Xác định hoạt tính một số enzyme ngoại bào của vi khuẩn Lactic phân lập từ các sản phẩm lên men truyền thống tại Hà Nội


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Tổng quan về vi khuẩn lactic 3
1.1.1. Lịch sử phát hiện 3
1.1.2. Phân loại vi khuẩn lactic 4
1.1.3. Đặc điểm chung của vi khuẩn lactic 6
1.1.4. Ảnh hưởng của các điều kiện nuôi cấy đến vi khuẩn latic 8
1.1.2. Những ứng dụng của vi khuẩn lactic 11
1.2. Enzyme ngoại bào của vi khuẩn lactic 12
1.2.1. Khái niệm enzyme ngoại bào 12
1.2.2. Đặc điểm – tính chất 12
1.2.2. Một số enzyme ngoại bào (amylase, cellulase,protease) của vi khuẩn lactic 13
CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1. Mục tiêu nghiên cứu 22
2.2. Nội dung nghiên cứu 22
2.3. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 22
2.3.1. Vật liệu 22
2.3.2. Phương pháp tiến hành thí nghiệm 25
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
3.1. Phân lập và thuần khiết giống 35
3.2. Đặc điểm hình thái, sinh lý, sinh hóa 36
3.2.1. Xác định hoạt tính sinh axit lactic 36
3.2.2. Kết quả xác định hoạt tính amylase 37
3.2.3. Kết quả xác định hoạt tính cellulase 39
3.2.4. Kết quả xác định hoạt tính protease 40
3.3. Kết quả xác định kiểu lên men của các chủng vi khuẩn lactic 42
3.4. Kết quả nhuộm Gram và quan sát đặc điểm hình thái tế bào 43
3.5. Kết quả kiểm tra phản ứng catalase 47
3.6. Kết quả đo sinh khối tế bào (đo OD) 47
3.7. Kết quả kiểm tra hoạt tính kháng khuẩn của các chủng lactic 48
3.8. Kết quả kiểm tra khả năng di động của các chủng vi khuẩn lactic 50
3.9. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện nuôi cấy lên các chủng vi khuẩn lactic được tuyển chọn có hoạt tính enzyme ngoại bào 51
3.9.1. Ảnh hưởng của nguồn cacbon đến hoạt tính của các enzyme ngoại bào (amylase, cellulase, protease) 51
3.9.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ nuôi cấy đến khả năng sinh enzyme ngoại bào 52
3.9.3. Ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy đến khả năng sinh enzyme ngoại bào 54
3.10. Kết quả phân loại các chủng D2-12, M1-2, M4-3, qua phân tích trình tự gen mã hoá cho ARN 16S 55
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
Kết luận: 56
Kiến nghị: 56

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tinh bột, protein và cellulose là các sản phẩm tự nhiên có vai trò quan trọng, có nhiều ứng dụng trong sản xuất và trong đời sống con người. Trong chế biến tinh bột, cellulose, protein, mục đích của các nhà máy hay các cơ sở sản xuất chế biến là chuyển hóa chúng từ các hợp chất có phân tử lượng cao hệ số hấp thu kém, giá trị thương phẩm thấp thành các sản phẩm mới có hệ số hấp thu cao hơn, có giá trị thương phẩm cao, có khả năng ứng dụng rộng rãi vào nhiều ngành công nghiệp chế biến liên quan khác. Công đoạn quan trọng nhất để đạt được mục đích này là thuỷ phân chúng thành những hợp chất đơn giản, đó là các đường đơn, các axit amin. Tinh bột, cellulose, protein được thủy phân là nhờ vào ba nhóm enzyme chủ yếu là amylase, cellulase và protease, tuy nhiên trên thực tế việc tách chiết các enzyme này từ những nguồn nguyên liệu tương ứng là rất khó khăn và hiệu xuất thu được là không cao, vi dụ như amylase được tách chiết từ mầm của các loại ngũ cốc, cellulase được tách chiết từ dịch chiết dạ dày bò hay trong hạt ngũ cốc nảy mầm, còn protease cũng được tách chiết từ thực vật hay động vật (đu đủ, dạ dày bê,…) [2].
Chúng ta thấy rằng hai nguồn nguyên liệu thực vật và động vật không thể dùng để sản xuất các chế phẩm enzyme với quy mô công nghiệp bởi một số nhược điểm như; chu kỳ sinh trưởng của chúng dài, hai nguồn nguyên liệu này khó cải tạo. Trong khi đó cả ba loại enzyme trên đều được sản sinh bởi tế bào vi sinh vật, nguồn enzyme ở vi sinh vật vô cùng phong phú và có ở hầu hết các nhóm vi sinh vật như vi khuẩn, xạ khuẩn, nấm mốc,… [3].
Có thể nói vi sinh vật là nguồn tài nguyên phong phú, thích hợp nhất để sản xuất enzyme ở quy mô lớn dùng trong công nghiệp và đời sống. So với enzyme được tách chiết từ động vật, thực vật, enzyme được tách chiết từ vi sinh vật thể hiện nhiều ưu điểm nổi bật và có tính chất độc đáo, cũng như khắc phục được những khó khăn và hạn chế ở trên [3].
Tuy nhiên, các nghiên cứu và ứng dụng mới chỉ tập trung vào đối tượng chính là nấm men và vi khuẩn Bacillus mà chưa nghiên cứu đến vi khuẩn lactic, dựa trên những hiểu biết về vi khuẩn lactic thì đây là một nguồn thu enzyme từ vi sinh vật rất có ưu thế khi ứng dụng vào lên men, bởi lẽ vi khuẩn lactic là vi khuẩn sinh axit lactic nên có khả năng sinh trưởng bình thường trên môi trường có pH thấp, như vậy trong điều kiện môi trường axit cao hiệu suất lên men nhờ vi khuẩn lactic vẫn cao và đảm bảo chất lượng sản phẩm lên men. Những ưu điểm này của vi khuẩn lactic sẽ rất có lợi cho các ngành sản xuất thực phẩm và đồ uống lên men như sản xuất bia, rượu từ hạt ngũ cốc hay trong việc sản xuất các chế phẩm dùng trong chăn nuôi.
Xuất phát từ thực tế trên và tiềm năng sẵn có trong nước, đồng thời để phát hiện và lưu giữ những chủng vi khuẩn lactic có hoạt tính Sinh Học quý, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xác định hoạt tính một số enzyme ngoại bào của vi khuẩn Lactic phân lập từ các sản phẩm lên men truyền thống tại Hà Nội”.

Advertisements

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , , , , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s