BHNT ở Việt Nam và phương hướng triển khai


LỜI NÓI ĐẦU

Sau khi chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển manh mẽ, đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước, các hoạt động kinh doanh của nghành BH cũng đã từng bước phát triển đáp ứng tích cực nhu cầu của nền kinh tế xã hội. Sự phát triển của nghành BH được thể hiện qua các mặt:

+ Doanh nghiệp BH hoạt động rộng khắp trong cả nước dưới các hình thức khác nhau như :

          Công ty BH 100% vốn của nước ngoài

          Công ty BH cổ phần

          Công ty BH liên doanh

          Công ty BH của Nhà nước với các công ty trực thuộc, chi nhánh văn phòng đại diện và mạng lưới đại lý…

Sự phát triển của các công ty BH đã từng bước tạo thuận lợi cho việc tham gia bảo hiểm của mọi đối tượng.

+ Nhiều nghiệp vụ bảo hiểm mới được nghiên cứu đưa ra phục vụ khách hàng, trong đó có nghiệp vụ “Bảo hiểm Nhân thọ”. Tuy BHNT mới với hơn 4 năm hoạt động, BHNT còn rất mới mẻ; Tuy nhiên Chính Phủ đã bắt đầu xem BHNT như là một yếu tố quan trọng trong hệ thống tài chính, đặc biệt trong việc huy động nguồn tiền trong nước.Thực vậy, BHNT có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển và hỗ trợ cho nền kinh tế thị trường Việt Nam, BHNT thể hiện sự quan tâm  lo lắng của người chủ gia đình đối với người phụ thuộc hoặc của cha mẹ đối với con cái. Chính vì thế, BHNT sẽ là gánh vác, chia sẻ những khó khăn về tài chính với bạn và gia đình bạn.

Do BHNT là xu hướng phát triển tất yếu trong xã hội văn minh, do BHNT có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống của mỗi người, nên em đã chọn đề tài: “BHNT ở Việt Nam và phương hướng  triển khai”

 Đây là vấn đề rất phức tạp cần được nghiên cứu, lý giải từ nhiều góc độ, nhiều cách tiếp cận khác nhau mới có thể đầy đủ.Trong phạm vi bài viết này, em xin trình bày những kiến thức mà mình đã được học.Tuy nhiên do trình độ còn hạn chế và chưa có kinh nghiệm nên chắc chắn bài viết còn rất nhiều thiếu sót .

PHẦN I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BHNT

I. ĐẶC ĐIỂM VÀ TÁC DỤNG CỦA BHNT

1. Khái niệm & đặc điểm:

     a. khái niệm:

+    Về mặt pháp lý: BHNT là bản hợp đồng qua đó, để đổi lấy phí của người tham gia, nhà BH cam kết sẽ trả cho một hoặc nhiều người được hưởng một khoản tiền ấn định ( số tiền BH hay trợ cấp) trong trường hợp người được BH chết hoặc còn sống đến một thời điểm được chỉ rõ trong hợp đồng.

+    Về mặt kỹ thuật: BHNT là nghiệp vụ chứa đựng các cam kết và sự thi hành các cam kết này phụ thuộc vào tuổi thọ của con người.

  • Như vậy BHNT là loại hình BH bảo đảm cho các rủi ro có liên quan đến tuổi thọ của con người, BHNT có đối tượng tham gia rất rộng lớn, bao gồm mọi người ở các lứa tuổi khác nhau.

Ở Việt Nam BHNT là loại hình BH chỉ liên quan đến các sự kiện xảy ra trong cuộc sống con người. Theo quy định của pháp luật, các  bên khi tham gia vào lĩnh vực BHNT phải thông qua một văn bản là hợp đồng BHNT. Hợp đồng BHNT là sự cam kết giữa hai bên, theo đó bên nhận BH (CTBHNT) có trách nhiệm và nghĩa vụ chi trả cho bên được BH khi có các sự kiện BH xảy ra, còn bên được BH có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng phí BH như thoả thuận theo quy định của pháp luật.( là một dạng hợp đồng song vụ).

Trong hợp đồng BHNT quy đình rõ quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia.

BHNT là một loại của BH con người, nó có đầy đủ đặc điểm của BH con người nói chung và nó cũng có các đặc điểm riêng biệt của BHNT.

b. đặc điểm của BHNT

BHNT có các đặc điểm cơ bản sau đây:

BHNT vừa mang tính chất tiết kiệm, vừa mang tính chất rủi ro. Đặc điểm này là sự khác biệt cơ bản giữa BHNT và BH phi nhân thọ. Nhân dân tiết kiệm khi mua BHNT khác với các hình thức tiết kiệm khác ở chỗ người BH đảm bảo trả cho người tham gia BH hay người thân của họ một số tiền rất lớn ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền nhỏ. Ta thấy, số tiền BH được chi trả khi hết hạn hợp đồng và khi khi người được BH sống đến một độ tuổi nhất định thì số tiền đó xem như một khoản tiết kiệm để đầu tư cho tương lai, còn khi người được BH không may gặp rủi ro trong thời hạn BH được ấn định, người được hưởng quyền lợi BH sẽ được nhận những khoản trợ cấp hay số tiền BH từ công ty BH. Tức là khi sự kiện BH xảy ra thì công ty BH phải có trách nhiệm chi trả số tiền BH, không căn cứ vào số phí đóng BH nhiều hay ít.

BHNT đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia BH. Với BH phi nhân thọ chỉ đáp ứng được một mục đích là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tượng tham gia gặp sự cố, từ đó góp phần ổn định tài chính cho người tham gia, thì BHNT lại đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau như: ổn định cuộc sống khi già yếu (bảo hiểm hưu trí); giúp cho gia đình một số tiền khi họ bị tử vong, là vật thế chấp để vay vốn …

BHNT có các loại hợp đồng BHNT rất đa dạng và phức tạp. sự đa dạng và phức tạp này thể hiện ngay ở các sản phẩm của BHNT. Và mỗi sản phẩm BHNT cũng có các loài khác nhau, chẳng hạn hợp đồng BHNT hỗn hợp có các hợp đồng thời hạn 5 năm, 10 năm. Thời hạn trong hợp đồng khác nhau sẽ dẫn tới sự khác nhau về số tiền BH, phí BH, phương pháp đóng phí khác nhau … Ngay trong một bản hợp đồng thì mối quan hệ giữa các bên cũng rất phức tạp.

Phí trong BHNT chịu tác động tổng hợp của rất nhiều nhân tố vì vậy quá trình định phí khá phức tạp. Trong quá trình định phí phải căn cứ vào nhiều yếu tố như:

–         chi phí khai thác và quản lý hợp đồng.

–         độ tuổi của người được BH

–         Tuổi thọ bình quân của con người.

–         Số tiền BH

–         Thời hạn tham gia.

–         Tỷ lệ lạm phát và thiểu phát của đồng tiền…

BHNT có sự ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế – xã hội nhất định.

Ngoài những điều kiện KT – XH, môi trường pháp lý cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của BHNT

Tổng hợp các điều kiện KT – XH và pháp lý ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển của BHNT.

2. Tác dụng của BHNT:

Là một loại của BH con người, BHNT có đầy đủ tác dụng của BH con người nói chung như:

Góp phần ổn định cuộc sống cho các  cá nhân và gia đình là chỗ dựa tinh thần cho người được BH.

Góp phần ổn định tài chính và sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp, tạo lập mối quan hệ gần gũi gắn bó giữa người lao động và người sư dụng lao động.

Thông qua việc thu phí hình thành quỹ BH, quỹ này được sử dụng chủ yếu vào mục đích bồi thường chi trả và dự phòng. Khi nhàn rỗi nó sẽ là nguồn vốn đầu tư hữu ích góp phần phát triển KT – XH.

Là công cụ hữu hiệu để huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, thực hành tiết kiệm, chống lạm phát.

Góp phần giải quyết một số vấn đề xã hội như: giải quyết tình trạng thất nghiệp, tăng vốn đầu tư cho giáo dục con cái, tạo ra một nếp sống tốt đẹp, tiết kiệm có kế hoạch…

BHNT  là loại BH nhân đạo nhất, nó có liên quan trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của con người. Nó cho phép chúng ta chuyển giao rủi ro của mình cho các công ty BHNT nếu ta sử dụng sản phẩm BHNT. BHNT không chỉ có tác dụng với người được BH và gia đình mà nó còn mang lại lợi ích cho người BH và cả xã hội.

a. Tác dụng đối với người được BH và gia đình họ:

Trong cuộc sống hàng ngày, con người có rất nhiều mối lo, xã hội càng phát triển, tiến bộ đòi hỏi bản thân mỗi người phải có suy nghĩ, lo lắng và đặt kế hoạch làm việc, lao động cũng như học tập… để hoà nhập được với xã hội. Ngay cả lúc khoẻ mạnh nỗi lo về tài chính cho con cái vào đại học hay sinh cơ lập nghiệp, nỗi lo khi về hưu, hay chuẩn bị lập gia đình… luôn luôn tồn tại trong mỗi chúng ta. Rồi nỗi lo rủi ro bất ngờ ập đến, khoẻ mạnh đã đành, nữa là ốm đau, thương tật rồi chết, đã không kiếm được tiền còn bao nhiêu chi phí phát sinh. Không chỉ ảnh hưởng đến thu nhập của chính người đó, còn ảnh hưởng đến gia đình và những người phụ thuộc, ngoài ra còn ảnh hưởng đến cả doanh nghiệp (nếu đó là một trong những người chủ chốt).

Không ai muốn nghĩ đến cái chết nhưng không ai biết được nó sẽ đến với mình lúc nào. BHNT đã và đang được triển khai từ hàng trăm năm nay như là một phương thức đảm bảo đền bù phần thu nhập bị mất và các chi phí đến kỳ phải trả hay hậu quả của cái chết được giải quyết ngay lập tức, bằng tiền mặt và không phải chịu bất cứ loại thuế nào.

Khả năng của BHNT là làm việc này khi được cần đến nhất – lúc chết – nó cung cấp phần nào sự đảm bảo về tài chính cho hàng triệu con người trên thế giới được như ngày hôm nay.

  • Chi phí chôn cất và hậu sự.

Khi một người chết, một số khoản cần phải chi trả như vay thế chấp, vay cá nhân, nợ mua xe…, ngoài ra còn một số chi phí liên quan đến người chết như viện phí, chi phí khám chữa bệnh ngoài BHYT và các chi phí mai táng liên quan.

Riêng ở một số nước có một số loại thuế như thuế đánh vào tài sản thừa kế… Vì vậy, BHNT có thể cung cấp tiền mặt cần thiết để trả cho tất cả những chi phí này.

Ở Việt Nam, tham gia BHNT giúp người dân có một khoản tiền để lo chi phí mai táng cũng như giải quyết những vấn đề liên quan đến tiền bạc sau khi chết.

  • Sự bảo trợ những người phụ thuộc.

Những người phụ thuộc vẫn phải được ổn định cuộc sống, vẫn phải có chi phí gia đình để mua thức ăn, quần áo, các khoản chi khác liên quan đến cuộc sống hàng ngày của họ. BHNT có thể cung cấp tiền để giúp các thành viên trong gia đình cho tới khi họ tìm được kế sinh nhai khác hoặc có thêm thu nhập.

  • Chi phí giáo dục

Một trong những mục tiêu hàng đầu của những bậc cha mẹ trên thế giới là có đủ khả năng tài chính để gửi con họ vào các trường đại học, vì học thức là cái vốn quý nhất mà cha mẹ có thể giành cho con. Những cái chết của bố hoặc mẹ đang làm việc có thể đồng nghĩa với việc giảm nguồn thu nhập của gia đình ảnh hưởng đến việc học của con cái họ. BHNT giúp đỡ để chắc chắn tích luỹ được khoản tiền đảm bảo sự học hành cho con cái. Cha mẹ có thể tham gia BH dài hạn hoặc BH hỗn hợp có thời hạn có lãi để đáp ứng tiền học phí cho con cái họ học đại học ngay cả khi họ còn sống.

  • Thu nhập khi về hưu.

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có những chính sách, chương trình để đảm bảo cho cá nhân có thu nhập khi về hưu. Mặc dù vậy, số thu nhập này thường không đủ đảm bảo cho một người hưu trí. Hợp đồng BHNT lâu dài đảm nhiệm hai vai trò. Thứ nhất là BH rủi ro cho người được BH trong suốt thời gian làm việc. Sau đó tiền tiết kiệm được tích luỹ có thể được sử dụng làm nguồn thu nhập khi về hưu.

b. Tác động tới doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh.

BHNT cá nhân đảm bảo trả một khoản tiền để công việc kinh doanh vẫn tiếp tục trong trường hợp tử vong của chủ doanh nghiệp, đối tác hoặc người chủ chốt.

Một doanh nghiệp cũng có thể dùng BHNT để đảm bảo một số chế độ đãi ngộ cho người làm công.

BHNT cũng đảm bảo sự tiếp tục kinh doanh cho doanh nghiệp nếu chủ doanh nghiệp hoặc những nhân vật chủ chốt của tổ chức này chết. Nếu người chủ doanh nghiệp chết, cổ phần của anh ta trong doanh nghiệp sẽ trở thành một phần tài sản. Tất cả tài sản bao gồm cả những tài sản từ hoạt động kinh doanh của anh ta chuyển thành tài sản thừa kế của anh ta và tài sản này phải được dùng để trả các khoản nợ, kể cả nợ kinh doanh. Nếu không đủ trả nợ, người thực hiện di chúc buộc phải bán doanh nghiệp với khoản lỗ lớn để có được số tiền cần thiết trả các khoản nợ. Tất nhiên, việc bản doanh nghiệp với bất cứ giá nào sẽ bị lỗ rất lớn so với giá trị thực tế trên thị trường. Chính vì vậy việc chuẩn bị từ trước một hợp đồng mua bán có thể giải quyết vấn đề rắc rối liên quan đến cái chết đột ngột của nhà kinh doanh. Một bên đồng ý bán toàn bộ tài sản và lợi nhuận trong kinh doanh cho đối tác đồng ý mua quyền lợi với giá đặc biệt. Nếu nhân viên ( hoặc thành viên trong gia đình ) không đủ tiền mua doanh nghiệp thì BHNT là cách phổ biến nhất để cung cấp vốn hoạt động này. Nhân viên sẽ mua hợp đồng BH nhân mạng của chủ sở hữu doanh nghiệp. Anh ta vừa là chủ hợp đồng vừa là người trả phí BH và là người hưởng quyền lợi BH. STBH đủ để người đó mua doanh nghiệp.

c. Tác dụng đối với xã hội:

Một trong những chính sách để thực hiện tốt kế hoạch tài chính của mỗi quốc gia là bắt đầu ngay trong từng gia đình, vì mỗi gia đình là một tế bào của xã hội.

BHNT là một trong những phương thức hiệu quả nhất để thực hiện huy động tiết kiệm cá nhân. BHNT giúp cho bản thân mỗi người dân có ý thức tiết kiệm, có ý thức chăm lo đến tương lai. BHNT cũng tạo nguồn vốn đầu tư dài hạn trong nước. BHNT là cách thức huy động vốn đầu tư khá hiệu quả trong dân cư, không những thế mà các hợp đồng đầu BHNT lại là các hợp đồng dài hạn, điều đó đồng nghĩa với nguồn vốn đầu tư dài hạn trong nước.

Ngay từ khi ra đời, BHNT đã thu hút được một lực lượng lớn lao động trong xã hội, góp phần giải quyết phần nào được nạn thất nghiệp là một trong những vấn đề bức thiết của xã hội ta hiện nay.

I.        SƠ LƯỢC LỊCH SỬ  PHÁT TRIỂN CỦA BHNT

1.  Trên thế giới 

Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi người thường gặp những rủi ro bất ngờ khó lường trước được. Chính vì vậy, BH ra đời để chia sẻ rủi ro với số đông và một vài người trong số họ gánh chịu. Có thể  nói trên thế giới BHNT ra đời từ năm 1583, với hợp đồng đầu tiên được ký kết giữa người được BH là William Gybbon ở Luân Đôn – Anh Quốc. Tuy nhiên mãi cho đến năm 1759, công ty BHNT đầu tiên mới được thành lập ở Châu Mỹ nhưng chỉ bán BH cho các con chiên nhà thờ. Ba năm sau, BHNT được phát triển rộng rãi cho tất cả nhân dân do công ty BHNT đầu tiên của Anh thành lập năm 1762.

Từ đó đến nay, hàng loạt công ty BHNT ra đời, BHNT không chỉ xuất hiện ở các nước Châu Âu, Châu Mỹ mà còn xuất hiện ở Châu Á : Nhật năm 1881; Hàn Quốc năm 1905; Singapore năm 1908…;

Theo số liệu thống kê năm 1990 trong 100% phí BHNT trên thế giới thì:

–         Phí BHNT ở Châu Mỹ chiếm :34,8%

–         Phí BHNT ở Châu Âu chiếm :31,4%

–         Phí BHNT ở Châu Á chiếm :33,8%

Trong đó năm thị trường BHNT lớn nhất thế giới là : Nhật, Mỹ, Anh, Pháp và Đức.

Biểu 1: Doanh thu phí BHNT một số nước năm 1994

STT

Nước

Phí BH( triệu USD)

Thị phần thị trường(%)

1

Nhật

477.016

42,55

2

Mỹ

241.419

22,42

3

Anh

74.786

6,67

4

Pháp

69.741

6,62

5

Đức

51.400

4,58

Biểu 2: Cơ cấu phí BHNT  năm 1994

Khu vực

Phi nhân thọ(%)

Nhân thọ(%)

Châu á

25

75

Bắc mỹ

57

43

Châu âu

50

50

Nam mỹ

80

20

Châu phi

29

71

Các khu vực khác

60

40

Tổng thể

42

57

  1. 2.   Ở  Việt Nam
    1. a.     Sự ra đời:

Ở việt Nam trước năm 1975 đã có công ty Hưng Việt ( Miền Nam Việt Nam) đã triển khai loại hình bảo hiểm “BHNT” và hoạt động trong thời gian ngắn chỉ 1 – 2 năm. Đến năm 1987, Tổng công ty Bảo Hiểm Việt Nam (Bảo Việt) đã tổ chức nghiên cứu đề tài “BHNT và việc vận dụng vào Việt Nam” và đến năm 1990 Bảo Việt đã triển khai nghiệp vụ “Bảo hiểm sinh mạng cá nhân – một loại hình ngắn hạn của Bảo Hiểm nhân thọ”

Sau một thời gian nghiên cứu, ngày 20/03/1996 Bộ Tài Chính đã ký Quyết định số 281/TC/TCNH, cho phép Tổng công ty Bảo Hiểm Việt Nam triển khai 2 loại hình BHNT là:

–            BHNT có thời hạn 5 năm, 10 năm.

–            BHNT trẻ em ( an sinh giáo dục).

b. Sự phát triển

Với hơn 4 năm hoạt động, BHNT còn quá mới mẻ trên thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, ngay khi ra đời BHNT đã có những bước phát triển với tốc độ khá nhanh. Đến hết tháng 12 năm 1996 Công ty BHNT đã tập huấn và hướng dẫn triển khai với 1256 hợp đồng và số phí thu gần 1 tỷ VNĐ. Một năm sau, 31/12/1997 có 39/42 công ty từ Bình Thuận trở ra triển khai BHNT với số hợp đồng khai thác được là 25.937 hợp đồng, đưa tổng số hợp đồng đang có hiệu lực của công ty đang quản lý lên đến 35.558 hợp đồng với doanh thu gần 20 tỷ VNĐ.

Hiện nay, BHNT đang được đánh giá là phát triển nhất ở miền Bắc Việt Nam, và sẽ phát triển mạnh hơn nữa trong tương lai vì doanh thu của nghiệp vụ này rất lớn. Định hướng phát triển đến năm 2010:

–            Doanh thu : 6.000 đến 10.000 tỷ VNĐ.

–            Tỷ trọng: 50% trên tổng phí BH toàn thị trường.

II.     CÁC LOẠI HÌNH BHNT & NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HỢP ĐỒNG BHNT

1.  Các loại hình BHNT

BHNT đáp ứng rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia, có thể nói để đáp ứng và thoả mãn các nhu cầu của người tham gia, người BH phải thực hiện đa dạng hoá sản phẩm BHNT, thực chất là đa dạng hoá các loại hợp đồng BHNT. Trong thực tế có 3 loại hình BHNT:

–                 BH trong trường hợp tử vong

–                 BH trong trường hợp sống

–                 BHNT hỗn hợp.

1.1. Bảo hiểm trong trường hợp tử vong:

Đây là loại hình phổ biến nhất trong BHNT và được chia thành 2 nhóm:

a)    BH tử kỳ còn gọi là BH tạm thời( hay BH sinh mạng có thời hạn)

Được ký kết BH cho cái chết xảy ra trong thời gian đã quy định của hợp đồng. Nếu cái chết xảy ra trong thời hạn hợp đồng thì người BH phải có trách nhiệm thanh toán số tiền BH cho người thụ hưởng quyền lợi BH được chỉ định.

Ta thấy BH tử kỳ có đặc điểm:

–            Thời hạn xác BH định.

–            Trách nhiệm và quyền lợi mang tính tạm thời.

–            Mức phí BH thấp vì không phải lập quỹ tiết kiệm cho người được BH.

BH tử kỳ được đa dạng hoá thành các loại hình sau đây:

+               BH tử kỳ cố định: Có mức thu phí BH và STBH cố định, không thay đổi trong suốt thời gian có hiệu lực của hợp đồng.

+               BH tử kỳ có thể tái tục: Có thể được tái tục vào ngày kết thúc hợp đồng và không yêu cầu có thêm bằng chứng nào về sức khoẻ của người được BH, nhưng có sự giới hạn về độ tuổi,( phí tăng lên tại lúc tái tục vì độ tuổi của người được BH tăng).

+               BH tử kỳ có thể chuyển đổi: Cho phép người được BH có sự lựa chọn chuyển đổi 1 phần hay toàn bộ hợp đồng thành 1 hợp đồng BHNT trọn đời hay BHNT hỗn hợp tại một thời điểm nào đó khi hợp đồng đang còn hiệu lực.

+               BH tử kỳ giảm dần: Đây là loại hình BH mà có 1 bộ phận của STBH giảm hàng năm theo một mức độ quy định. Bộ phận này giảm tới 0 vào cuối thời hạn của hợp đồng.

+               BH tử kỳ tăng dần: Phí BH sẽ tăng dần theo STBH và phải dựa trên tuổi tác của người được BH khi tái tục hợp đồng.

+               BH thu nhập gia đình.

+               BH thu nhập gia đình tăng dần.

+               BH tử kỳ có điều kiện: Điều kiện ở đây là việc thanh toán trợ cấp chỉ được thực hiện khi người được BH bị chết đồng thời người thụ hưởng quyền lợi BH được chỉ định trong hợp đồng phải còn sống.

b)    BHNT trọn đời (BH trường sinh)

Loại hình BH này cam kết chi trả cho người thụ hưởng BH một số tiền BH đã được ấn định trước trên hợp đồng. Khi người được BH chết vào bất cứ lúc nào kể từ ngày ký kết hợp đồng.

Phương châm của người BH ở đây là “BH đến khi chết”. Có một số trường hợp loại hình BH này còn đảm bảo chi trả cho người được BH ngay cả khi họ sống đến 100 tuổi.

Với loại hình BHNT tròn đời hiện nay thường có các loại hợp đồng sau:

+               BHNT trọn đời phi lợi nhuận: Loại này có mức phí và STBH cố định suốt cuộc đời. Vì vậy khi thanh toán STBH cho người thụ hưởng không có lợi nhuận được chia.

+               BHNT trọn đời có tham gia chia lợi nhuận: Tương tự như loại BH trên nhưng khi thanh toán STBH cho người thụ hưởng quyền lợi họ được chia một phần lợi nhuận như đã thoả thuận trong hợp đồng.

+               BHNT trọn đời đóng phí liên tục: Loại này yêu cầu người được BH đóng phí liên tục cho tới khi chết.

+               BHNT trọn đời đóng phí một lần: Là loại hình BH mà người được BH chỉ đóng phí một lần khi ký hợp đồng, còn người BH phải đảm bảo chi trả bất cứ lúc nào khi cái chết của người được BH xuất hiện.

+               BHNT trọn đời quy định số lần đóng phí BH: Loại này không đòi hỏi người được BH phải đóng phí liên tục hay một lần, mà quy định rõ số năm đóng phí BH.

1.2. BH trong trường hợp sống( còn gọi là BH sinh kỳ)

Thực chất của loại hình BH này là người BH cam kết chi trả những khoản tiền đều đặn trong một khoản thời gian xác định hay trong suốt cuộc đời người tham gia BH. Nêu người được BH chết trước ngày đến hạn thanh toán thì sẽ không được chi trả bất kỳ một khoản tiền nào.

Như vậy là các khoản trợ cấp định kỳ chỉ được bắt đầu thanh toán vào 1 ngày ấn định và chỉ được trả khi người được BH còn sống. Cũng có một số công ty BH còn áp dụng các điều khoản bổ sung để hoàn phí BH cho người thụ hưởng quyền lợi BH khi người được BH bị tử vong.

Loại hình BH này rất phù hợp với những người khi về hưu hay những người không được hưởng trợ cấp hưu trí từ BHXH đến độ tuổi tương ứng với tuổi về hưu đăng ký tham gia, để được hưởng những khoản trợ cấp định kỳ hàng tháng. Vì vậy  tên gọi “BH tiền trợ cấp hưu trí”, “BH tiền hưu”, “Niên kim nhân thọ”… được các công ty BH vận dụng linh hoạt.

1.3. BHNT hỗn hợp.

Là BH cả trong trường hợp người được BH bị tử vong hay còn sống. Yếu tố tiết kiệm và rủi ro đan xen nhau vì thế nó được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước trên thế giới.

Vậy ta thấy BHNT hỗn hợp có các đặc điểm sau đây:

+         Số tiền BH được trả khi: Hết hạn hợp đồng hay người được BH bị tử vong trong thời hạn hợp đồng.

+         Thời hạn BH xác định.

+         Phí BH thường đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt thời hạn BH.

+         Có thể chia lãi thông qua đầu tư phí BH và cũng có thể được hoàn phí khi không có điều kiện tiếp tục tham gia.

Khi triển khai BHNT hỗn hợp các công ty BH có thể đa dạng hoá sản phẩm này bằng các hợp đồng có thời hạn khác nhau, hợp đồng phi lợi nhuận, có lợi nhuận và các hợp đồng khác tuỳ theo tình hình thực tế.

1.4. Các điều khoản bổ sung

Khi triển khai các loại hình BHNT, nhà BH còn nghiên cứu đưa ra các điều khoản bổ sung để đáp ứng các nhu cầu đa dạng của người dân. Thông thường có các điều khoản bổ sung sau đây hay được vận dụng.

+               Điều khoản bổ sung BH nằm viện và phẫu thuật: Nhà BH cam kết trả các chi phí nằm viện và phẫu thuật cho người được BH khi họ bị ốm đau, thương tích.

Nếu như người đó tự gây ra thương tích, tự tử, mang thai và sinh nở… thì không được hưởng quyền lợi BH.

+               Điều khoản bổ sung BH tai nạn: Nhằm trợ giúp chi phí trong điều trị thương tật từ đó bù đắp sự mất mát hay giảm thu nhập do bị chết hay bị thương tích cho người được BH. Những trường hợp tự thương, tai nạn do nghiện rượu, ma tuý…sẽ không được hưởng quyền lợi BH.

+               Điều khoản bổ sung BH sức khoẻ: Thực chất của điều khoản này là nhà BH sẽ cam kết thanh toán khi người  được BH mắc các chứng bệnh hiểm nghèo như:

–                 Đau tim.

–                 Ung thư.

–                 Suy gan.

–                 Suy hô hấp.

Ngoài ra còn có các điều khoản bổ sung khác như: hoàn phí BH, miễn thanh toán phí khi bị tai nạn, thương tật… nhằm tăng tính hấp dẫn để thu hút người tham gia.

  1. 2.     Nội dung cơ bản của hợp đồng BHNT.

–   Khái niệm: Hợp đồng BHNT là sự cam kết giữa hai bên theo đó bên nhận BH ( công ty BH) có trách nhiệm và nghĩa vụ chi trả cho bên được BH khi có các sự kiện BH xảy ra còn bên được BH có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng phí BH như đã thoả thuận theo quy định của pháp luật.

Đây là 1 hợp đồng dân sự song vụ, mỗi bên tham gia đều có quyền và nghĩa vụ đối với nhau.

  • Bên nhận BH chính là các công ty BHNT. Khi cam kết nhận BH, trách nhiệm và nghĩa vụ của công ty là chi trả STBH khi có sự kiện BH xảy ra với người được BH đã thoả thuận trong hợp đồng. Sự kiện BH trong BHNT thường bao gồm:

+                 Tử vong.

+                 Sống đến một độ tuổi nhất định.

+                 Thương tật.

+                 Hết hạn hợp đồng.

Bên nhận BH không được huỷ bỏ hay thay đổi các điều khoản trong hợp đồng và cũng không được khiếu nại đòi phí BH.

  • Bên được BH trong hợp đồng BHNT có thể là ba người sau:

v            Người được BH là người mà sinh mạng và cuộc sống của họ được BH theo các điều kiện của hợp đồng. Người được bảo hiểm có thể là người đã trưởng thành hoặc chưa đủ tuổi thành niên phải thông qua người đại diện hợp pháp đứng và ký hợp đồng.

v            Người tham gia BH là người đứng ra yêu cầu BH, thoả thuận và ký kết hợp đồng. Người tham gia BH bắt buộc phải là người có năng lực pháp lý đầy đủ theo quy định của pháp luật.

Người tham gia BH là người chịu trách nhiệm nộp phí và có quyền yêu cầu huỷ hợp đồng BH. Người tham gia BH có thể là người được BH và  cũng có thể không phải là người được BH. Ta thấy người tham gia BH và người được BH là hai người khác nhau chỉ khi người được BH chưa đủ tuổi thành niên hoặc trong các hợp đồng BH theo nhóm.

v            Người được hưởng quyền lợi BH là người được nhận STBH hoặc các khoản trợ cấp do công ty BH thanh toán như đã nêu trong hợp đồng. Đây là người do người tham gia BH chỉ định.

Nếu việc chỉ định không rõ ràng, STBH được giải quyết theo luật thừa kế. Người được hưởng quyền lợi BH thường là người được BH, chỉ là người khác khi người được BH chết.

Xác định rõ người được hưởng quyền lợi BH là vấn đề hết sức quan trọng để tránh được những tranh chấp, khiếu nại.

–       Hợp đồng BHNT rất đa dạng do các công ty BH thực hiện đa dạng hoá sản phẩm để đáp ứng các nhu cầu phong phú của người tham gia.

Đối tượng BHNT là tất cả những người từ 1 tuổi ( tròn 12 tháng tuổi) đến tròn 60 tuổi. Người tham gia BH có thể tham gia bất kỳ một loại hình BH nào theo yêu cầu và nguyện vọng của mình.

Khi tham gia BH người tham gia phải viết giấy yêu cầu BH. Giấy yêu cầu BH  là 1 bộ phận của hợp đồng BH. Trong giấy này người tham gia BH phải kê khai đầy đủ:

–          Tên tuổi.

–          Giới tính.

–          Chỗ ở.

–          Tình trạng sức khoẻ…

Căn cứ vào giấy yêu cầu BH công ty BH quyết định có nhận BH hay không. Giấy này phải được lưu trong hồ sơ mỗi hợp đồng BH.

Các quy định trong hợp đồng BH có nhiều điểm khác nhau ở mỗi nước.

Hợp đồng BHNT có thể thay đổi theo yêu cầu của người tham gia BH. Ví dụ: BH tử kỳ cố định có thể chuyển thành 1 hợp đồng BHNT trường sinh;… Tuy nhiên cần thấy rằng sự chuyển đổi này không nhằm mục đích trục lợi BH.

Người tham gia rất quan tâm đến  khía cạnh sau khi tham gia BHNT vì những lý do nào đó mà không còn khả năng đóng phí tiếp tục và huỷ hợp đồng thì có được hưởng quyền lợi gì không? Câu hỏi này được trả lời: họ sẽ nhận lại được 1 số tiền nào đó gọi là giá trị hoàn lại ( hay giá trị giải ước ) nhưng với điều kiện:

°    Trong hợp đồng hay đơn BH đã có sự chỉ rõ về giá trị giải ước từng năm 1 cách đầy đủ.

°    Trong hợp đồng đã có một phần dự phòng phí đủ lớn do công ty BH tính toán.

Tuy nhiên trong một số loại hợp đồng BHNT như: hợp đồng tử vong có kỳ hạn xác định, hợp đồng có STBH trả sau… việc hoàn phí không được thực hiện.

–   Hợp đồng BHNT là hợp đồng dài hạn vì vậy chủ yếu được ký kết với từng cá nhân. Việc ký kết theo nhóm rất ít và nếu có thì chủ yếu là loại hình BH tử vong có kỳ hạn xác định.

Þ               Trên đây là các nội dung cơ bản của hợp đồng BHNT nhưng để hợp đồng BHNT đi vào thực tế thì các bên phải tham gia ký kết hợp đồng. Tuy nhiên, khi tham gia ký kết hợp đồng các bên phải chú ý các quy định sau đây:

٧  Hiệu lực của hợp đồng: Thường được tính từ ngày nộp phí BH đầu tiên. Ngày nộp phí BH đầu tiên phải được ghi chép thống nhất và chính xác trong cả hoá đơn thu phí và cả giấy yêu cầu BH… Hợp đồng buộc phải được ký kết giữa những người có đủ năng lực pháp lý.

٧  Tuổi của người được BH hay người tham gia BH căn cứ vào tuổi trong giấy khai sinh, chứng minh thư, hộ chiếu hay hồ sơ hộ khẩu. Căn cứ vào ngày sinh trong các loại giấy tờ này để tính độ tuổi được nhận BH. Thông thường các công ty BH vận dụng 2 cách tính tuổi :

}      Tính tuổi theo ngày sinh nhật ngay sau ngày bắt đầu được nhận BH.

}      Tính tuổi sát với ngày sinh nhật.

٧     Luật và những văn bản dưới luật về BH thường quy định loại trừ những trường hợp sau đây trong trường hợp tử vong, công ty BHNT không chịu trách nhiệm chi trả

}  Người được BH tự tử.

}  Người được BH bị kết ản tử hình.

}  Người được thụ hưởng quyền lợi BH cố ý gây ra tử vong cho người được BH.

}  Chiến tranh, nội chiến gây ra cái chết cho người được BH ( rủi ro này thường có những thoả thuận riêng).

٧     Số tiền BH giảm đi: khi hợp đồng có hiệu lực trong 1 thời gian nào đó ( có thể là 1 năm hay 2 năm trở lên) người tham gia BH có thể duy trì hợp đồng miễn phí với số tiền BH giảm đi.

٧     Những quy định về nộp phí BH: Trong BHNT, phí BH có thể nộp theo tháng, quý, năm hoặc đóng 1 lần. Việc đa dạng hoá thời hạn nộp phí đã tạo điều kiện cho người tham gia BHNT có kế hoạch sử dụng ngân sách gia đình hợp lý. Ngày định kỳ thu phí được các đại lý ký thoả thuận với người tham gia.

٧     Thủ tục trả tiền BH: Khi có các sự kiện xảy ra như quy định trong hợp đồng, người được hưởng quyền lợi BH phải thông báo cho công ty BH biết về tình trạng người được BH, địa chỉ và những thông tin cần thiết khác, sau đó hoàn tất hồ sơ khiếu nại và nộp cho công ty hoặc người đại diện của công ty.

Sau một thời gian quy định, công ty BHNT sẽ trả tiền BH và tiền lãi, tiền thưởng (nếu có) cho người được hưởng quyền lợi BH.

PHẦN II

THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI VÀ PHƯƠNG HƯỚNG

PHÁT TRIỂN BHNT Ở VIỆT NAM

I.                  THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI BHNT Ở VIỆT NAM

Xuất phát từ quan điểm đạo phật: Con người là vốn quý nhất nên BH con người xuất hiện ở Việt Nam từ rất sớm. Ngay dưới thời Pháp thuộc đã có vài chế độ BHXH đối với công nhân: năm 1918 thực hiện chế độ đối với công nhân tàn tật; năm 1920 thực hiện BH ốm đau… ở miền Bắc những người làm việc cho Pháp đã được BH và một số giai đoạn đã được hưởng quyền lợi của hợp đồng BHNT –  các hợp đồng này đều do công ty bh của Pháp trực tiếp thực hiện.Cùng với sự  phát triển của nền kinh tế –  xã hội. Tổng công ty BH Việt Nam – Bảo Việt ( tiền thân là công ty BH Việt Nam ) ra đời ngày17/12/1964 và chính thức đi vào hoạt động ngày 15/01/195. Trong quá trình tồn tại và phát triển, Bảo Việt tăng cường mở rộng các nghiệp vụ BH cũng như ngày càng đa dạng hoá các nghiệp vụ của mình đặc biệt là nghiệp vụ BH con người.

Năm 1996, Bảo Việt là doanh nghiệp đầu tiên triển khai dịch vụ BHNT tại Việt Nam với sự hình thành công ty BHNT ( tên gọi là BHNT Hà Nội).

Ngay từ năm 1987, Bảo Việt đã có đề tài “BHNT  và việc vận dụng vào Việt Nam”. Trong đề tài này nhóm nghiên cứu đã tổng hợp những lý thuyết cơ bản mà ngành BHNT trên thế giới đã áp dụng đồng thời phân tích những điều kiện triển khai BHNT vào điều kiện KT – XH VN những năm cuối thập kỷ 80. Việc triển khai BHNT lúc đó là chưa phù hợp vì điều kiện kinh tế xã hội của nước ta lúc đó có:

+       Tỷ lệ lạm phát cao, không ổn định.

+       Thu nhập của đại bộ phận dân cư còn thấp.

+       Chưa có môi trường để cho công ty BH hoạt động.

+       Chưa có môi trường pháp lý trong lĩnh vực BHNT…

Bước sang thập kỷ 90, trong cơ chế thị trường đa dạng hoá các loại hinh kinh doanh BH phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội là một đòi hỏi thiết thực. Xuất phát từ yêu cầu đảm bảo cho nền kinh tế thị trường phát triển ổn định, góp phần khai thác mọi tiềm năng trong nước phục vụ đầu tư phát triển, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế 1991 – 2000 của đất nước. Trong giai đoạn này, kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, thu nhập bình quân đầu người tăng lên rõ nét, nền kinh tế phát triển tương đối ổn định. Đó là điều kiện quan trọng có thể triển khai nghiệp vụ BHNT, thêm vào đó môi trường đầu tư của nước ta đã có nhiều thuận lợi, dân số nước ta lại đông ( khoảng 80 triệu người ).

Chính từ các điều kiện khách quan như thế BHNT đã chính thức được triển khai sâu rộng trong cả nước với việc ra đời của công ty BHNT trực thuộc Bảo Việt, tiếp đến là các công ty BHNT nước ngoài như:

+               Công ty BHTNNN Chinfon – Manulife (6/1999)

+               Công ty TNNN – BHNT Prudential (10/99)

+               Liên doanh BHNT giữa Bảo Minh và Jardine CMG(3/2000)

+               Công ty BH quốc tế AIA (8/2000)

Như vậy cùng với sự giao lưu và phát triển kinh tế với các nước trên thế giới đã góp phần làm cho thị trường BHNT ở Việt Nam trở nên sôi động, tạo sức cạnh tranh lớn giữa các sản phẩm của các công ty BHNT trong nước và nước ngoài tại Việt Nam.

Ngày 20/03/1996 Bộ Tài Chính đã ký quyết định số 282/QĐTC cho phép Bảo Việt triển khai 2 loại hình BHNT mang tính tiết kiệm ở Việt Nam đó là:

–         BHNT có thời hạn

–         An sinh giáo dục.

Công ty

Các sản phẩm chính Các sản phẩm bổ sung
Bảo Việt
+BH và tiết kiệm 5-10 năm.

+An sinh giáo dục.

+BH trọn đời

+Niên kim nhân thọ.

+ BH thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn.

+BH chi phí phẫu thuật.

+BH sinh kỳ thuần tuý.

+BH tử kỳ.

Bảo Minh – CMG
+BH hỗn hợp.

+BH trẻ em.

+BH hưu trí.

+BH tử kỳ.

+BH chết, thương tật do tai nạn.

+BH miễn phí.

+BH miễn phĩ trong trường hợp thương tật do tai nạn.

Prudential
+Phú trường an.

+Phú tích luỹ an khang.

+Phú tích luỹ giáo dục.

+Phú tích luỹ định kỳ.

+Phú hoà nhân an.

+BHNT có kỳ hạn.

+BH từ bỏ thu phí.

+BH chết tàn tật do tai nạn.

+BH chết do tai nạn.

AIA
+BH tử kỳ tái tục hàng năm.

+BHNT hỗn hợp trả  nhiều lần có điều chỉnh thời hạn 15 năm.

+BH miễn phí cho người tham gia.

+BH tử vong do tai nạn.

+BH tử vong và thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn.

+BH thương tật toàn bộ vĩnh viễn…

Với điều kiện kinh tế xã hội ổn định, thêm  vào đó lại có 1 môi trường pháp lý vững chắc đã tạo điều kiện cho BHNT Việt Nam có những bước phát triển vững chắc.

Từ năm 1989 về trước, Bảo Việt là công ty BH duy nhất ở Việt Nam triển khai BHNT. Hiện nay, ngoài Bảo Việt còn có các công ty khác như Prudential, Chinfon… Bảo Việt NT Hà Nội là công ty đầu tiên của Bảo Việt, đồng thời là công ty đầu tiên triển khai  cung cấp các sản phẩm BHNT trên thị trường Việt Nam theo quyết định số 568/TC/QĐ/TCCB ngày 22/06/1996 của Bộ Trưởng BTC.

Bảo Việt NT Hà Nội chính thức đi vào hoạt động ngày 01/08/1996.

Với khoảng thời gian 5 năm có thể là một quãng thời gian dài với sự nghiệp của một cá nhân nào đó nhưng lại là một khoảng thời gian rất ngắn để đánh giá sự thành công, trưởng thành và lớn mạnh của 1 lĩnh vực mới.

Từ sau khi chính thức đi vào hoạt động BVNTHN đã có một sự kết hợp tối ưu giữa uy tín và kinh nghiệm quý báu của người cha ( Bảo Việt ) với sức mạnh và sự linh động của tuổi trẻ. Chính vì vậy công ty đã đạt được những bước phát triển nhanh và vững chắc.

BVNT có hai hệ thống bán sản phẩm:

+       Một là hệ thống mạng lưới của 53 công ty BH phi nhân thọ trực thuộc BV trong toàn quốc, hoạt động như hệ thống cộng tác viên của công ty BVNT.

+       Hai là hệ thống đại lý chuyên nghiệp trực tiếp tại công ty.

Ngoài ra còn có một số cơ quan như: Bưu chính Viễn Thông, Báo Hoa Học Trò và các cơ quan ở trung tâm HN ký kết hợp đồng cộng tác viên với BVNT.

Với khoảng thời gian hoạt động ngắn ngủi nhưng BVNT đã tìm được chỗ đứng của mình trên thị trường và dần dần  tự khẳng định mình.

Một điều đáng nói ở đây là BHNT là một lĩnh vực mới, từ chỗ đa số người dân còn cảm thấy hết sức mới mẻ về BHNT nhưng đến nay có rất nhiều người tham gia BHNT  và từ thực tế triển khai BHNT cho  thấy người dân Việt Nam không thờ ơ với BHNT mà trái lại họ đã có sự đánh giá cao tính xã hội của loại hình BH này.

Theo tờ Thông tin hoạt động số 3/2001 cho thấy những thành tựu của BVNTHN như:

+       Tăng trưởng doanh thu đạt mức rất cao và được duy trì ổn định qua các năm. Riêng trong 6 tháng đầu năm 2001, tăng trưởng doanh thu đạt mức 147% so với cùng kỳ năm 2000. Dự kiến đến tháng 8 năm 2001, doanh thu năm 2001 của BVNT HN sẽ đạt tới con số 100 tỷ đồng. Hiện tại, công ty đã được trên 70.000 khách hàng gửi gắm sự tin tưởng và tham gia.

+       Mạng lưới khai thác phát triển nhanh và phủ khắp các địa bàn dân cư. Ngày mới thành lập công ty chỉ có 31 đại lý và 1 chi nhánh tại Thành phố HCM. Đến nay công ty đã có 20 phòng đại lý BHNT khu vực với gần 1000 cán bộ khai thác được tuyển chọn và đào tạo kỹ lưỡng đang hoạt động tích cực tại tất cả các quận, huyện, thành phố, phục vụ mọi nhu cầu về BHNT của nhân dân từ đô thị đến các vùng nông thôn xa xôi. Bên cạnh đó là sự phát triển về cơ sở vật chất hạ tầng của công ty, hệ thống phần mềm quản lý hợp đồng một cách khoa học,…

Với những con số trên đã phản ánh được phần nào sự phát triển của BHNTHN cũng như thị trường BHNT nói chung.

Ta thấy thực tế các công ty BHNT rất nỗ lực trong việc thay đổi phương pháp tuyên truyền quảng cáo khai thác BH và cải tiến thủ tục giấy tờ rõ ràng dễ hiểu có sức thuyết phục hơn và hấp dẫn hơn với khách hàng. Điều quan trọng hơn cả là BVNT đã tổ chức tuyển chọn, đào tạo đội ngũ bán sản phẩm có năng lực, linh đông. Đây là vấn đề cơ bản quyết định sự thành công của BVNT cũng như các công ty hoạt động trong lĩnh vực BHNT.

Thêm vào đó các công ty BHNT cũng cần có sự đa dạng hoá các sản phẩm BH để đáp ứng các nhu cầu  ngày càng đa dạng của nhân dân. BHNT HN đã bắt    nhịp  được với xu thế này ngày càng đa dạng hoá sản phẩm BH của mình: Được BTC phê chuẩn theo công văn số 2755TC/TCNH từ ngày 1/7/2001, BVNT HN đã triển khai các sản phẩm BHNT mới như:

+       An khang thịnh vượng.

+       An sinh giáo dục.

+       An khang trường thọ.

+       An hưởng hưu trí.

Bên cạnh đó, thực hiện chiến lược phát triển chung “ Bảo Việt trong lòng người Việt” của Tổng công ty BHVN, BVNT HN luôn coi khách hàng là trung tâm để định hướng hoạt động. Chính vì vậy, trong thời gian tới, công ty tiếp tục đặt trọng tâm vào việc cải tiến nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng. Bên cạnh đó BVNT tiếp tục mở rộng mạng lưới khai thác nhằm đáp ứng sâu, rộng nhu cầu đa dạng của mọi đối tượng khách hàng. Tăng cường đào tạo kiến thức nghiệp vụ với dạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ khai thác, thu phí. Đẩy nhanh việc ứng dụng tin học trong công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng tổ chức và phục vụ…

Như vậy, với mỗi công ty BHNT nói chung cần có một định hướng khoa học và những hành động cụ thể nhằm đạt được định hướng kế hoạch đã để ra đó.

II.     PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA BHNT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

Việt Nam được các nhà chuyên môn đánh giá là một thị trường BHNT “Đang lên” của Châu Á và vẫn còn bị “Bỏ ngỏ”. Vì vậy để BHNT ở Việt Nam vương lên ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới, chúng ta cần phải có phương hướng phát triển BHNT hợp lý. Trước hết phải xem xét khả năng phát triển BHNT ở Việt Nam trong thời gian tới để có những chiến lược hợp lý cho sự phát triển.

Kinh tế là một yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề triển khai nghiệp vụ BHNT ở Việt Nam, mặc dù nền kinh tế đang trong đà phát triển song những gì nền kinh tế đạt được như hiện nay quả là một điều hết sức thuận lợi cho nghiệp  vụ BHNT phát triển. Tổng sản phẩm trong  nước(GDP) có xu hướng ổn định kéo theo tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người tăng, cuộc sống của nhân dân dần dần được cải thiện. Các yếu tố như lạm phát, tỷ giá hối đoái cũng tác động trực tiếp tới sự phát triển của nghiệp vụ BH này.

Dân số là một trong những vấn đề quan trọng khi triển khai nghiệp vụ này, việc nghiên cứu số lượng, kết cấu, độ tuổi, giới tính, tuổi thọ, tỷ lệ chết là hết sức cần thiết. Có như vậy thì chúng ta mới có thể tính được các mức phí phù hợp và đưa ra các biện pháp nhằm thu hút khách hàng tham gia, đồng thời là cơ sở để dự đoán tiềm năng trong tương lai. ậ nước ta, điều kiện về dân số rất lý tưởng cho việc phát triển ngành BHNT. Với khoangr 80 triệu dân nếu so sánh về tình hình số dân thì nước ta có số dân đông thứ 5 trong khu vực Châu á sau Trung Quốc, Inđonêxia, Nhật Bản, ấn Độ. Bên cạnh đó, dân số Việt{Nam trẻ gần 80% ở độ  tuổi 40, hầu hết dân số hiện đang ở độ tuổi lao động có hiệu quả nhất trong giai đoạn xây dựng gia đình, có nhu cầu tiết kiệm và đầu tư lớn.

Ngày nay khi nền kinh tế phát triển thì đời sống xã hội của người dân cũng được quan tâm đầy đủ hơn, trình độ dân trí được nâng cao, sức khoẻ được chăm sóc, an toàn xã hội được ổn định… Nó tạo cho BHNT được người dân quan tâm hơn vì họ am hiểu nhận thức rõ ràng về sự cần thiết và tác dụng khi tham gia BHNT.

Một điều quan trọng hơn là dần dần có hành lang pháp lý giúp người tham gia và các công ty BHNT hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia và nhận BHNT ( với sự ban hành của luật BH đã khẳng định rõ vấn đề trên).

Nước ta là nước đang phát triển, thu nhập bình quân đầu người còn thấp, lạm phát giảm nhưng người dân vẫn chưa thực sự tin vào  mức ổn định lâu dài. Hơn nữa BHNT là nghiệp vụ mới, người dân Việt Nam thực sự chưa hiểu biết nhiều về BHNT. Ngoài chính sách tạm thời miễn giảm thuế doanh thu, Nhà nước ta còn chưa có các chính sách ưu đãi khác đối với  các công ty BHNT và những người tham gia BHNT như các nước ASEAN khác, trong khi đó mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm, mua trái phiếu kho bạc tăng.

Đứng trước thực tế đó, để tồn tại vững, phát triển, chúng ta phải có những phương  hướng phát triển nhằm khắc phục những khó khăn, phát huy mặt mạnh của mình để thích ứng với điều kiện thực tế của nước ta.

  1. Khâu khai thác

BHNT là lĩnh vực mới mẻ với đại đa số người dân, họ chưa hiểu và chưa tin vào những lợi ích thiết thực và BHNT đem lại. Chính vì vậy, để tạo tiền đề cho sự phát triển của ngành BHTN thì ngay từ đầu, khâu khai thác phải được đặt lên hàng đầu.

+         Muốn đạt được điều đó thì công ty phải giúp cho người dân ý thức được sự có mặt của sản phẩm BHNT, hiểu được ưu điểm và lợi ích mà BHNT đem lại cho cuộc sống của họ thông qua tuyên truyền quảng cáo.

+         Trực tiếp vận động khách hàng có nhu cầu và có khả năng tài chính để họ tham gia mua BHNT.

BH nằm trong nhu cầu an toàn – nhu cầu bậc hai của con người nên việc tiêu thụ sản phẩm BH không được dễ dàng như các sản  phẩm khác. Ngoài ra, cho dù biết rằng “Hoạ vô đơn chí, phúc bất trùng lai” nhưng người ta vẫn thích mua vé số hơn là mua giấy chứng nhận BH, họ đều muốn được may mắn, nào có ai ưu gì số rủi ro mặc dù rằng may rủi đều xảy ra ngoài tầm kiểm soát của họ. Chính vì thế, công ty BHNT cần tổ chức cử cán bộ xuống tuyên truyền quảng cáo trực tiếp ( giải thích điều khoản, thắc mắc…) tại các cơ quan xí nghiệp, tổ dân phố… hoặc phát hành các tờ rơi để thực hiện tốt khâu này.

Song song với việc tuyên truyền quảng cáo, công ty cần kết hợp thăm dò thị trường nhằm đánh giá thị trường trọng điểm, phát triển thị trường tiềm năng, từ đó công ty cần phải có chiến lược phát triển trong tương lai như thế nào để chiếm lĩnh thị trường, cũng như việc củng cố các mối quan hệ tốt với những khách hàng tiềm năng.

Cùng với việc thăm dò thị trường để nghiên cứu nhu cầu của thị trường để thiết kế những sản phẩm phù hợp với thị trường nhằm đa dạng hoá sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người dân.

Cần có một đội ngũ khai thác BHNT có trình độ, có lòng nhiệt tình với công việc, nắm vững nghiệp vụ, hiệu quả khai thác cao.

Cần làm tốt công việc như :

+  Tổ chức và quản lý mạng lưới đại lý BHNT;

+  Đánh giá rủi ro và quản lý rủi ro;

+  Quản lý hợp đồng;

+  Tuyên truyền quảng cáo và khuyến mại;

+  Tạo thêm các sản phẩm mới;

  1. 2.     Khâu trả tiền BH

Dịch vụ BH là một loài dịch vụ đặc biệt, nó khác hẳn với các dịch vụ khác sau khi trả tiền người mua nhận được ngay sự phục vụ. Còn dịch vụ BH sau khi trả tiền người mua chỉ nhận được một tấm giấy chứng nhận có tác dụng như một bản hợp đồng, một lời hứa của doanh nghiệp BH rằng người mua sẽ được bồi thường hay trả tiền BH theo quy tắc và những điều cụ thể ghi trên giấy chứng nhận khi không may gặp rủi ro.

Vì thế, khi không may họ gặp rủi ro doanh nghiệp BH phải phục vụ khách hàng kịp thời chu đáo. Chỉ khi đó sản phẩm BH mới thực sự đến tay người tiêu dùng ( khách hàng). Chất lượng của sản phẩm thể hiện ra chính lúc này.

Ngoài ra BHNT cũng cần sự hỗ trợ của Chính Phủ thông qua các chính sách ưu đãi:

+       Chính sách ưu đãi về đầu tư đối với công ty BH. Từ trước đến nay BHNT luôn được xem như một công cụ hữu hiệu trong việc huy động lượng tiền nhần rỗi trong dân cư, giúp tăng quỹ đầu tư dài hạn cho các cơ sở hạ tầng và các dự án đầu tư khác. Do vậy, Nhà nước cần có chính sách ưu đãi trong việc đầu tư phí BHNT vì thực chất lãi thu được từ đầu tư phí BH Bộ Tài Chính bắt buộc các công ty BH  trả lại cho chủ  hợp đồng 80% còn công ty BH chỉ được hưởng 20%.

+       Có chính sách đối với các đại lý BHNT để tạo chỗ đứng của họ trong xã hội. Ở Việt Nam các đại lý chưa được coi là một nghề, nhưng thực tế họ lại là lực lượng chủ yếu bán sản phẩm vì vậy phải có chính sách riêng cho người làm đại lý, giúp họ yên tâm hơn đối với công việc của mình.

+       Chính sách đối với người tham gia cũng như đối với người BH. BHNT là một loại hình BH mang tính xã hội cao, do đó Nhà nước cần có chính sách ưu đãi cho những người tham gia BHNT được giảm trừ thu nhập, tính thuế số tiền đóng phí, đặc biệt là nghiệp  BH trẻ em.

Được như vậy, chắc chắn BHNT Việt Nam sẽ đứng vững trên đôi chân của mình và đạt tới mục tiêu phát triển mạnh BHNT ở Việt Nam sẽ không còn bao xa. Nhất là khi đất nước bước vào thế kỷ 21, kinh tế xã hội tiếp tục đặt mục tiêu cao sẽ góp phần tạo điều kiện để phát triển BH nói chung và BHNT nói riêng. Để không ngừng phát triển, BHNT vẫn phải nỗ lực nhằm đạt được những định hướng phát triển lâu dài của mình.

KẾT LUẬN

Trên thế giới, cho đến nay BHNT đã phát triển rất mạnh mẽ và đa dạng. Từ những loại hình BHNT cơ bản, mỗi công ty BHNT đều thiết kế những sản phẩm mang những đặc thù riêng để đáp ứng nhu cầu tài chính của từng khu vực dân cư và phù hợp với chính sách kinh tế xã hội của từng quốc gia.

Ở Việt Nam cho đến bây giờ BHNT vẫn còn là một khái niệm mới. Tuy vậy, nhìn vào kết quả triển khai trong hơn 5 năm qua có thể nói rằng tiềm năng của BHNT nước ta là rất lớn. Khả năng nhận thức và hiểu biết về BHNT cộng với tốc độ phát triển kinh tế ngày càng tăng chắc chắn sẽ làm nhu cầu về BHNT ở nước ta ngày càng tăng. Tuy nhiên trong khi đó chúng ta chỉ triển khai có hai sản phẩm như hiện nay thì vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường vì vậy cần nghiên cứu và cho ra đời những sản phẩm BHNT khác nữa, chẳng hạn như: BHNT hỗn hợp, BHNT trợ cấp hưu trí.

BHNT ra đời đã góp phần vào sự phát triển kinh tế, ổn định đời sống xã hội, thực hiện tốt khả năng tài chính của một doanh nghiệp góp phần tạo lập lên một phong cách, tập quán mới. Tham gia BHNT thể hiện một nếp sống đẹp là tự biết lo cho tương lai của mình và quan tâm đến tương lai của người thân. Đồng thời giúp giáo dục con em mình đức tính tiết kiệm, cần cù và sống có trách nhiệm đối với người khác.

Với kiến thức còn hạn chế của mình, nên bài viết mới dừng lại ở việc tìm hiểu và nghiên cứu tình hình triển khai BHNT ở Việt Nam. Em rất mong cô giao góp ý thêm để bài viết này của em thêm hoàn thiện hơn.

Một lần nữa em xin chân thành cám ơn sự chỉ bảo và hướng dẫn của cô giáo Lệ Huyền đã giúp em hoàn thành bài viết của mình.

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Dịch vụ viết luận văn và được gắn thẻ , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s