Xây dựng mô hình xác định mức phí đóng góp của cộng đồng dân cư trực tiếp hưởng lợi từ việc cải thiệnmôi trường sông Tô Lịch giúp giảm bớt gánh nặng chi tiêu Ngân sách Nhà


Đặt vấn đề

Môi trường nói chung và ô nhiễm môi trường nói riêng hiện đang là vấn đề được quan tâm trên toàn thế giới. Việc khắc phục suy thoái môi trường, cải tạo môi trường đang ô nhiễm thường đòi hỏi một nguồn vốn rất lớn và thường được đầu tư bởi Ngân sách Nhà nước hoặc nguồn vốn vay nước ngoài.
Việc cải thiện môi trường một khu vực ô nhiễm được xem xét theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, những chủ thể gây ô nhiễm khu vực phải có trách nhiệm chi phí cho thiệt hại môi trường do họ gây ra. Hiện nay đã có rất nhiều các nhà máy thường xuyên phải đóng phí về nước thải, rác thải…
Tuy nhiên người ta thường không xét tới khía cạnh khi khu vực ô nhiễm được cải tạo sẽ có khá nhiều người được hưởng lợi và họ sẵn sàng trả một khoản tiền nhất định để đóng góp cho việc cải tạo. Vì vậy việc tính tới thu mức phí đóng góp cải thiện môi trường của những người được hưởng lợi trực tiếp từ việc cải thiện môi trường là cần thiết, giúp giảm bớt gánh nặng ngân sách của Nhà nước.
Trường hợp đề tài nghiên cứu tập trung vào việc cải thiện môi trường sông Tô Lịch (nằm trong Dự án cải tạo hệ thống thoát nước Hà Nội). Sông Tô Lịch ô nhiễm chủ yếu do 3 nguồn: nước thải sinh hoạt của dân cư, nước thải bệnh viện và nước thải của các nhà máy. Như vậy, theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, dân cư, nhà máy và bệnh viện là ba chủ thể có trách nhiệm phải chi phí cho thiệt hại môi trường do họ gây ra. Nhưng nếu nhìn công việc cải tạo sông Tô Lịch theo nguyên tắc “người được hưởng lợi phải trả tiền”, thì việc chỉ thu qua phí nước thải là chưa đầy đủ. Khi sông được cải tạo, thành phố Hà Nội sẽ thoát khỏi tình trạng ngập úng hàng năm đặc biệt những người được hưởng lợi trực tiếp nhiều nhất là bộ phận dân cư sống hai bên bờ sông Tô Lịch bởi cải tạo sông cũng có nghĩa là môi trường sống của họ được cải thiện.
Nếu Nhà nước cải thiện môi trường sông Tô Lịch chỉ bằng nguồn vốn cải tạo đầu tư từ chính phủ sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hiệu quả trong quá trình quản lí và sử dụng do sự xuất hiện của một số “người ăn theo”, chủ yếu là bộ phận dân cư ở hai bên sông. Vì vậy, sự kết hợp giữa vốn của Nhà nước, nguồn thu từ phí nước thải cùng với nguồn vốn huy động từ dân cư hai bên sông để cải tạo sông Tô Lịch là phương án có tính khả thi và bền vững.
Chính từ những lý do trên đã thôi thúc chúng em thực hiện đề tài: “Xây dựng mô hình xác định mức phí đóng góp của cộng đồng dân cư trực tiếp hưởng lợi từ việc cải thiệnmôi trường sông Tô Lịch giúp giảm bớt gánh nặng chi tiêu Ngân sách Nhà (Trường hợp nghiên cứu mẫu: Dự án cải tạo sông Tô Lịch).

Mục tiêu nghiên cứu
Phương pháp Đánh giá ngẫu nhiên CVM là phương pháp sử dụng đường cầu để đo lường phúc lợi xã hội. Mục tiêu chính của đề tài là muốn vận dụng những lý thuyết đã được học vào thực tế nhằm tăng khả năng nắm bắt một phương pháp hiệu quả, đưa ra một mô hình tính phúc lợi xã hội dựa vào Mức giá sẵn lòng trả (WTP) của người dân.
Từ mô hình này xác định được mức phí huy động trong bộ phận dân cư hai bên sông Tô Lịch theo phương thức thu từng hộ gia đình trong từng quý (3 tháng).
Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi sử dụng phương pháp: Sử dụng phương pháp Đánh giá ngẫu nhiên để xác định mức phí từ dân theo nguyên tắc “người hưởng lợi phải trả tiền”.
Địa bàn nghiên cứu: Sự ô nhiễm của sông Tô Lịch có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và sản xuất của toàn thành phố Hà Nội, đặc biệt là các khu dân cư sống sát hai bên bờ sông. Đề tài nghiên cứu chỉ đề cập đến việc thu phí của những khu dân cư này để cải tạo môi trường sông Tô Lịch mang lại lợi ích thiết thực cho họ bởi những hộ gia đình sống sát hai bên sông là những người chịu tác động trực tiếp của ô nhiễm môi trường đồng thời họ cũng là những người đầu tiên được hưởng lợi khi môi trường hai bên bờ sông được cải tạo. Địa bàn nghiên cứu trên 3 phường: phường Yên Hoà, phường Thượng Đình và phường Hạ Đình.
Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM): phương pháp này sử dụng cách phỏng vấn và phát phiếu điều tra các gia đình tại địa điểm môi trường cần nghiên cứu nhằm tìm ra Mức giá sẵn lòng trả (WTP) của người dân cho công việc cải tạo môi trường sông Tô Lịch. Kết hợp sử dụng phương pháp CVM với các lý thuyết kinh tế môi trường khác để tìm ra phương pháp phù hợp cho việc đánh giá lợi ích của người dân khi được hưởng hàng hoá, dịch vụ công cộng.
Kết cấu đề tài: 
Đề tài có kết cấu gồm 3 chương
Chương I: Cơ sở lý luận xác định phí bảo vệ môi trường.

Chương II: Hiện trạng ô nhiễm nước và Dự án cải tạo hệ thống thoát nước Hà Nội.
Chương III: xác định mức phí từ dân cho việc cải tạo sông Tô Lịch

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN XÁC ĐỊNH PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

1.1. Khái niệm và các nguyên tắc trong xác định mức phí bảo vệ môi trường

1.1.1.Khái niệm

Pháp lệnh về phí và lệ phí của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội khoá 10 qui định: “Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ được quy định trong Danh mục phí”.
Danh mục phí thuộc lĩnh vực môi trường được qui định tại Mục A, Khoản 10 pháp lệnh gồm 11 khoản trong đó có các loại phí liên quan tới môi trường đặc biệt là phí bảo vệ môi trường. Phí bảo vệ môi trường được Nghị định số 57/2002/NĐ-CP của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Pháp lệnh phí và lệ phí qui định thành 6 loại như sau:
– Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.
– Phí bảo vệ môi trường đối với xăng dầu, khí thải từ việc sử dụng than đá và các loại nhiên liệu đốt khác.
– Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn.
– Phí bảo vệ môi trường về tiếng ồn.
– Phí bảo vệ môi trường đối với sân bay, nhà ga bến cảng, phí bảo vệ môi trường đối với khai thác dầu mỏ, khí đốt và khoáng sản khác.
Như vậy phí nói chung, phí bảo vệ môi trường nói riêng được hiểu là một khoản nghĩa vụ tài chính mà các tổ chức, cá nhân phải trả khi được hưởng một dịch vụ nào đó (chẳng hạn dịch vụ về môi trường). Để đảm bảo chất lượng môi trường sống cho các đối tượngxã hội, Nhà nước phải đầu tư một khoản tài chính lớn cho công tác bảo vệ môi trường. Do vậy, trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân là phải trả một phần chi phí nêu trên cho Nhà nước. Hiện nay, ở Việt Nam đang thực hiện các loại phí như: phí vệ sinh thành phố, phí về cung cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu trên đồng ruộng và đặc biệt đã có qui định cụ thể về mức và phương thức đóng góp Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Đây hầu hết là các loại phí dựa trên nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, ở Việt Nam hiện nay còn chưa quan tâm tới việc thiết lập các loại phí dựa trên cơ sở nguyên tắc “người hưởng lợi phải trả tiền”.
1.1.2. Các nguyên tắc trong xác định mức phí bảo vệ môi trường.

a. Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP) 

Nguyên tắc này bắt nguồn từ các sáng kiến do tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) đề ra vào các năm 1972 và 1974 . PPP “Tiêu chuẩn” năm 1972 có quan điểm những tác nhân gây ô nhiễm phải trả mọi chi phí cho hoạt động kiểm soát và phòng chống ô nhiễm. PPP “Mở rộng” năm 1974 chủ trương rằng, các tác nhân gây ô nhiễm thì ngoài việc tuân theo các chỉ tiêu đối với viềc gây ô nhiễm thì còn phải bồi thường thiệt hại cho những người bị thiệt hại do ô mhiễm này gây ra. Nói tóm lại, theo nguyên tắc PPP thì người gây ô nhiễm phải chịu mọi khoản chi phí để thực hiện các biện pháp làm giảm ô nhiễm do chính quyền tổ chức thực hiện, nhằm đảm bảo cho môi trường ở trong trạng thái chấp nhận được.
b. Nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiền (BPP)

Nguyên tắc BPP chủ trương rằng việc phòng ngừa ô nhiễm và cải thiện môi trường cần được bảo trợ bởi những người muốn thay đổi hoặc những người không phải trả giá cho việc gây ô nhiễm. Nguyên tắc BPP cũng tạo ra một khoản thu cho Nhà nước, mức phí tính theo đầu người càng cao và càng nhiều người nộp thì số tiền thu được càng nhiều. Số tiền thu được theo

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , , , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s