu  thập bộ chứng từ của bên xuất khẩu.

Điều 19.c.i và ii chấp nhận chứng từ vận tải ghi là cho phép chuyển tải miễn là chỉ có duy nhất một chứng từ vận tải. Ngay cả nếu L/C cấm chuyển tải, thì việc chứng từ vận tải diễn đạt là sẽ có hoặc có thể có chuyển tải vẫn không được coi là lỗi sai sót. Trong thực tế khi chưa có UCP 600, có những trường hợp các ngân hàng bắt lỗi bộ chứng từ khi L/C quy định là cấm chuyển tải mà trong chứng từ vận tải lại ghi là có thể chuyển tải. Với quy định rõ ràng trong điều 19 này sẽ giúp hạn chế những sự không rõ ràng và tránh việc từ chối bộ hồ sơ một cách không hợp lý. Ngoài ra còn tránh cho người xuất khẩu những phiền toái mất  thời gian khi cố gắng đổi chứng từ khi họ được cấp chứng từ có ghi là “ có thể chuyển tải” lấy chứng từ đúng như L/C quy định là “ không thể chuyển tải”.

2. Một số tồn tại UCP 600 vẫn chưa giải quyết được

Về cơ bản, UCP 600 đã có nhiều điểm mới nhằm xác định rõ và giải quyết những xung đột trong thanh toán xuất nhập khẩu bằng phương thức tín dụng chứng từ mà UCP 500 chưa thực hiện được. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, UCP 600 vẫn chưa giải quyết được tất cả các vấn đề thực tiễn đầy phong phú và phức tạp, đòi hỏi ICC phải tiếp tục nghiên cứu và sửa đổi để có thể đáp ứng được sự thay đổi liên tục trong thương mại quốc tế. dưới đây là một số bất cập mà  UCP 600 vẫn chưa giải quyết được:

 

 

2.1. Giải thích thuật ngữ:

UCP 600 chưa phân biệt “one copy of” và “in one copy”. Theo điều 17 (d) và (e) UCP600 quy định:

Điều 17 (d). Nếu thư tín dụng yêu cầu xuất trình chứng từ là “copies of” thì việc xuất trình bản gốc hay bản sao đều được chấp nhận. (If a credit requires presentation of copies of documents, presentation of either originals or copies is permited).

Điều 17 (e). Nếu thư tín dụng yêu cầu xuất trình nhiều bản chứng từ bằng cách sử dụng các cụm từ như “in duplicate”, “in two fold”, “in two copies” thì sẽ được thỏa mãn khi xuất trình ít nhất một bản gốc và những bản còn lại là bản sao, trừ khi bản thân chứng từ thể hiện khác. (If the credit requires presentation of multiple documents by using terms such as “in duplicate”, “in two fold” or “in two copies”, this will be satisfied by the presentation of at least one original and the remaining number in copies, except when the document ifself indicates otherwise).

Theo ISBP : “one copy of” có nghĩa là “một bản sao” trong khi đó, “in one copy” có nghĩa là một bản gốc. như vậy trong UCP cũng như ISBP vẫn chưa có sự phân biệt một cách rõ ràng về cụm từ “ one copy of” và “ in one copy”.

 

2.2. Điều khoản về tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ.

Điều 14 UCP 600 quy định về tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ. Điều này là sự kết hợp rất nhiều các điều khoản cũ trong UCP 500  như điều khoản 13, 21, 22, 31, 37, 43. Điều khoản này cũng đã xóa bỏ một số bất cập của UCP 500 như loại bỏ cụm từ gây nhiều tranh cãi “sự cẩn thận hợp lí” của ngân hàng khi kiểm tra chứng từ. Đồng thời, điều 14 cũng loại bỏ quy định kiểm tra chứng từ của ngân hàng “trong thời gian hợp lí nhưng không quá … ngày” mà thay vào đó là “ tối đã 5 ngày làm việc” . Tuy nhiên, bên cạnh đó, điều 14 lại có quy định khá mơ hồ về việc kiểm tra các dữ liệu trong chứng từ xuất trình. Cụ thể “dữ liệu trong một chứng không nhất thiết phải giống hệt như khi đọc lời văn của tín dụng, của bản thân chứng từ và của tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế nhưng không được mâu thuẫn với dữ liệu trong chứng từ đó, với bất cứ chứng từ theo quy định khác hoặc với thư tín dụng”. Hiện nay người được kiểm tra chứng từ khi kiểm tra chứng từ sẽ xem xét các dữ liệu trong các loại chứng từ có giống nhau và giống với thư tín dụng hay không. Với quy định này rất khó xác định thế nào là dữ liệu ko mâu thuẫn với nhau và nhiều khi việc quyết định xem các dữ liệu, thông số có mâu thuẫn hay không lại phụ thuộc vào trình độ và sự nhạy cảm của người kiểm tra chứng từ.

 

2.3. Các vấn đề với chứng từ vận tải:

Chứng từ vận tải là một vấn đề nhận được rất nhiều ý kiến đóng góp từ các chuyên gia trên thế giới. Tuy nhiên, UCP 600 lại không có nhiều sửa đổi liên quan đến vấn đề này. Đồng thời, những vấn đề mà UCP 600 đã sửa đổi thì vẫn còn tồn tại một số bất cập:

  • Điều 19, UCP 600: chứng từ vận tải dùng cho ít nhất 2 phương thức vận tải khác nhau.

Rõ ràng, tên của điều khoản này đã có vấn đề. Như vậy, nó chỉ áp dụng với các hành trình có ít nhất 2 phương thức vận tải khác nhau trở lên. Nhưng theo quy tắc của ICC, các quy định về chứng từ vận tải đa phương thức vẫn được áp dụng cho các hành trình chỉ có duy nhất 1 phương thức vận tải và trên thực tế, chứng từ vận tải đa phương thức vấn được áp dụng với hành trình chỉ áp dụng phương thức vận chuyển đường bộ, thậm chí vận tải hàng không. Như vậy, tên của điều khoản này là không hợp lý và không bám sát các quy định của ICC.

  • Điều 21 UCP 600: giấy gửi hàng đường biển không chuyển nhượng ( Non- negotiable sea way bill)

Theo quy định trong điều này thì giấy gửi hàng đường biển không chuyển nhượng chỉ được coi là một chứng thư đường biển và không chuyển nhượng được nhưng theo quy tắc thống nhất của CMI thì chứng từ này có thể được sử dụng như một chứng từ vận tải đa phương thức. Như vậy, UCP 600 vẫn còn mâu thuẫn với quy tắc trong CMI.

  • Điều 20:  vận tải đơn.

– Theo quy định của UCP 600 điều 20 mục iii: vận tải đơn chỉ cần quy định giao hàng từ cảng xếp hàng tới càng dỡ hàng là đủ. Nhưng trên thực tế, những người sử dụng không chỉ cần duy nhất thông tin từ cảng bốc hàng và cảng dỡ hàng mà còn cần nó thể hiện được toàn bộ hành trình vận chuyển của lô hàng (từ nơi nhận hàng để chở tới càng xếp hàng, từ cảng dỡ hàng đến nơi giao hàng cuối cùng).

Mặc dù UCP không có thay đổi gì về vấn đề nêu trên nhưng thực tế các hãng vận tải đã thiết kế mẫu vận đơn của mình để thể hiện toàn bộ hành trình của hàng hóa, từ nơi nhận hàng để chở tới càng xếp hàng, từ cảng dỡ hàng đến nơi giao hàng cuối cùng. Đồng thời, toàn bộ hệ thống ngân hàng thế giới đã có những thay đổi trong mẫu điện MT 700 và điều chỉnh vấn đề này cho phù hợp.  Cụ thể là từ ngày 20/11/2006, tất cả các điện MT700 phát hành L/C đã bổ sung thêm 2 trường hợp 47E và 47F để thiện hiện cảng xếp hàng và cảng dỡ hàng. Còn 2 trường hợp 47A và 47B được dùng để thể hiện nơi nhận hàng để chở và nơi giao hàng cuối cùng.

– Bên cạnh đó, cũng trong điều 20 UCP 600 quy định quy định đại lý ký vận đơn đường biển

Chữ ký của đại lý phải chỉ rõ là đại lý đã ký thay cho hoặc đại diện cho người chuyên chở hoặc thay cho hoặc đại diện cho thuyền trưởng”. Như vậy, trong điều 20 UCP 600 không hề đề cập đến vấn đề khi đại lý của thuyền trưởng ký vận đơn thì không cần nêu rõ tên thuyền trưởng hoặc hãng vận tải và chỉ cần nêu rõ tên hãng vận tải trên bất cứ phần nào trên bề mặt vận đơn. Nếu hiểu như vậy, thì chúng ta không thể biêt chắc rằng hãng vận tải là ai vì chỉ cần ghi tên hãng vận tải lên trên bề mặt vận đơn, và đó chưa chắc đã là hãng vận tải mà đại lý đại diện cho. Như vậy, theo một số chuyên gia thì cách sử dụng ngôn ngữ trong điều 20 UCP 600 khá mơ hồ trong khi UCP 500 lại quy định khá rõ ràng về vấn đề này.

  • Vấn đề “ngày hiệu lực” của chứng từ bảo hiểm:

Liên quan đến vấn đề bảo hiểm hàng hóa, ngày hiệu lực của một chứng từ bảo hiểm ko có liên quan j tới “ ngày phát hành”  của chứng từ đó( như các ngân hàng xưa nay vẫn nghĩ).  Thực chất, ngày hiệu lực của chứng từ phụ thuộc vào sự kiện xảy ra, hay nói chính xác hơn là “ngày bắt đầu xảy ra sự kiện” như quy định rõ trong mục 8.1 của điều khoản thời hạn hiệu lực của các điều khoản bào hiểm hàng hóa (A), (B), (C), Institute Cargo Clauses (A), (B), (C).

Thêm vào đó, ngày phát hành chứng từ vận tải đặc biệt không có ý nghĩa trong trường hợp nhà xuất khẩu ký hợp đồng bao( open cover). Tất cả các chuyến hàng sẽ tự động được bảo hiểm theo hợp đồng này, và đối với từng chuyến hàng, hãng bảo hiểm sẽ phát hành một giấy chứng nhận bảo hiểm mà ngày phát hành của nó không hề thể hiện đó là ngày hiệu lực của việc bảo hiểm. Chính vì vậy, việc UCP 600 quy định ngày phát hành của chứng từ bảo hiểm phải trước hoặc trùng với ngày giao hàng là không chính xác và không phù hợp với thưc tiễn của ngành bảo hiểm.

 

2.4. Một số điều không hợp lí trong quy định trách nhiệm của ngân hàng thông báo

Điều 9 UCP 600 quy định về việc thông báo thư tín dụng và các sửa đổi theo đó “ bằng việc thông báo thư tín dụng hoặc sửa đổi thư tín dụng, ngân hàng thông báo phải thể hiện là nó đã kiểm tra tính chân thực của thư tín dụng hoặc sửa đổi đó và thông báo đó phải phản ánh chính xác các điều khoản của thư tín dụng hoặc sửa đổi mà ngân hàng thông báo đó đã nhận được. Nghĩa vụ của ngân hàng thông báo thứ hai cũng giống như ngân hàng thông báo”. Trong trường hợp bình thường, nếu một ngân hàng thông báo trực tiếp cho người hưởng lợi về thư tín dụng, ngân hàng đó chỉ việc làm một tờ thông báo về thư tín dụng ( notification of letter of credit) và kèm theo đó là bức điện MT 700 (chính toàn bộ thư tín dụng) mà nó nhận được từ ngân hàng phát hành và gửi cho người hưởng. Như vậy ngân hàng hoàn toàn có thể thực hiện các yêu cầu của điều 9. Tuy nhiên trong trường hợp ngân hàng thông báo không thông báo trực tiếp thư tín dụng cho người hưởng mà phải thông báo qua ngân hàng thông báo thứ hai thì rất khó có thể thực hiện được quy định “ phán ánh chính xác các điều khoản”. Trong thực tế, ngân hàng phát hành sẽ gửi điện MT 700 tới ngân hàng thứ hai để thông báo về thư tín dụng. Điện MT 700 này phải bao gồm toàn bộ nội dung của MT 700 (có đầy đủ các trường hợp như của MT700 ). Tuy nhiên có những điều khoản mà trong MT 700 ngân hàng phát hành chỉ gửi cho ngân hàng thông báo thứ nhất, không phải ngân hàng thông báo thứ hai. Trong trường hợp đó ngân hàng thông báo thứ nhất sẽ cắt bỏ những điều khoản đó, không đưa vào trong nội dung của MT 700 gửi cho ngân hàng thông báo thứ hai. Kế quả là, nếu làm như vậy sẽ không thực hiện được đúng như yêu cầu của điều 9. Đây là một vấn đề mà UCP 600 đã không bám sát thực tiễn hoạt động của các ngân hàng, gây khó khăn trong quá trình thực hiện nghiệp vụ ngân hàng.

Nói tóm lại, mặc dù UCP 600 đã có nhiều đổi mới vượt trội so với UCP 500 song không phải vì thế mà nó không có những bất cập. Vì vậy, trước khi ICC có thể sửa đổi và ban hành một bản UCP mới thì các ngân hàng và các doanh nghiệp Việt Nam cần tìm hiểu kỹ lưỡng để áp dụng UCP 600 chính xác và hiệu quả, chú ý những bất cập để có thể thỏa thuận với đối tác, tránh tình trạng nhầm lẫn, không thống nhất dẫn đến những tranh chấp không đáng có.

Phần III: 

Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng UCP600

Sau gần 15 năm đi vào sử dụng, UCP500 đã cho thấy tầm quan trọng của nó trong các giao dịch thương mại quốc tế. Tuy nhiên, với tốc độ phát triển của kinh tế thế giới như hiện nay, giao thương giữa các nước ngày càng phát triển thì việc UCP600 ra đời thay thế cho UCP500 là điều tất yếu. UCP600 đã khắc phục được những bất cập của UCP500, nâng cao hiệu quả của hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ. Tuy nhiên, UCP600 chỉ mới có hiệu lực từ ngày 01/07/2007, do đó, để nắm bắt và sử dụng bộ văn bản này một cách có hiệu quả không phải là điều dễ dàng. Dưới đây là một số đề xuất đối với Nhà nước, các Ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng UCP600, đẩy nhanh tốc độ của các hoạt động thương mại quốc tế.

1. Đối với Nhà nước

Nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý đối với hoạt động thanh toán quốc tế, cụ thể là ban hành các văn bản Luật, dưới luật, pháp lệnh, nghị định…. qui định rõ ràng trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của các bên tham gia. Đồng thời đây cũng là cách tốt để giải quyết tranh chấp trong trường hợp có xung đột pháp luật giữa UCP600 và luật quốc gia.

Trong trường hợp có mâu thuẫn giữa UCP600 với các hiệp ước, thỏa ước quốc tế…. giữa doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp nước ngoài nằm trong phạm vi điều chỉnh của các hiệp ước này thì luật pháp Việt Nam càng cần phải tỏ rõ vai trò của mình để giúp các doanh nghiệp Việt Nam có được lợi thế với bạn hàng nước ngoài.

Để làm được điều này, vai trò của Ngân hàng Nhà nước là vô cùng quan trọng. Ngân hàng Nhà nước phải là người soạn thảo, đưa ra những đề xuất đối việc xây dựng các khung văn bản cho hoạt động thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ nói riêng.

Một thực trạng hiện nay là khi phát sinh các tranh chấp, mâu thuẫn về thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ, rất nhiều các cơ quan phải tham gia như Vụ quản lý ngoại hối, Vụ pháp chế…mà không có một cơ quan đặc trách nào về hoạt động thanh toán quốc tế. Vai trò của cơ quan này không chỉ giúp các doanh nghiệp Việt Nam giải quyết tranh chấp liên quan đến thanh toán mà còn là cơ quan tư vấn, giải thích, đào tạo cho các bên tham gia hoạt động thanh toán quốc tế hiểu rõ các văn bản pháp luật liên quan như UCP600 để từ đó có các biện pháp sử dụng đạt hiệu quả tối đa nhất cho mình.

2. Đối với các Ngân hàng thương mại

Điều cần thiết đầu tiên với các Ngân hàng thương mại đó là cần phải nhanh chóng cập nhật UCP600 cho các cán bộ nhân viên phụ trách hoạt động thanh toán quốc tế. Triển khai các lớp hướng dẫn, các khóa đào tạo để bổ sung, hướng dẫn cách sử dụng UCP600. Đặc biệt, việc tham dự các khóa đào tạo, hội thảo của các Ngân hàng trong và ngoài nước về nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ áp dụng UCP600 là vô cùng quan trọng. Thông qua các khóa học, các buổi hội thảo này, các Ngân hàng trong nước có thể học hỏi lẫn nhau, học hỏi các Ngân hàng nước ngoài để được tiếp cận với những thông tin mới nhất, được trực tiếp giải thích và hướng dẫn về cách sử dụng UCP600 sao cho hiệu quả nhất.

Sau khi đã có được những hiểu biết về các qui định trong phương thức tín dụng chứng từ của UCP600, các Ngân hàng nên triển khai trong toàn hệ thống. Điều này có nghĩa là mỗi ngân hàng nên ban hành các qui định, quy trình thanh toán quốc tế trong hệ thống của mình một cách chặt chẽ, nhất quán, tuân theo quy tắc, phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy của Ngân hàng đó. Từ đó, các giao dịch hàng ngày được diễn ra nhanh chóng, chính xác, theo đúng qui định.

Ngân hàng và khách hàng của mình là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu là hai yếu tố không thể tách rời nhau trong hoạt động thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán tín dụng chứng từ nói riêng. Do đó, việc thường xuyên trao đổi thông tin hai chiều để giúp đỡ nhau tiến hành hoạt động giao dịch thương mại quốc tế an toàn, nhanh chóng là hết sức cần thiết. Vì thế, các Ngân hàng nên mở các lớp nghiệp vụ cho khách hàng đề giúp họ nắm rõ các qui định trong UCP600, tư vấn, hướng dẫn để họ có biện pháp sử dụng tín dụng chứng từ trong thanh toán quốc tế một cách tối ưu nhất.

3. Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu

Phương thức tín dụng chứng từ thường được các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam áp dụng với những bạn hàng quốc tế trong những lần giao dịch đầu tiên, do chưa khẳng định chắc chắn độ tin cậy của những bạn hàng này. Do đó, phương thức tín dụng chứng từ với độ an toàn cao đã được các doanh nghiệp này lựa chọn. Để tránh những rủi ro mắc phải, các doanh nghiệp Việt Nam buộc phải trang bị những kiến thức nhất định liên quan đến phương thức này và đặc biệt là các nguồn luật, qui tắc điều chỉnh. Trong khi tiến hành nghiệp vụ xuất nhập khẩu liên quan đến thanh toán cần xem xét kỹ lưỡng mọi chứng từ, đối chiếu với các qui định của UCP600. Ngoài ra với một số bất cập của UCP600, các doanh nghiệp nên qui định cụ thể trong bộ tín dụng chứng từ để hạn chế tối đa khả năng phát sinh các rủi ro.

Hiện nay, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam còn gặp nhiều rủi ro trong các giao dịch thương mại với nước ngoài. Một trong những rủi ro thường gặp là rủi ro trong thanh toán quốc tế. Điều này cũng có thể dễ dàng lý giải là do một số các doanh nghiệp hoạt động còn non trẻ, các giám đốc, nhân viên phòng xuất nhập khẩu có trình độ chưa cao, chưa cập nhật, bổ sung hết các kiến thức về nghiệp vụ thanh toán, nhất là thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ. Do đó, việc đầu tiên cần hoàn thành đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu là cử cán bộ, nhân viên tham gia các khóa đào tạo, hướng dẫn sử dụng tín dụng chứng từ và các qui định liên quan do các Ngân hàng, Phòng Thương mại và Công nghiệp tổ chức.

Song song với đó, chính các cán bộ, các doanh nghiệp này cũng cần tìm hiểu, cập nhật kiến thức qua các phương tiện khác nhau để trang bị thêm cho mình những hiểu biết nhất định về hoạt động thanh toán quốc tế, tránh gặp phải rủi ro về thanh toán với bạn hàng nước ngoài.

Như vậy, UCP600 ra đời đã khắc phục những bất cập của UCP500, giúp các bên tham gia hiểu rõ hơn các qui tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ. Để sử dụng hiệu quả UCP600, các bên tham gia sẽ cần phải ngày càng hoàn thiện dần các hoạt động của mình và để đạt được hiệu quả tối ưu nhất đòi hỏi nỗ lực của cả một hệ thống: từ Nhà nước đến các Ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Sự trợ giúp lẫn nhau là điều kiện tiên quyết để có được lợi thế trong hoạt động thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán tín dụng chứng từ nói riêng.

 KẾT LUẬN

Trong những năm qua, với việc mở rộng giao lưu hợp tác khu vực và trên thế giới, nền kinh tế nước ta đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong đó phải kể đến là lĩnh vực thanh toán quốc tế. Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh qua các năm, nền kinh tế dần được cải thiện và phát triển. Đạt được kết quả đó phải kể đến sự đóng góp quan trọng của các ngân hàng thương mại với tư cách là trung gian thanh toán quốc tế, với phương thức thanh toán chủ yếu là tín dụng chứng từ, các ngân hàng đã giúp cho hoạt động thanh toán quốc tế diễn ra nhanh chóng, liên tục và đạt hiệu quả cao.

Trong những năm gần đây, các nghiệp vụ thanh toán quốc tế đã không ngừng đổi mới cho phù hợp với những yêu cầu của khách hàng. Bằng uy tín, nguồn vốn và kinh nghiệm dày dạn của các ngân hàng thương mại trong hoạt động thanh toán quốc tế, đặc biệt trong công tác thanh toán tín dụng chứng từ, phương thức TDCT  đã thực sự trở thành một công cụ đắc lực cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, góp phần không nhỏ thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà phương pháp TDCT mang lại, các ngân hàng, người xuất khẩu và nhập khẩu cũng đối mặt với không ít các rủi ro khi thanh toán bằng phương thức này. Trước ngưỡng cửa của sự đổi mới và hội nhập, việc hạn chế thậm chí không thể để ra sai sót trong thanh toán quốc tế là một yêu cầu hết sức  đúng đắn và thiết thực. Chính vì vậy, bản sửa đổi UCP 600 ra đời được áp dụng từ 1/7/2007 đã và sẽ giúp ích rất nhiều cho các ngân hàng TM, người xuất khẩu nhập khẩu và các cơ quan chức năng trong lĩnh vực TDCT để có thể  đứng vững và cạnh tranh được trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện  nay.

Hy vọng rằng những ý kiến trong bài tiểu luận này sẽ góp một phần nhỏ vào việc hạn chế rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ của các ngân hàng thương mại Việt Nam, của người xuất khẩu và nhập khẩu khi áp dụng UCP 600, để đưa phương thức này thực sự trở thành phương thức thanh toán nhanh chóng, thuận tiện, an toàn và đạt hiệu quả cao.

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s