chiến lược kinh doanh quốc tế của KFC


Đề 12: CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH TOÀN CẦU CỦA KFC
Đề cương chi tiết:
1. Giới thiệu chung về KFC
1.1. Quá trình hình thành và phát triển
1.2. Giới thiệu sản phẩm KFC
1.3. Giá trị thương hiệu
2. Phân tích môi trường kinh doanh quốc tế
2.1. Môi trường kinh tế
2.2. Môi trường chính trị – pháp luật
2.3. Môi trường văn hóa xã hội
2.4. Sự phát triển của công nghệ.
2.5. Đối thủ cạnh tranh.
2.6. KFC kinh doanh trên thị trường việt nam
3. Chiến lược kinh doanh quốc tế
3.1 Cách thức tạo ra giá trị
3.2 Chuỗi giá trị của doanh nghiệp
3.2.1 Hoạt động hỗ trợ
3.2.1.1 Quản trị nguyên vật liệu
3.2.1.2 Nguồn nhân lực
3.2.1.3 Hệ thống thông tin
3.2.1.4 Cơ sở hạ tầng
3.2.2 Hoạt động cơ sở
3.2.2.1 R& D
3.2.2.2 Sản xuất
3.2.2.3 Marketing và bán hàng
3.2.2.4 Dịch vụ sau bán
3.3 Vai trò của chiến lược
4. Kết luận
4.1 Đánh giá chiến lược của KFC
4.2 Khẳng định xu hướng kinh doanh quốc tế

http://***********/xem-tai-lieu/bao-…c-.387504.html
I. Giới thiệu sơ lược về KFC:
KFC Corporation, có trụ sở tại Louisville, Kentucky, là chuỗi nhà hàng chuyên về gà nổi tiếng nhất thế giới, đặc biệt về Original Recipe®, Extra Crispy®, Kentucky Grilled Chicken™ and Original Recipe
Mỗi ngày, hơn 12 triệu khách hàng được phục vụ tại nhà hàng KFC tại 109 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. KFC đưa hơn 5.200 nhà hàng ở Hoa Kỳ và hơn 15.000 đơn vị trên toàn thế giới vào hoạt động. KFC là nổi tiếng thế giới về công thức rán gà Original Recipe® – được tạo bởi cùng một công thức pha trộn bí mật của 11 loại thảo mộc và gia vị khác nhau do Đại tá Harland Sanders hoàn thiện hơn nửa thế kỷ trước. Khách hàng trên toàn cầu cũng có thể thưởng thức hơn 300 sản phẩm khác nhau – từ món Kentucky Grilled Chicken tại Hoa Kỳ tới bánh sandwich cá hồi tại Nhật Bản. KFC là một phần của Yum! Brands, Inc., công ty lớn nhất trong lĩnh vực kinh doanh nhà hàng với hơn 36,000 chi nhánh trên thế giới. Công ty này được xếp hạng # 239 trong danh sách Fortune 500, với doanh thu hơn 11 tỷ USD trong năm 2008.
1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển
Năm 1939 Colonel Harland Sander giới thiệu với thế giới mùi vị sản phẩm sáng tạo nhất của mình, công thức nguyên bản của món Gà rán Kentucky. Từ đó hàng triệu người trên thế giới đã rất thích thú đến nhà hàng của ông để thưởng thức các món ăn kèm theo bánh bích quy tươi và nóng. Colonel Harland Sandner – cha đẻ của KFC, người sáng tạo ra công thức nguyên bản của món Gà rán Kentucky.
Năm 1939, mùi vị sản phẩm của KFC được giới thiệu với thế giới, công thức nguyên bản của món Gà rán Kentucky.
Vào đầu những năm 50, Colonel Harland Sandner đã đi du lịch vòng quanh đất nước bằng ô tô từ nhà hàng này đến nhà hàng khác, nấu món gà cho các chủ nhà hàng để họ nhận xét =>nhà hàng trả cho ông một Niken khi họ kí hợp đồng bán thịt gà rán của ông.
Năm 1964 Sander có thêm hơn 600 đại lí được cấp quyền kinh doanh thịt gà ở Mỹ và Canada.
Cũng năm này KFC được chuyển nhượng cho cho Jonh Brown, thống đốc bang Kentucky, với giá 2 triệu USD.
Ngày 8/ 7/1971 Heublien Inc giành được KFC với 285 triệu đôla, Heublien đã phát triển hơn 3.500 nhà hàng rộng rãi trên toàn thế giới.
Tháng 1/1997, 4 nhãn hiệu KFC, Taco Bell và Pizza Hut hợp thành một công ty độc lập là Tricon Global Restaurants.
Vào 5/ 2002 công ty đổi tên thành Yum, là công ty lớn nhất thế giới về số lượng quán ăn, nhà hàng với gần 32.500 đại lí trên hơn 100 quốc gia trên thế giới.
Trong năm 2004 và 2005, KFC đã khởi nguồn thành công với chiến dịch mang tên “singing soul” tiếp bước từ sự thành công của chiến dịch “Soul Food” năm 2003 và 2004. Chiến lược “Soul Food” đã giúp KFC tạo được một hệ thống nhận diện thương hiệu hoàn chỉnh và xây dựng được một mối quan hệ tốt đẹp với khách hàng.
• Tập đoàn KFC đặt cơ sở tại Louisville, với một hệ thống nhà hàng các món gà phổ biến nhất thế giới.
• Ở Anh KFC đã xây dựng được1 hệ thống 680 kho hàng dùng cho dự trữ gà. Công ty KFC là một trong bốn thương hiệu hàng đầu của Yum toàn cầu. Hệ thống nhà hàng KFC là những nhà hàng công nghiệp bán lẻ quốc tế lớn mạnh nhất.
• Tăng trưởng 25% từ năm 1999 và giá trị hàng hoá bán ra lên đến 26.5 tỉ trong năm 2004 (theo Mintel).
• Đơn vị số lượng khách hàng của dịch vụ này đứng ở mức 177.6 nghìn vào năm 2003, tăng 6.8% so với năm 1999.
• Năm 2003 đã có 5.224 triệu vụ giao dịch, tăng 15.6% so với năm 1999 (theo Euromonitor).
• Thức ăn nhanh tiếp tục thể hiện sự tích cực của nó trong suốt giai đoạn vừa qua khi chiếm 53.6% các giao dịch về dịch vụ thực phẩm năm 2003, vượt mức thị phần của nó 52.2% vào năm 1999 (theo : Euromonitor)

1.2 Giới thiệu sản phẩm KFC
KFC là nhà hàng thức ăn nhanh chuyên về gà. Các sản phẩm tuy có cùng nguyên liệu nhưng lại được đa dạng hóa tốt tạo nên nhiều nhóm, loại và món ăn khác nhau. KFC chia thực đơn ra thành 10 mục với các món gà, cơm và rau trộn… đa dạng phong phú.
• Các món gà: Đây chính là thứ đã làm cho Colonel và KFC nổi tiếng. Từ những phần truyền thống cho đến những cải biến thì đều có đủ loại cho mọi người
• Plated meals: Món ăn phục vụ theo kiểu gia đình
• Flavors & snacks: Phần gà rán có phủ sốt chua cay tao nên sực khác biệt với các món truyền thống.
• Bowls: thức ăn đựng trong tô:
• Sandwiches: Nếu bạn không có đủ thời gian đề thưởng thức tại quán và muốn dung trên đường đi, hãy thử một phần sandwish ngon tuyệt.
• Desserts: Sau khi thỏa mãn cơn đói theo kiểu gia đình, hãy tự thưởng cho mình một bữa tráng miệng theo phong cách của KFC.
• Sides: KFC không chỉ phục vụ một chủng loại thức ăn duy nhất mà còn cung cấp các loại khác nhau cũng như những mòn kèm theo cho bữa ăn của thực khách thêm đa dạng và phong phú.
• Thức ăn cho trẻ con

• Salads: Đôi khi cũng cần chút “xanh” cho bữa ăn them dinh dưỡng. Món rau trộn làm đa dạng thêm một hương vị mới cho thực đơn của KFC
• Các loại hộp phần khác nhau:

Sản phẩm chủ yếu của KFC là Buckets, Burgers và Twisters và thịt gà Colonel Crispy Strips với những món ăn thêm mang phong cách quê hương. Nhưng vào năm 2001 KFC đã tiến hành lập kế hoạch phát triển sản phẩm mới cho mình và “Soul Food” chính là sản phẩm mới trong chiến lược đó.
Với những món chính yếu như trên, khẩu phần và hương vị của món ăn sẽ được thay đổi theo từng quốc gia với từng phong tục tập quán cũng như văn hóa khác nhau.

1.3 Giá trị thương hiệu
Mục tiêu của thương hiệu KFC là mang đến với người tiêu dùng một thương hiệu hàng đầu về thực phẩm, sáng tạo ra sự tươi sáng và vui nhộn cho tất cả mọi người ở mọi lứa tuổi. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, hiện nay KFC được hiểu như là một nhãn hiệu vui nhộn và bao hàm nhiều ý nghĩa. Giá trị chính của chiến lược “Soul Food” đã được khách hàng hiểu và chấp nhận.
Triết lý của “Soul Food” đã tạo nên một tác động thực sự trên toàn bộ hệ thống cửa hàng của KFC. Các cửa hàng được thiết kế theo nguyên lý triết học, “Soul Food” đã thể hiện chính nó trong tất cả mọi khía cạnh truyền thông, từ cửa sổ, áp phích quảng cáo đến bảng thực đơn và đồng phục của nhân viên. Các cửa hàng và thực đơn đã được chuẩn hóa, những màu đỏ tươi, xanh và vàng được thay thế bằng những màu sắc tự nhiên.
II: Phân tích môi trường kinh doanh quốc tế
2.1 Phân tích sơ lược một số các yếu tố môi trường thế giới chính:
2.1.1 Tình hình kinh tế, tài chính
Bức tranh kinh tế thế giới cuối năm 2008 cho đến đầu năm 2009 mang một màu sắc vô cùng ảm đạm . Bắt đầu từ sự suy sụp của lĩnh vực tài chính Mỹ, cuộc khủng hoảng đã lan rộng tới toàn bộ nền kinh tế thế giới. Không chỉ Mỹ, mà hàng loạt các nên kinh tế mạnh khác như Anh, Nhật, Singapore, Đức.. cũng đều tăng trưởng âm, kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh. Tuy nhiên, trước những nỗ lực kích thích kinh tế của chính phủ các nước, cuối năm 2009 nền kinh tế thế giới đã có những dấu hiệu phục hồi. Tuy vậy, sự phục hồi kinh tế toàn cầu vẫn chưa phải là một điều chắc chắn, nhiều nước có thu nhập thấp vẫn chịu tác động do nhu cầu nhập cảng giảm và lượng tiền kiều hối từ các công dân của họ ở nước ngoài gửi về cũng đã giảm đi, tỉ lệ thất nghiệp cao sẽ vẫn là một mối đe dọa đáng kể đối với nhiều nước.
2.1.2 Chính trị và luật pháp.
Quá trình toàn cầu hóa thúc đẩy sự hợp tác mạnh mẽ, mang lại sự liên hệ liên kết giữa các quốc gia do đó vai trò của chính phủ các nước vô cùng quan trọng. Chính phủ phải giảm dần sự can thiệp và tăng cường áp dụng các biện pháp theo chuẩn mực quốc tế và khu vực nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế quốc tế phát triển. Cụ thể Nhà nước tiến hành cắt giảm các công cụ biện pháp gậy hạn chế cho hoạt động TMQT như thuế quan, hạn ngạch, các thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng phát triển quan hệ trao đổi mua bán hàng hoá với nứơc khác, từng bước đưa vào thực hiện các chính sách và biện pháp quản lý như quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, chính sách chống bán phá giá, chính sách đảm bảo cạnh tranh và chống độc quyền, chính sách đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu hàng hoá theo các cam kết trong các hiệp định hợp tác đã ký kết và theo chuẩn mực chung của thế giới.

2.3 Văn hoá, xã hội.

Trong thời đại hội nhập ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ, đời sốngcủa con người ngày càng được nâng cao, nhu cầu hưởng thụ để thõa mãn nhu cầu cánhân cũng nhiều hơn. Nhưng đi đôi với điều đó, ngày nay con người cũng làm việcdưới nhiều áp lực hơn, do đó nhiều người bị cuốn vào guồng công việc và không cho phép mình ngơi nghỉ. Hiện nay con người làm nhiều hơn là nghỉ. Do vậy, một trào lưu mới, một cuộc cách mạng mới ra đời đáp ứng nhu cầu ăn uống gọn lẹ, nhanh chóng và đơn giản, nhiều năng lượng đã ra đời: sự xuất hiện củacác cửa hàng thức ăn nhanh với hambuger, khoai tây chiên,….
Tuy nhiên, cùng với xu hướng chung đó thì khẩu vị mỗi nơi cũng khác nhau.. Người Pháp có cách ăn uống rất cầu kỳ và chi tiết, như khi trong lúc ăn họ rất kỵ nhai có tiếng kêu.Nếu người Pháp rất coi trọng việc ăn uống và không có khái niệm ăn nhanh thì ngườiAnh lại được người ta biết đến với những món ăn đơn giản. Những món ăn của người Anh thường không cầu kỳ và ít gia vị. Còn người châu Á thích những món ăn thanh đạm, có chứa nhiều rau. Còn người Hàn Quốc thích ănnhiều những món ăn có nhiều gia vị mang tính nóng,chua ,cay như : chanh, ớt,tỏi ,kimchi v v.. Với người Ấn thì lại khác, gia vị được xem là yếu tố cực kỳ quan trọng để tạora một món ăn ngon, loại gia vị tạo hương thơm đặc trưng… Từ những phân tích trên có thể thấy phong cách ăn uống ở các quốc gia rất đa dạng vàđiều đó đã tạo nên một bức tranh ẩm thực đặc sắc.

2.4 Khoa học và công nghệ

Trong thời đại ngày nay, khoa học công nghệ đã trở thành thước đo cho sự phát triểncho tất cà các lĩnh vực. KHCN đóng góp rất lớn vào quá trình sản xuất ra của cải vậtchất, nâng cao chất lượng sản phẩm. KHCN chính là chìa khóa góp phần làm tăngtrưởng kinh tế và cải thiện nhiều mặt trong đời sống con người.
Ngoài ra, cũng thông qua sự phát triển KHCN mà ngày nay con người biết những thực phẩm hay những thứ tốt và không tốt cho sức khỏe mình mà từ đó có những thay đổivà chọn lựa tốt hơn cho sức khỏe của mình, loại bỏ đào thải dần những thứ không tốt cho sức khỏe, biết điều chỉnh một chế độ tập luyện để có sức khỏe tốt.
2.4 Đối thủ cạnh tranh.
2.4.1 Đối thủ cạnh tranh trực tiếp
2.4.2 Đối thủ cạnh tranh gián tiếp
2.5 KFC kinh doanh trên thị trường việt nam
Việt nam là một đất nước đang phát triển, đang trên đường hòa nhập cùng thế giới, đang du nhập những nét văn hóa phương Tây và đang dần hình thành một trào lưu văn hóa mới nhất là trong lĩnh vực ẩm thực. KFC chính thức bước vào thị trường Việt Nam năm 1998, trong bối cảnh ngành công nghiệp thức ăn nhanh Việt Nam còn khá mới mẻ. Bên cạnh việc vẫn theo đuổi con đường chiến lược vạch ra tại tổng công ty đó là thích nghi, hành động, đáp ứng tùy từng môi trường; là sự khác biệt hóa, KFC đã đang và sẽ có những chiến lược như thế nào để có thể tồn tại và phát triển đến ngày hôm nay trước các đối thủ là các ông trùm lớn trên thế giới như McDonal’s, Lotteria, Jolli Bee… cũng như các đối thủ địa phương như Phở24, Bamizon.
Khi bước chân vào thị trường Việt Nam, tại đây đã có sẵn truyền thống thức ăn nhanh như các món bún, phở, chè, xôi… được bày bán ở lề đường hoặc các quán bình dân có giá cả phù hợp với đại đa số người dân có thu nhập trung bình. Khi đó, KFC mang đến một món fastfood mới lạ, cách bài trí và phục vụ theo phong cách tây âu trong những nhà hàng, cửa hàng sang trọng, đánh vào một bộ phận có thu nhập khá trở lên. Đó là cách KFC tạo khác biệt với các đối thủ địa phương theo phong cách truyền thống kinh doanh các sản phẩm có tính thay thế. Còn với các ông lớn khác cùng loại sản phẩm như Lotteria thì sao? KFC đã có các chiến lược khác biệt khác để chiếm cảm tình của khách hàng. Chiến lược sản phẩm: Khi vào Việt Nam, KFC đã thay đổi khẩu vị, kích thước… cho phù hợp với ẩm thực của người tiêu dùng Việt Nam. Điều quan trọng trong chiến lược phát triển sản phẩm là tạo sự khác biệt hóa so với các sản phẩm khác. Với việc mở rộng sang các nguyên liệu tôm cá, một số nước giải khát thay thế sản phẩm nước ngọt Pepsi, KFC tạo sự thích thú cho giới thanh niên, từ đó có thể giảm sự nhàm chán ở nơi khách hàng khi chỉ độc quyền phục vụ chỉ mỗi món gà. Đặc biệt đối với giới thanh niên hiện nay luôn thích đi tìm cái mới, cái lạ. Với việc phát triển thêm các dòng sản phẩm mới, cải thiện dòng sản phẩm cũ, nhất là thay đổi loại dầu rán cùng với những nguyên liệu gà sạch đã giúp cho KFC nâng cao uy tín của mình trên thị trường Việt Nam, tăng thêm vị thế cạnh tranh trong thương trường quốc tế. Chiến lược giá: Trong những bước đầu tiên thâm nhập thị trường Việt Nam khi mà người dân còn quá xa lạ với thức ăn nhanh cùng mùi vị của nó, KFC sử dụng chiến thuật định giá thâm nhập thị trường, sử dụng giá thấp để thu hút thị phần lớn trước khi các đối thủ đuổi kịp. Khi đã có đủ số khách hàng trung thành sẽ tiến hành tăng giá.Và rõ ràng chiến lược này có hiệu quả khi năm 2006 KFC bắt đầu có lời và số lượng khách hàng và khách hàng trung thành tăng vọt. Đi cùng với sự cạnh tranh hiện nay trên thị trường của các hãng Lotteria hay Jolie Bee, KFC có những ý tưởng cạnh tranh mới lạ, ví dụ như kết hợp các phần ăn 2 người với giá khá mềm (trung bình là 69.000đ/phần) cùng những hoạt động đóng góp cho quỹ từ thiện hoặc các sự kiện lễ hội. Tết mang nhiều ý nghĩa. Chiến lược phân phối: Có thể nói ngày nay với nhịp sống đô thị hoá cao, con người ngày càng trở nên hối hả, bận rộn hơn với cuộc sông thì fastfood như là một giải pháp hữu hiệu để tiết kiệm thời gian. Đồng thời đánh vào tâm lí chuộng phong cách tây, chuyên nghiệp của thanh niên. KFC đã mở rộng mạng lưới của mình đấn khắp cả nước, trong đó chủ yếu là các thành phố lớn nơi thuận tiện di lại và có số người trẻ tuổi cao như: siêu thị, khu công nghiệp, trường đại học. Chiến lược xúc tiến: Khuyến mãi: Nắm được thị hiếu của thanh niên Việt Nam nói riêng cũng như người Việt Nam nói chung, KFC thường xuyên tung ra các chương trình khuyến mãi không chỉ trong ngày lễ mà còn trong ngày thường để thu hút khách hàng. Quảng cáo: Chiến lược quảng cáo của KFC là tập trung xây dựng hình ảnh thương hiệu, tạo sự quen thuộc cho người tiêu dùng về một cách ăn mới lạ nhưng nổi tiếng trên thế giới đó là : fastfood . KFC không chỉ quảng cáo trên các phương tiện in ấn như báo chí , tạp chí mà còn được quảng cáo trên các phương tiện điện tử như truyền hình, internet. Bên cạnh đó KFC còn tổ chức quảng cáo ngoài trời như : panô , áp-phích, bảng hiệu…
Với những chiến lược của mình, sau gần 12 năm có mặt tại Việt Nam, KFC đã gặt hái được những thành công nhất định và nó đang phát triển không ngừng, tiếp tục chinh phục các thị trường tiềm năng trên khắp các tỉnh, thành của cả nước.

III: Chiến lược kinh doanh quốc tế
3.1 Cách tạo lập giá trị
Danh tiếng: KFC là hệ thống nhà hàng phục vụ gà rán lớn nhất và nổi tiếng nhất trên thế giới với hơn 30.000 nhà hàng tại hơn 100 quốc gia, tạo việc làm cho hơn 200.000 người trên toàn thế giới.. Nổi tiếng với phương thức tẩm ướp đặc biệt từ 11 loại hương vị thảo mộc.
• Hệ thống phân phối: KFC có một chuỗi cửa hàng rộng khắp các quận ở thành phố Hồ Chí Minh và đội ngũ nhân viên giao hàng hùng hậu, giao hàng đến tận nhà trong thời gian nhanh nhất. Một kiểu phân phối hoàn hảo và tiện lợi cho người tiêu dùng. Dự kiến đến 2010 sẽ có 100 cửa hàng KFC trên khắp cả nước.
• Dịch vụ khách hàng: Phong cách phục vụ khá độc đáo, đặc điểm chung đó là tự phục vụ tạo sự bình đẳng, công bằng như nhau. Bên cạnh đó phong cách phục vụ lịch sự và chuyên nghiệp giúp bạn có được món ăn trong thời gian ngắn nhất, đúng với ý nghĩa là cửa hàng thức ăn nhanh.
• Ngoài ra KFC còn không ngừng cung cấp ngày càng nhiều lựa chọn cho khách hàng với một menu phong phú.
• Dịch vụ phụ: gửi xe miễn phí, giao hàng tận nơi mà không tính phí vận chuyển, tổ chức sinh nhật trọn gói với 6 thực đơn từ 400.000 – 500.000 đồng cho 10 trẻ em, trong đó bao gồm dẫn chương trình, trang trí, bong bóng, thiệp mời, mũ sinh nhật, giải thưởng cho các trò chơi.
• Nguồn lực tài chính: là một nhãn hiệu thuộc tập đoàn Yum hiện đang sở hữu bốn công ty KFC, Pizza Hut, Taco Bell và Long Jonh Siver là những thương hiệu hàng đầu của Yum toàn cầu! Những công ty này mở khoảng ba quán ăn mỗi ngày và là những nhà hàng công nghiệp bán lẻ quốc tế lớn mạnh nhất. Mỗi ngày, KFC đón tiếp gần 8 triệu khách hàng trên toàn thế giới. Do tính chất kinh doanh quy mô rộng lớn như vậy nên có thể nói tiềm lực tài chính của KFC là rất dồi dào.
• Vị trí kinh doanh: cửa hàng KFC đều sở hữu những vị trí rất đẹp, nằm ngay mặt tiền những con đường lớn, thông thoáng. Ngoài ra KFC còn chọn địa điểm đặt nhà hàng tại siêu thị và trung tâm thương mại, nơi có số lượng người mua sắm rất đông.
• KFC luôn đảm bảo chất lượng sản phẩm của mình là luôn luôn đạt mức cao nhất, làm hài lòng mọi khách hàng.
• KFC không những tạo ra sự khác biệt mà còn đa dạng hóa sản phẩm tạo nên thực đơn vô cùng phong phú.
3.2 Chuỗi giá trị của doanh nghiệp
3.2.1 Hoạt động hỗ trợ
3.2.1.1 Quản trị nguyên vật liệu
Sự hợp lý trong cung ứng nguyên vật liệu có ảnh hưởng như thế nào trong một hãng đa quốc qia. Trên thực tế nhà cung ứng, nhà tổ chức có thể tập trung hay phân tán việc cung ứng nguyên vật liệu. Với một giải pháp tập trung hóa, hầu hết các quyết định cung ứng nguyên vật liệu được thông qua trung tâm, trong đó có thể đảm bảo hiệu quả và gắn với mục tiêu của tập đoàn chung
giải pháp phi tập trung hóa ủy quyền hầu hết các quyết định cung ứng nguyên vật liệu tới các nhà máy riêng biệt của hãng, trung tâm đầu não có có trách nhiệm theo dõi chức năng. Lợi thế lớn nhất của phi tập trung hóa cho phép các nhóm cung ứng nguyên vật liệu trung tâm nâng cao hiểu biết và kỹ năng cầm thiết với các nhà cung ứng nước ngoài quan trọng và nhà máy cụ thể của họ từ đó cho phép đưa ra các quyết định đúng hơn
Ở KFC đã lựa chọn phương pháp thứ hai đó là giải pháp phi tập trung hóa ủy quyền hầu hết các quyết định cung ứng nguyên vật liệu tới các nhà máy riêng biệt của hãng tuy là ủy quyền cho các nhà máy riêng biệt dưới sự theo dõi của trung tâm đầu não nhưng ở KFC luôn có một tổ chức thường xuyên kiểm tra theo dõi. Ở KFC luôn tiến hành kiểm toán nhà cung cấp hàng năm, cụ thể là Kiểm toán STAR, là một chương trình độc quyền của YUM. Kiểm toán STAR bao gồm hai phiên bản, an toàn thực phẩm và Kiểm toán hệ thống chất lượng. Kiểm toán STAR được tiến hành bởi một công ty bên thứ ba kiểm toán quốc tế được chỉ định bởi YUM rất riêng biệt bằng đội ngũ công nghệ thực phẩm chuyên nghiệp từ Cục Quản lý Chất lượng KFC.KFC sản phẩm là nguyên liệu chính (gà, khoai tây nghiền nát, gia vị) được xác định bởi các nhà cung cấp trụ sở chính, vật liệu thường là nguyên liệu (bánh mì, nước giải khát nhuyễn, rau, đóng gói, vv). Hệ thống đánh giá này bao gồm năm lĩnh vực: chất lượng, tài chính, kỹ thuật, độ tin cậy, và thông tin liên lạc. Mỗi 3-6 tháng đánh giá và đánh giá thường xuyên trong suốt cả năm, từ bộ phận kỹ thuật của KFC và bộ phận mua sẽ đánh giá vào cuối kỳ tổng hợp sẽ quyết định nhà cung cấp và khối lượng kinh doanh trong năm tiếp theo. Hơn nữa KFC sử dụng nguyên liệu chất lượng hàng đầu từ các nhà cung cấp có uy tín như Nestle, UBF, Kerry chính điều đó đã tạo nên được thế mạnh cho công ty, như chúng ta đã biết KFC là công ty chuyên về thức ăn nhanh hàng đầu thế giới chính vì thế công ty luôn gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt từ các đối thủ tại nước mà công ty lựa chọn làm thị trường kinh doanh. Chính sự lựa chọn hình thức cung cấp nguyên vật liệu như thế giúp cho KFC có một cái nhìn tổng quát về thị trường riêng biệt, công ty có thể linh động tìm và lựa chọn nguồn nguyên liệu của mình phù hợp với tình hình hoạt động của từng chi nhánh riêng, và một điều đặc biệt là KFC luôn có một tổ chức kiểm tra nguồn nguyên liệu đầu vào cũng như quy trình xử lý chế biến thường xuyên, điều này tăng thêm chất lượng cũng như uy tín của KFC trên toàn thế giới
3.2.1.2. Nguồn nhân lực
Như chúng ta đã biết KFC là công ty chuyên kinh doanh thức ăn nhanh nổi tiếng trên toàn thế giới chính dưới hình thức nhượng quyền thương hiệu franchise chính vì thế mà nguồn nhân lực của KFC cũng có sự khác biệt so với các công ty nội địa. Kentucky Fried Chicken có thể được coi là một tổ chức toàn cầu bởi vì theo quan điểm của quan điểm toàn cầu, nó được định nghĩa là xây dựng đội ngũ nhân viên có văn hóa sản xuất nhằm tối đa hóa hiệu quả của đào tạo hiện có, làm tăng lưu giữ, và thích nghi với bất kỳ nền văn hóa bất cứ nơi nào trên thế giới. Kentucky Fried Chicken tin tưởng vào hoạt động có hiệu quả và tập trung vào chất lượng dịch vụ khách hàng mặc dù có sự khác biệt của văn hóa và ngôn ngữ nhưng nguyên tắc thành lập bởi người sáng lập ra món ăn nhanh vẫn là yếu tố quan trọng trong sự thành công của nhà hàng.KFC, Công ty sử dụng các chính sách người nước ngoài là một trong những chiến lược của họ để thiết lập các nhà hàng phù hợp với văn hóa của một quốc gia bởi vì những người nước ngoài quen thuộc với văn hóa được xem là một lợi thế để thâm nhập vào thị trường mục tiêu hiệu quả hơn.
3.2.1.3 Hệ thống thông tin
Thị trường châu Á, đang là thị trường tiềm năng, phát đạt nhất của KFC . Khi xâm nhập thị trường thì KFC tất nhiên sẽ phải đối mặt với các đối thủ cạnh tranh. Đối thủ cạnh tranh có thể là các sản phẩm truyền thống như phở 24,sản phẩm ăn nhanh khác (BBQ chicken, lotteria…) hay là đối thủ tiềm ẩn như Macdonald (hiện tại thì Macdonald chưa vào Việt Nam).KFC xác định đối thủ của mình từ đó đưa ra chiến lược phát triển thương hiệu một cách dần dần, từ từ tạo ra sự tin tưởng từ khách hàng đặc biệt qua chất lượng của sản phẩm. Song do là sản phẩm mang phong cách hiện đại nên khi vào Việt Nam thì KFC đã gặp nhiều khó khăn trong việc đưa sản phẩm của mình đến người tiêu dùng mặc dù cơ hội thị trường rất lớn. Đánh giá nhận thức của người tiêu dùng về các đối thủ cạnh tranh chính là đánh giá sự hiểu biết về các thông tin của đối thủ cạnh tranh. Việc đánh giá này thông qua các tiêu chí mà KFC đặt ra, và để thực hiện được điều đó thì việc nghiên cứu thông tin từ thị trường là rất cần thiết. Nghiên cứu thông tin thị trường bằng các công cụ như là: Bảng câu hỏi điều tra, sử dụng các tài liệu thứ cấp… Từ việc nghiên cứu thông tin từ thị trường sẽ đưa lại những kết quả giúp cho KFC có thể xác định được thị phần của mình cũng như của đối thủ cạnh tranh, biết được nguyên nhân người tiêu dùng không sử dụng sản phẩm của mình mà lại sử dụng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh…Từ đây để có những đánh giá chính xác vị trí của các đối thủ cạnh tranh. Hiện tại thì Lotteria chính là đối thủ tiêu biểu đe dọa đến thị phần của KFC.Bên cạnh đó các thương hiệu Việt (phở 24) cũng là những đối thủ của KFC.Còn đối với Macdonald thì có thể do thị trường chưa đủ hấp dẫn với “ông lớn” này. Nhưng không sớm thì muộn KFC cũng sẽ phải đối mặt với đối thủ lớn này tại thị trường Việt Nam. Qua số liệu nghiên cứu (thu thập được) thì KFC là sản phẩm được sử dụng nhiều nhất bởi nhóm học sinh,sinh viên là 78%,và với những người có thu nhập dưới 1 triệu đồng là 49%.Điều đó chứng tỏ giới trẻ là người tiêu dùng chính của các sản phẩm KFC và những người có thu nhập không cao lại là khách hàng chính của KFC.Cũng thông qua kết quả thu thập được thì nếu không mua sản phẩm KFC thì lotteria chiếm tới 45% niềm tin từ khách hàng từ đó để thấy được lotteria chính là đối thủ chính của KFC.
3.2.1.4 Cơ sở hạ tầng
KFC là hệ thống nhà hàng phục vụ gà rán lớn nhất với hơn 10.000 nhà hàng tại 92 quốc gia. KFC và hệ thống nhượng quyền đang tạo việc làm cho hơn 200.000 người trên toàn thế giới.
KFC phục vụ hơn 4.5 tỉ miếng gà hằng năm và khoảng 7 triệu thực khách một ngày trên toàn thế giới (dữ liệu năm 1998)
KFC thuộc YUM! Restaurants International (YRI) với các nhãn hiệu khác phục vụ các sản phẩm riêng biệt:
Xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1997, KFC hiện đã có 82 cửa hàng (48 tại Thành phố Hồ Chí Minh, 17 ở Hà Nội, 3 ở Đồng Nai,1 ở Cần Thơ,2 ở Vũng Tàu,1 ở Bà Rịa,2 ở Đà Nẵng,2 ở Huế,1 ở Buôn Mê Thuột,1 ở Bình Dương, 2 ở Nha Trang và 4 ở Hải Phòng, 1 ở Long Xuyên) . Từ năm 1997 khi KFC bắt đầu xuất hiện tại thị trường Việt Nam, KFC chịu lỗ trong suốt 7 năm cho tới năm 2006 khi người dân Việt Nam bắt đầu chuộng thức ăn nhanh vì sự tiện lợi của nó, lúc đó hệ thống chuỗi cửa hàng KFC thực sự bùng nổ tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Trong những bước đầu tiên thâm nhập thị trường Việt Nam khi mà người dân còn quá xa lạ với thức ăn nhanh cùng mùi vị của nó, KFC sử dụng chiến thuật định giá thâm nhập thị trường, sử dụng giá thấp để thu hút thị phần lớn trước khi các đối thủ đuổi kịp. Khi đã có đủ số khách hàng trung thành sẽ tiến hành tăng giá. Và rõ ràng chiến lược nàycó hiệu quả khi năm 2006 KFC bắt đầu có lời và số lượng khách hàng và khách hàng trung thành tăng vọt.
3.2.2 HOẠT ĐỘNG CƠ SỞ:
3.2.2.1. R & D:
Sản phẩm chủ yếu của KFC là Buckets, Burgers và Twisters và thịt gà Colonel Crispy Strips với những món ăn thêm mang phong cách quê hương. Nhưng vào năm 2001 KFC đã tiến hành lập kế hoạch phát triển sản phẩm mới cho mình và “Soul Food” chính là sản phẩm mới trong chiến lược đó. Vì vậy khi vào Việt Nam, KFC đã thay đổi khẩu vị, kích thước, mẫu mã cho phù hợp với ẩm thực của người tiêu dùng Việt Nam.
Điều quan trọng trong chiến lược nghiên cứu và phát triển sản phẩm là tạo sự khác biệt hóa so với các sản phẩm khác.Từ đó khách hàng mới cảm nhận được sản phẩm đặc trưng mang nhãn hiệu KFC. Bản thân sản phẩm của KFC đã mang trong nó sự khác biệt về sự pha trộn giữa mười một loại gia vị, điều này đã tạo nên hương vị đặc biệt cho món gà rán.
KFC không những tạo ra sự khác biệt mà còn đa dạng hóa sản phẩm tạo nên thực đơn vô cùng phong phú. Đồng thời danh mục sản phẩm được sắp xếp theo nhiều loại giúp cho ngưòi tiêu dùng dễ chọn lựa thức ăn ưa thích. Bên cạnh đó, một số món mới đã dược tung ra thị trường góp phần làm tăng thêm sự đa dạng trong danh mục thực đơn, một số nước giải khát thay thế sản phẩm nước ngọt Pepsi, KFC tạo sự thích thú và kích thích sự tò mò cho khách hàng, từ đó có thể giảm sự nhàm chán ở nơi khách hàng khi chỉ độc quyền phục vụ chỉ mỗi món gà. Thêm vào đó KFC cũng đầu tư vào nghiên cứu dầu rán, chọn loại dầu rán thích hợp để không làm ảnh hưởng tới sức khỏe của khách hàng mà vẫn giữ được hương vị.
3.2.2.2. Sản xuất:
KFC đang theo đuổi chiến lược xuyên quốc gia đang cố gắng đạt được đồng thời cảlợi thế chi phí thấp và khác biệt sản phẩm. Trong nền kinh tế cạnh tranh không biên giới như ngày nay thì việc đáp ứng địa phương sẽ rất khó để làm giảm chi phí, và ngược lại; tuy nhiên việc đòi hỏi cạnh tranh với những đối thủ khác trong ngành thứcăn nhanh như Mc’ Donald hay Pizza Hut, … đã thúc ép KFC tìm cách tiết kiệm chi phí tạo ra sản phẩm chất lượng tối ưu làm hài long các khách hàng.
Chiến lược của họ tập trung chuyển giao các hương vị cơ bản trên các tiêu chuẩn chung, lợi thế chung xây dựng đựơc của gà rán KFC và biến đổi, cung cấp những sản phẩm đa dạng, địa phương giữa các cửa hàng KFC trên toàn cầu.KFC trên toàn thế giới nhận định họ cạnh tranh bằng sự khác biệt hóa với giá trị“Soul Food”, đóng lại thời kỳ những thức ăn nhanh có hại, nhàm chán … mở ra giaiđoạn thức ăn nhanh có lợi cho sức khỏe, các bữa ăn có giá trị, có linh hồn. Phương thức chủ yếu mà KFC thâm nhập trên toàn thế giới đó là franchise nhượngquyền. Và cho đến ngày nay KFC là một trong những công ty lớn nổi tiếng trên thếgiới về việc nhượng quyền thương mại với hàng lọat tiêu chuẩn khắt khe nhằm xâydựng những chuỗi nhà hàng đồng nhất và chất lượng. Tuy nhiên, tùy theo từng nơi,vùng mà KFC thâm nhập thì cách thức họ có thể thay đổi. KFC Thâm nhập thị trường toàn cầu lựa chọn hình thức nhượng quyền thương hiệu Franchise với những chuỗi cửa hàng rộng khắp toàn cầu đồng nhất nhưng với các món ăn nhanh kiểu Mỹ xen trong hương vị, danh sách thực đơn đặc biệt mang đậm hương vị là của quê hương địa phương nơi mà KFC có mặt
3.2.2.3. Marketing và bán hàng:
* Chiến lược xúc tiến:
KFC thường xuyên tung ra các chương trình khuyến mãi không chỉ trong ngày lễ mà còn trong ngày thường. Bên cạnh đó KFC còn có các chương trình khuyến mãi trong năm hay liên kết với các nhãn hiệu nổi tiếng khác làm quà tặng khi sử dụng sản phẩm KFC làm tăng sự chú ý của khách hàng và kích thích họ sử dụng sản phẩm ngay lập tức khi có nhu cầu
* Quan hệ công chúng (PR):
KFC thường xuyên tung ra các chương trình hoạt động để quảng bá thương hiệu của mình. Chẳng hạn như ở Việt Nam nhân kỉ niệm 8 năm ngày thành lập chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh KFC tại VN, chuỗi nhà hàng này đã đóng góp tiền cho quỹ từ thiện của Hội bảo trợ trẻ em mồ côi, tàn tật quận Gò Vấp. ông Graham Allen – Chủ tịch Tập đoàn Yum Restaurant International, tập đoàn có nhiều thương hiệu nổi tiếng (trong đó có KFC), đã trao tặng số tiền 64 triệu đồng cho quỹ từ thiện của Hội bảo trợ trẻ em mồ côi – tàn tật Q.Gò Vấp (TP.HCM) nhằm góp phần vào hoạt động nuôi dạy trẻ bất hạnh.
Bên cạnh đó KFC cũng thành lập đội tình nguyện KFC Team tham gia các hoạt động từ thiện , giúp các trẻ em mồ côi, tàn tật ,….Tài trợ các giải thi đấu thể thao trong nước .
* Quảng cáo:
Chiến lược quảng cáo của KFC là tập trung xây dựng hình ảnh thương hiệu, tạo sự quen thuộc cho người tiêu dùng về một cách ăn mới lạ nhưng nổi tiếng trên thế giới đó là : fastfood . KFC không chỉ quảng cáo trên các phương tiện in ấn như báo chí , tạp chí mà còn được quảng cáo trên các phương tiện điện tử như truyền hình , internet. Bên cạnh đó KFC còn tổ chức quảng cáo ngoài trời như : panô , áp-phích, bảng hiệu , phát leaflet…

* Giá
Đi cùng với sự cạnh tranh hiện nay trên thị trường của các hãng Lotteria hay Jolie Bee, KFC có những ý tưởng cạnh tranh mới lạ, ví dụ như kết hợp các phần ăn 2 người với giá khá mềm, cùng những hoạt động quảng bá hình ảnh KFC ra toàn thế giới

* Phân phối:
Có thể nói ngày nay với nhịp sống đô thị hoá cao, con người ngày càng trở nên hối hả, bận rộn hơn với cuộc sông thì fastfood như là một giải pháp hữu hiệu để tiết kiệm thời gian. Đồng thời đánh vào tâm lý chuộng phong cách tây, chuyên nghiệp của thanh niên. KFC đã mở rộng mạng lưới của mình ra thế giới, trong đó chủ yếu là các thành phố lớn nơi thuận tiện đi lại và có số người trẻ tuổi cao như: siêu thị, khu công nghiệp. Hệ thống phân phối của KFC chủ yếu được mở rộng thông qua nhượng quyền.
3.2.2.3. Dịch vụ sau bán:
Sau khi thưởng thức KFC, khách hàng còn được hưởng các dịch vụ sau bán rất hấp dẫn do KFC đưa ra như:
– Các chương trình khuyến mãi được gửi tận tay khách hàng hay qua địa chỉ mail
– Các phiếu giảm giá, voucher cho lần đến tiếp theo của khách, tức là khi tới KFC lần sau khách hàng sẽ được miễn phí một phần như trong phiếu đã ghi với bất kỳ sản phẩm nào mà khách hàng lựa chọn
– Ngoài ra, còn có thái độ phục vụ của các nhân viên luôn tận tình chu đáo, tạo cho khách hàng có cảm giác thân thiện như họ đang ăn tại gia đình..
3.3 Vai trò của chiến lược
Chu kì sống của sản phẩm trải qua các giai đoạn : tung ra, phát triển, tăng trưởng, bão hòa, suy thoái, roi chết. Để có thể duy trì và kéo dài quá trinh tăng trưởng thì công ty cần có một chiến lược kinh doanh và cạnh tranh tốt vì đây là giai đoạn có rất nhiều đối thủ cạnh tranh mạnh.
Vạch ra, tìm ra được chiến lược là tìm ra được con đường đi của công ty cũng như sản phẩm mà công ty đang kinh doanh trên thị trường, khi chiến lược có hiệu quả sẽ đem lại thành công cho doanh nghiệp. Đối với công ty KFC cũng vậy.
Chiến lược cạnh tranh toàn cầu cũng như tại Việt Nam của KFC rất hiệu quả thể hiện qua sự thành công của KFC ngày nay. (lấy ví dụ thực tế trong bài ).
IV: Kết luận
4.1 Đánh giá chiến lược kinh doanh của KFC
Do những Điều kiện cạnh tranh gay gắt tạo sức ép giảm chi phí và sức ép từ nhu cầu địa phương cao. KFC buộc phải lựa chọn cho mình một chiến lược kinh doanh toàn cầu nhất quán và hiệu quả để cạnh tranh trong môi trường quốc tế. Qua tìm hiểu thông tin ta nhận thấy hiện nay chiến lược mà KFC đang sử dụng là chiến lược xuyên quốc gia
KFC đang theo đuổi chiến lược xuyên quốc gia cố gắng đạt được đồng thời cả lợi thế chi phí thấp và khác biệt về sản phẩm. Trong nền kinh tế cạnh tranh không biên giới như ngày nay thì việc đáp ứng địa phương sẽ rất khó khăn để làm giảm chi phí và ngược lại. Tuy nhiên việc đòi hỏi cạnh tranh với những đối thủ khác trong ngành thức ăn nhanh như Mc Doald hay Pizza Hut,… đã thúc ép KFC tìm cách tiết kiệm chi phí và tạo ra sản phẩm chất lượng tối ưu nhằm làm hài long khách hàng. Chiến lược của họ tập trung chuyển giao các hương vị cơ bản trên các tiêu chuẩn chung, lợi thế chung xây dựng được của gà rán KFC và biến đổi, cung cấp những sản phẩm đa dạng, địa phương giữa các cửa hàng KFC trên toàn cầu
KFC trên toàn thế giới nhận định họ cạnh tranh bằng sự khác biệt hóa với giá trị “Soul Food”, đóng lại thời kỳ những thức ăn nhanh có hại, nhàm chán, mở ra giai đoạn thức ăn có lợi cho sức khỏe, có giá trị có linh hồn.
Điều đó đã làm nên những thành công đáng kể của KFC trên toàn cầu từ khi thâm nhập trên thị trường thế giới bằng chiến lược xuyên quốc gia, như một minh chứng cho sự một thương hiệu toàn cầu: Gà rán Kentucky
• Mỗi ngày,. hơn 12 triệu khách hàng được phục vụ tại nhà hàng KFC tại 109 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
• KFC đưa hơn 5.200 nhà hàng ở Hoa Kỳ và hơn 15.000 đơn vị trên toàn thế giới vào hoạt động.
• KFC là nổi tiếng thế giới về công thức rán gà Original Recipe® – được tạo bởi cùng một công thức pha trộn bí mật của 11 loại thảo mộc và gia vị khác nhau do Đại tá Harland Sanders hoàn thiện hơn nửa thế kỷ trước.
Khách hàng trên toàn cầu cũng có thể thưởng thức hơn 300 sản phẩm khác nhau từ món Kentucky Grilled Chicken tại Hoa Kỳ tới bánh sandwich cá hồi tại Nhật Bản.
KFC là một phần của Yum! Brands, Inc., công ty lớn nhất trong lĩnh vực kinh doanh nhà hàng với hơn 36,000 chi nhánh trên thế giới. Công ty này được xếp hạng 239 trong danh sách Fortune 500, với doanh thu hơn 11 tỷ USD trong năm 2008.
Với chiến lược kinh doanh đúng đắn, tiến hành mở rộng thị trường kinh doanh sang nhiều nước khác nhau, KFC đã gặt hái được nhiều thành công nhất định. Bắt đầu xây dựng từ đầu những năm 40 của thế kỷ 20, cho đến ngày nay KFC đã trở thành một thương hiệu gạo cội điển hình trong ngành kinh doanh thức ăn nhanh với hình thức kinh doanh Franchise trên toàn thế giới. Đạt được điều đó là nhợ sự phấn đấu không ngừng nghỉ của chủ nhân KFC và toàn bộ đội ngũ nhân viên, bên cạnh đó không thể phủ nhận tầm quan trọng trong chiến lược kinh doanh quốc tế của KFC.
4.2 Khẳng định xu hướng kinh doanh quốc tếĐề 12: CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH TOÀN CẦU CỦA KFC
Đề cương chi tiết:
1. Giới thiệu chung về KFC
1.1. Quá trình hình thành và phát triển
1.2. Giới thiệu sản phẩm KFC
1.3. Giá trị thương hiệu
2. Phân tích môi trường kinh doanh quốc tế
2.1. Môi trường kinh tế
2.2. Môi trường chính trị – pháp luật
2.3. Môi trường văn hóa xã hội
2.4. Sự phát triển của công nghệ.
2.5. Đối thủ cạnh tranh.
2.6. KFC kinh doanh trên thị trường việt nam
3. Chiến lược kinh doanh quốc tế
3.1 Cách thức tạo ra giá trị
3.2 Chuỗi giá trị của doanh nghiệp
3.2.1 Hoạt động hỗ trợ
3.2.1.1 Quản trị nguyên vật liệu
3.2.1.2 Nguồn nhân lực
3.2.1.3 Hệ thống thông tin
3.2.1.4 Cơ sở hạ tầng
3.2.2 Hoạt động cơ sở
3.2.2.1 R& D
3.2.2.2 Sản xuất
3.2.2.3 Marketing và bán hàng
3.2.2.4 Dịch vụ sau bán
3.3 Vai trò của chiến lược
4. Kết luận
4.1 Đánh giá chiến lược của KFC
4.2 Khẳng định xu hướng kinh doanh quốc tế

http://***********/xem-tai-lieu/bao-…c-.387504.html
I. Giới thiệu sơ lược về KFC:
KFC Corporation, có trụ sở tại Louisville, Kentucky, là chuỗi nhà hàng chuyên về gà nổi tiếng nhất thế giới, đặc biệt về Original Recipe®, Extra Crispy®, Kentucky Grilled Chicken™ and Original Recipe
Mỗi ngày, hơn 12 triệu khách hàng được phục vụ tại nhà hàng KFC tại 109 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. KFC đưa hơn 5.200 nhà hàng ở Hoa Kỳ và hơn 15.000 đơn vị trên toàn thế giới vào hoạt động. KFC là nổi tiếng thế giới về công thức rán gà Original Recipe® – được tạo bởi cùng một công thức pha trộn bí mật của 11 loại thảo mộc và gia vị khác nhau do Đại tá Harland Sanders hoàn thiện hơn nửa thế kỷ trước. Khách hàng trên toàn cầu cũng có thể thưởng thức hơn 300 sản phẩm khác nhau – từ món Kentucky Grilled Chicken tại Hoa Kỳ tới bánh sandwich cá hồi tại Nhật Bản. KFC là một phần của Yum! Brands, Inc., công ty lớn nhất trong lĩnh vực kinh doanh nhà hàng với hơn 36,000 chi nhánh trên thế giới. Công ty này được xếp hạng # 239 trong danh sách Fortune 500, với doanh thu hơn 11 tỷ USD trong năm 2008.
1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển
Năm 1939 Colonel Harland Sander giới thiệu với thế giới mùi vị sản phẩm sáng tạo nhất của mình, công thức nguyên bản của món Gà rán Kentucky. Từ đó hàng triệu người trên thế giới đã rất thích thú đến nhà hàng của ông để thưởng thức các món ăn kèm theo bánh bích quy tươi và nóng. Colonel Harland Sandner – cha đẻ của KFC, người sáng tạo ra công thức nguyên bản của món Gà rán Kentucky.
Năm 1939, mùi vị sản phẩm của KFC được giới thiệu với thế giới, công thức nguyên bản của món Gà rán Kentucky.
Vào đầu những năm 50, Colonel Harland Sandner đã đi du lịch vòng quanh đất nước bằng ô tô từ nhà hàng này đến nhà hàng khác, nấu món gà cho các chủ nhà hàng để họ nhận xét =>nhà hàng trả cho ông một Niken khi họ kí hợp đồng bán thịt gà rán của ông.
Năm 1964 Sander có thêm hơn 600 đại lí được cấp quyền kinh doanh thịt gà ở Mỹ và Canada.
Cũng năm này KFC được chuyển nhượng cho cho Jonh Brown, thống đốc bang Kentucky, với giá 2 triệu USD.
Ngày 8/ 7/1971 Heublien Inc giành được KFC với 285 triệu đôla, Heublien đã phát triển hơn 3.500 nhà hàng rộng rãi trên toàn thế giới.
Tháng 1/1997, 4 nhãn hiệu KFC, Taco Bell và Pizza Hut hợp thành một công ty độc lập là Tricon Global Restaurants.
Vào 5/ 2002 công ty đổi tên thành Yum, là công ty lớn nhất thế giới về số lượng quán ăn, nhà hàng với gần 32.500 đại lí trên hơn 100 quốc gia trên thế giới.
Trong năm 2004 và 2005, KFC đã khởi nguồn thành công với chiến dịch mang tên “singing soul” tiếp bước từ sự thành công của chiến dịch “Soul Food” năm 2003 và 2004. Chiến lược “Soul Food” đã giúp KFC tạo được một hệ thống nhận diện thương hiệu hoàn chỉnh và xây dựng được một mối quan hệ tốt đẹp với khách hàng.
• Tập đoàn KFC đặt cơ sở tại Louisville, với một hệ thống nhà hàng các món gà phổ biến nhất thế giới.
• Ở Anh KFC đã xây dựng được1 hệ thống 680 kho hàng dùng cho dự trữ gà. Công ty KFC là một trong bốn thương hiệu hàng đầu của Yum toàn cầu. Hệ thống nhà hàng KFC là những nhà hàng công nghiệp bán lẻ quốc tế lớn mạnh nhất.
• Tăng trưởng 25% từ năm 1999 và giá trị hàng hoá bán ra lên đến 26.5 tỉ trong năm 2004 (theo Mintel).
• Đơn vị số lượng khách hàng của dịch vụ này đứng ở mức 177.6 nghìn vào năm 2003, tăng 6.8% so với năm 1999.
• Năm 2003 đã có 5.224 triệu vụ giao dịch, tăng 15.6% so với năm 1999 (theo Euromonitor).
• Thức ăn nhanh tiếp tục thể hiện sự tích cực của nó trong suốt giai đoạn vừa qua khi chiếm 53.6% các giao dịch về dịch vụ thực phẩm năm 2003, vượt mức thị phần của nó 52.2% vào năm 1999 (theo : Euromonitor)

1.2 Giới thiệu sản phẩm KFC
KFC là nhà hàng thức ăn nhanh chuyên về gà. Các sản phẩm tuy có cùng nguyên liệu nhưng lại được đa dạng hóa tốt tạo nên nhiều nhóm, loại và món ăn khác nhau. KFC chia thực đơn ra thành 10 mục với các món gà, cơm và rau trộn… đa dạng phong phú.
• Các món gà: Đây chính là thứ đã làm cho Colonel và KFC nổi tiếng. Từ những phần truyền thống cho đến những cải biến thì đều có đủ loại cho mọi người
• Plated meals: Món ăn phục vụ theo kiểu gia đình
• Flavors & snacks: Phần gà rán có phủ sốt chua cay tao nên sực khác biệt với các món truyền thống.
• Bowls: thức ăn đựng trong tô:
• Sandwiches: Nếu bạn không có đủ thời gian đề thưởng thức tại quán và muốn dung trên đường đi, hãy thử một phần sandwish ngon tuyệt.
• Desserts: Sau khi thỏa mãn cơn đói theo kiểu gia đình, hãy tự thưởng cho mình một bữa tráng miệng theo phong cách của KFC.
• Sides: KFC không chỉ phục vụ một chủng loại thức ăn duy nhất mà còn cung cấp các loại khác nhau cũng như những mòn kèm theo cho bữa ăn của thực khách thêm đa dạng và phong phú.
• Thức ăn cho trẻ con

• Salads: Đôi khi cũng cần chút “xanh” cho bữa ăn them dinh dưỡng. Món rau trộn làm đa dạng thêm một hương vị mới cho thực đơn của KFC
• Các loại hộp phần khác nhau:

Sản phẩm chủ yếu của KFC là Buckets, Burgers và Twisters và thịt gà Colonel Crispy Strips với những món ăn thêm mang phong cách quê hương. Nhưng vào năm 2001 KFC đã tiến hành lập kế hoạch phát triển sản phẩm mới cho mình và “Soul Food” chính là sản phẩm mới trong chiến lược đó.
Với những món chính yếu như trên, khẩu phần và hương vị của món ăn sẽ được thay đổi theo từng quốc gia với từng phong tục tập quán cũng như văn hóa khác nhau.

1.3 Giá trị thương hiệu
Mục tiêu của thương hiệu KFC là mang đến với người tiêu dùng một thương hiệu hàng đầu về thực phẩm, sáng tạo ra sự tươi sáng và vui nhộn cho tất cả mọi người ở mọi lứa tuổi. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, hiện nay KFC được hiểu như là một nhãn hiệu vui nhộn và bao hàm nhiều ý nghĩa. Giá trị chính của chiến lược “Soul Food” đã được khách hàng hiểu và chấp nhận.
Triết lý của “Soul Food” đã tạo nên một tác động thực sự trên toàn bộ hệ thống cửa hàng của KFC. Các cửa hàng được thiết kế theo nguyên lý triết học, “Soul Food” đã thể hiện chính nó trong tất cả mọi khía cạnh truyền thông, từ cửa sổ, áp phích quảng cáo đến bảng thực đơn và đồng phục của nhân viên. Các cửa hàng và thực đơn đã được chuẩn hóa, những màu đỏ tươi, xanh và vàng được thay thế bằng những màu sắc tự nhiên.
II: Phân tích môi trường kinh doanh quốc tế
2.1 Phân tích sơ lược một số các yếu tố môi trường thế giới chính:
2.1.1 Tình hình kinh tế, tài chính
Bức tranh kinh tế thế giới cuối năm 2008 cho đến đầu năm 2009 mang một màu sắc vô cùng ảm đạm . Bắt đầu từ sự suy sụp của lĩnh vực tài chính Mỹ, cuộc khủng hoảng đã lan rộng tới toàn bộ nền kinh tế thế giới. Không chỉ Mỹ, mà hàng loạt các nên kinh tế mạnh khác như Anh, Nhật, Singapore, Đức.. cũng đều tăng trưởng âm, kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh. Tuy nhiên, trước những nỗ lực kích thích kinh tế của chính phủ các nước, cuối năm 2009 nền kinh tế thế giới đã có những dấu hiệu phục hồi. Tuy vậy, sự phục hồi kinh tế toàn cầu vẫn chưa phải là một điều chắc chắn, nhiều nước có thu nhập thấp vẫn chịu tác động do nhu cầu nhập cảng giảm và lượng tiền kiều hối từ các công dân của họ ở nước ngoài gửi về cũng đã giảm đi, tỉ lệ thất nghiệp cao sẽ vẫn là một mối đe dọa đáng kể đối với nhiều nước.
2.1.2 Chính trị và luật pháp.
Quá trình toàn cầu hóa thúc đẩy sự hợp tác mạnh mẽ, mang lại sự liên hệ liên kết giữa các quốc gia do đó vai trò của chính phủ các nước vô cùng quan trọng. Chính phủ phải giảm dần sự can thiệp và tăng cường áp dụng các biện pháp theo chuẩn mực quốc tế và khu vực nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế quốc tế phát triển. Cụ thể Nhà nước tiến hành cắt giảm các công cụ biện pháp gậy hạn chế cho hoạt động TMQT như thuế quan, hạn ngạch, các thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng phát triển quan hệ trao đổi mua bán hàng hoá với nứơc khác, từng bước đưa vào thực hiện các chính sách và biện pháp quản lý như quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, chính sách chống bán phá giá, chính sách đảm bảo cạnh tranh và chống độc quyền, chính sách đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu hàng hoá theo các cam kết trong các hiệp định hợp tác đã ký kết và theo chuẩn mực chung của thế giới.

2.3 Văn hoá, xã hội.

Trong thời đại hội nhập ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ, đời sốngcủa con người ngày càng được nâng cao, nhu cầu hưởng thụ để thõa mãn nhu cầu cánhân cũng nhiều hơn. Nhưng đi đôi với điều đó, ngày nay con người cũng làm việcdưới nhiều áp lực hơn, do đó nhiều người bị cuốn vào guồng công việc và không cho phép mình ngơi nghỉ. Hiện nay con người làm nhiều hơn là nghỉ. Do vậy, một trào lưu mới, một cuộc cách mạng mới ra đời đáp ứng nhu cầu ăn uống gọn lẹ, nhanh chóng và đơn giản, nhiều năng lượng đã ra đời: sự xuất hiện củacác cửa hàng thức ăn nhanh với hambuger, khoai tây chiên,….
Tuy nhiên, cùng với xu hướng chung đó thì khẩu vị mỗi nơi cũng khác nhau.. Người Pháp có cách ăn uống rất cầu kỳ và chi tiết, như khi trong lúc ăn họ rất kỵ nhai có tiếng kêu.Nếu người Pháp rất coi trọng việc ăn uống và không có khái niệm ăn nhanh thì ngườiAnh lại được người ta biết đến với những món ăn đơn giản. Những món ăn của người Anh thường không cầu kỳ và ít gia vị. Còn người châu Á thích những món ăn thanh đạm, có chứa nhiều rau. Còn người Hàn Quốc thích ănnhiều những món ăn có nhiều gia vị mang tính nóng,chua ,cay như : chanh, ớt,tỏi ,kimchi v v.. Với người Ấn thì lại khác, gia vị được xem là yếu tố cực kỳ quan trọng để tạora một món ăn ngon, loại gia vị tạo hương thơm đặc trưng… Từ những phân tích trên có thể thấy phong cách ăn uống ở các quốc gia rất đa dạng vàđiều đó đã tạo nên một bức tranh ẩm thực đặc sắc.

2.4 Khoa học và công nghệ

Trong thời đại ngày nay, khoa học công nghệ đã trở thành thước đo cho sự phát triểncho tất cà các lĩnh vực. KHCN đóng góp rất lớn vào quá trình sản xuất ra của cải vậtchất, nâng cao chất lượng sản phẩm. KHCN chính là chìa khóa góp phần làm tăngtrưởng kinh tế và cải thiện nhiều mặt trong đời sống con người.
Ngoài ra, cũng thông qua sự phát triển KHCN mà ngày nay con người biết những thực phẩm hay những thứ tốt và không tốt cho sức khỏe mình mà từ đó có những thay đổivà chọn lựa tốt hơn cho sức khỏe của mình, loại bỏ đào thải dần những thứ không tốt cho sức khỏe, biết điều chỉnh một chế độ tập luyện để có sức khỏe tốt.
2.4 Đối thủ cạnh tranh.
2.4.1 Đối thủ cạnh tranh trực tiếp
2.4.2 Đối thủ cạnh tranh gián tiếp
2.5 KFC kinh doanh trên thị trường việt nam
Việt nam là một đất nước đang phát triển, đang trên đường hòa nhập cùng thế giới, đang du nhập những nét văn hóa phương Tây và đang dần hình thành một trào lưu văn hóa mới nhất là trong lĩnh vực ẩm thực. KFC chính thức bước vào thị trường Việt Nam năm 1998, trong bối cảnh ngành công nghiệp thức ăn nhanh Việt Nam còn khá mới mẻ. Bên cạnh việc vẫn theo đuổi con đường chiến lược vạch ra tại tổng công ty đó là thích nghi, hành động, đáp ứng tùy từng môi trường; là sự khác biệt hóa, KFC đã đang và sẽ có những chiến lược như thế nào để có thể tồn tại và phát triển đến ngày hôm nay trước các đối thủ là các ông trùm lớn trên thế giới như McDonal’s, Lotteria, Jolli Bee… cũng như các đối thủ địa phương như Phở24, Bamizon.
Khi bước chân vào thị trường Việt Nam, tại đây đã có sẵn truyền thống thức ăn nhanh như các món bún, phở, chè, xôi… được bày bán ở lề đường hoặc các quán bình dân có giá cả phù hợp với đại đa số người dân có thu nhập trung bình. Khi đó, KFC mang đến một món fastfood mới lạ, cách bài trí và phục vụ theo phong cách tây âu trong những nhà hàng, cửa hàng sang trọng, đánh vào một bộ phận có thu nhập khá trở lên. Đó là cách KFC tạo khác biệt với các đối thủ địa phương theo phong cách truyền thống kinh doanh các sản phẩm có tính thay thế. Còn với các ông lớn khác cùng loại sản phẩm như Lotteria thì sao? KFC đã có các chiến lược khác biệt khác để chiếm cảm tình của khách hàng. Chiến lược sản phẩm: Khi vào Việt Nam, KFC đã thay đổi khẩu vị, kích thước… cho phù hợp với ẩm thực của người tiêu dùng Việt Nam. Điều quan trọng trong chiến lược phát triển sản phẩm là tạo sự khác biệt hóa so với các sản phẩm khác. Với việc mở rộng sang các nguyên liệu tôm cá, một số nước giải khát thay thế sản phẩm nước ngọt Pepsi, KFC tạo sự thích thú cho giới thanh niên, từ đó có thể giảm sự nhàm chán ở nơi khách hàng khi chỉ độc quyền phục vụ chỉ mỗi món gà. Đặc biệt đối với giới thanh niên hiện nay luôn thích đi tìm cái mới, cái lạ. Với việc phát triển thêm các dòng sản phẩm mới, cải thiện dòng sản phẩm cũ, nhất là thay đổi loại dầu rán cùng với những nguyên liệu gà sạch đã giúp cho KFC nâng cao uy tín của mình trên thị trường Việt Nam, tăng thêm vị thế cạnh tranh trong thương trường quốc tế. Chiến lược giá: Trong những bước đầu tiên thâm nhập thị trường Việt Nam khi mà người dân còn quá xa lạ với thức ăn nhanh cùng mùi vị của nó, KFC sử dụng chiến thuật định giá thâm nhập thị trường, sử dụng giá thấp để thu hút thị phần lớn trước khi các đối thủ đuổi kịp. Khi đã có đủ số khách hàng trung thành sẽ tiến hành tăng giá.Và rõ ràng chiến lược này có hiệu quả khi năm 2006 KFC bắt đầu có lời và số lượng khách hàng và khách hàng trung thành tăng vọt. Đi cùng với sự cạnh tranh hiện nay trên thị trường của các hãng Lotteria hay Jolie Bee, KFC có những ý tưởng cạnh tranh mới lạ, ví dụ như kết hợp các phần ăn 2 người với giá khá mềm (trung bình là 69.000đ/phần) cùng những hoạt động đóng góp cho quỹ từ thiện hoặc các sự kiện lễ hội. Tết mang nhiều ý nghĩa. Chiến lược phân phối: Có thể nói ngày nay với nhịp sống đô thị hoá cao, con người ngày càng trở nên hối hả, bận rộn hơn với cuộc sông thì fastfood như là một giải pháp hữu hiệu để tiết kiệm thời gian. Đồng thời đánh vào tâm lí chuộng phong cách tây, chuyên nghiệp của thanh niên. KFC đã mở rộng mạng lưới của mình đấn khắp cả nước, trong đó chủ yếu là các thành phố lớn nơi thuận tiện di lại và có số người trẻ tuổi cao như: siêu thị, khu công nghiệp, trường đại học. Chiến lược xúc tiến: Khuyến mãi: Nắm được thị hiếu của thanh niên Việt Nam nói riêng cũng như người Việt Nam nói chung, KFC thường xuyên tung ra các chương trình khuyến mãi không chỉ trong ngày lễ mà còn trong ngày thường để thu hút khách hàng. Quảng cáo: Chiến lược quảng cáo của KFC là tập trung xây dựng hình ảnh thương hiệu, tạo sự quen thuộc cho người tiêu dùng về một cách ăn mới lạ nhưng nổi tiếng trên thế giới đó là : fastfood . KFC không chỉ quảng cáo trên các phương tiện in ấn như báo chí , tạp chí mà còn được quảng cáo trên các phương tiện điện tử như truyền hình, internet. Bên cạnh đó KFC còn tổ chức quảng cáo ngoài trời như : panô , áp-phích, bảng hiệu…
Với những chiến lược của mình, sau gần 12 năm có mặt tại Việt Nam, KFC đã gặt hái được những thành công nhất định và nó đang phát triển không ngừng, tiếp tục chinh phục các thị trường tiềm năng trên khắp các tỉnh, thành của cả nước.

III: Chiến lược kinh doanh quốc tế
3.1 Cách tạo lập giá trị
Danh tiếng: KFC là hệ thống nhà hàng phục vụ gà rán lớn nhất và nổi tiếng nhất trên thế giới với hơn 30.000 nhà hàng tại hơn 100 quốc gia, tạo việc làm cho hơn 200.000 người trên toàn thế giới.. Nổi tiếng với phương thức tẩm ướp đặc biệt từ 11 loại hương vị thảo mộc.
• Hệ thống phân phối: KFC có một chuỗi cửa hàng rộng khắp các quận ở thành phố Hồ Chí Minh và đội ngũ nhân viên giao hàng hùng hậu, giao hàng đến tận nhà trong thời gian nhanh nhất. Một kiểu phân phối hoàn hảo và tiện lợi cho người tiêu dùng. Dự kiến đến 2010 sẽ có 100 cửa hàng KFC trên khắp cả nước.
• Dịch vụ khách hàng: Phong cách phục vụ khá độc đáo, đặc điểm chung đó là tự phục vụ tạo sự bình đẳng, công bằng như nhau. Bên cạnh đó phong cách phục vụ lịch sự và chuyên nghiệp giúp bạn có được món ăn trong thời gian ngắn nhất, đúng với ý nghĩa là cửa hàng thức ăn nhanh.
• Ngoài ra KFC còn không ngừng cung cấp ngày càng nhiều lựa chọn cho khách hàng với một menu phong phú.
• Dịch vụ phụ: gửi xe miễn phí, giao hàng tận nơi mà không tính phí vận chuyển, tổ chức sinh nhật trọn gói với 6 thực đơn từ 400.000 – 500.000 đồng cho 10 trẻ em, trong đó bao gồm dẫn chương trình, trang trí, bong bóng, thiệp mời, mũ sinh nhật, giải thưởng cho các trò chơi.
• Nguồn lực tài chính: là một nhãn hiệu thuộc tập đoàn Yum hiện đang sở hữu bốn công ty KFC, Pizza Hut, Taco Bell và Long Jonh Siver là những thương hiệu hàng đầu của Yum toàn cầu! Những công ty này mở khoảng ba quán ăn mỗi ngày và là những nhà hàng công nghiệp bán lẻ quốc tế lớn mạnh nhất. Mỗi ngày, KFC đón tiếp gần 8 triệu khách hàng trên toàn thế giới. Do tính chất kinh doanh quy mô rộng lớn như vậy nên có thể nói tiềm lực tài chính của KFC là rất dồi dào.
• Vị trí kinh doanh: cửa hàng KFC đều sở hữu những vị trí rất đẹp, nằm ngay mặt tiền những con đường lớn, thông thoáng. Ngoài ra KFC còn chọn địa điểm đặt nhà hàng tại siêu thị và trung tâm thương mại, nơi có số lượng người mua sắm rất đông.
• KFC luôn đảm bảo chất lượng sản phẩm của mình là luôn luôn đạt mức cao nhất, làm hài lòng mọi khách hàng.
• KFC không những tạo ra sự khác biệt mà còn đa dạng hóa sản phẩm tạo nên thực đơn vô cùng phong phú.
3.2 Chuỗi giá trị của doanh nghiệp
3.2.1 Hoạt động hỗ trợ
3.2.1.1 Quản trị nguyên vật liệu
Sự hợp lý trong cung ứng nguyên vật liệu có ảnh hưởng như thế nào trong một hãng đa quốc qia. Trên thực tế nhà cung ứng, nhà tổ chức có thể tập trung hay phân tán việc cung ứng nguyên vật liệu. Với một giải pháp tập trung hóa, hầu hết các quyết định cung ứng nguyên vật liệu được thông qua trung tâm, trong đó có thể đảm bảo hiệu quả và gắn với mục tiêu của tập đoàn chung
giải pháp phi tập trung hóa ủy quyền hầu hết các quyết định cung ứng nguyên vật liệu tới các nhà máy riêng biệt của hãng, trung tâm đầu não có có trách nhiệm theo dõi chức năng. Lợi thế lớn nhất của phi tập trung hóa cho phép các nhóm cung ứng nguyên vật liệu trung tâm nâng cao hiểu biết và kỹ năng cầm thiết với các nhà cung ứng nước ngoài quan trọng và nhà máy cụ thể của họ từ đó cho phép đưa ra các quyết định đúng hơn
Ở KFC đã lựa chọn phương pháp thứ hai đó là giải pháp phi tập trung hóa ủy quyền hầu hết các quyết định cung ứng nguyên vật liệu tới các nhà máy riêng biệt của hãng tuy là ủy quyền cho các nhà máy riêng biệt dưới sự theo dõi của trung tâm đầu não nhưng ở KFC luôn có một tổ chức thường xuyên kiểm tra theo dõi. Ở KFC luôn tiến hành kiểm toán nhà cung cấp hàng năm, cụ thể là Kiểm toán STAR, là một chương trình độc quyền của YUM. Kiểm toán STAR bao gồm hai phiên bản, an toàn thực phẩm và Kiểm toán hệ thống chất lượng. Kiểm toán STAR được tiến hành bởi một công ty bên thứ ba kiểm toán quốc tế được chỉ định bởi YUM rất riêng biệt bằng đội ngũ công nghệ thực phẩm chuyên nghiệp từ Cục Quản lý Chất lượng KFC.KFC sản phẩm là nguyên liệu chính (gà, khoai tây nghiền nát, gia vị) được xác định bởi các nhà cung cấp trụ sở chính, vật liệu thường là nguyên liệu (bánh mì, nước giải khát nhuyễn, rau, đóng gói, vv). Hệ thống đánh giá này bao gồm năm lĩnh vực: chất lượng, tài chính, kỹ thuật, độ tin cậy, và thông tin liên lạc. Mỗi 3-6 tháng đánh giá và đánh giá thường xuyên trong suốt cả năm, từ bộ phận kỹ thuật của KFC và bộ phận mua sẽ đánh giá vào cuối kỳ tổng hợp sẽ quyết định nhà cung cấp và khối lượng kinh doanh trong năm tiếp theo. Hơn nữa KFC sử dụng nguyên liệu chất lượng hàng đầu từ các nhà cung cấp có uy tín như Nestle, UBF, Kerry chính điều đó đã tạo nên được thế mạnh cho công ty, như chúng ta đã biết KFC là công ty chuyên về thức ăn nhanh hàng đầu thế giới chính vì thế công ty luôn gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt từ các đối thủ tại nước mà công ty lựa chọn làm thị trường kinh doanh. Chính sự lựa chọn hình thức cung cấp nguyên vật liệu như thế giúp cho KFC có một cái nhìn tổng quát về thị trường riêng biệt, công ty có thể linh động tìm và lựa chọn nguồn nguyên liệu của mình phù hợp với tình hình hoạt động của từng chi nhánh riêng, và một điều đặc biệt là KFC luôn có một tổ chức kiểm tra nguồn nguyên liệu đầu vào cũng như quy trình xử lý chế biến thường xuyên, điều này tăng thêm chất lượng cũng như uy tín của KFC trên toàn thế giới
3.2.1.2. Nguồn nhân lực
Như chúng ta đã biết KFC là công ty chuyên kinh doanh thức ăn nhanh nổi tiếng trên toàn thế giới chính dưới hình thức nhượng quyền thương hiệu franchise chính vì thế mà nguồn nhân lực của KFC cũng có sự khác biệt so với các công ty nội địa. Kentucky Fried Chicken có thể được coi là một tổ chức toàn cầu bởi vì theo quan điểm của quan điểm toàn cầu, nó được định nghĩa là xây dựng đội ngũ nhân viên có văn hóa sản xuất nhằm tối đa hóa hiệu quả của đào tạo hiện có, làm tăng lưu giữ, và thích nghi với bất kỳ nền văn hóa bất cứ nơi nào trên thế giới. Kentucky Fried Chicken tin tưởng vào hoạt động có hiệu quả và tập trung vào chất lượng dịch vụ khách hàng mặc dù có sự khác biệt của văn hóa và ngôn ngữ nhưng nguyên tắc thành lập bởi người sáng lập ra món ăn nhanh vẫn là yếu tố quan trọng trong sự thành công của nhà hàng.KFC, Công ty sử dụng các chính sách người nước ngoài là một trong những chiến lược của họ để thiết lập các nhà hàng phù hợp với văn hóa của một quốc gia bởi vì những người nước ngoài quen thuộc với văn hóa được xem là một lợi thế để thâm nhập vào thị trường mục tiêu hiệu quả hơn.
3.2.1.3 Hệ thống thông tin
Thị trường châu Á, đang là thị trường tiềm năng, phát đạt nhất của KFC . Khi xâm nhập thị trường thì KFC tất nhiên sẽ phải đối mặt với các đối thủ cạnh tranh. Đối thủ cạnh tranh có thể là các sản phẩm truyền thống như phở 24,sản phẩm ăn nhanh khác (BBQ chicken, lotteria…) hay là đối thủ tiềm ẩn như Macdonald (hiện tại thì Macdonald chưa vào Việt Nam).KFC xác định đối thủ của mình từ đó đưa ra chiến lược phát triển thương hiệu một cách dần dần, từ từ tạo ra sự tin tưởng từ khách hàng đặc biệt qua chất lượng của sản phẩm. Song do là sản phẩm mang phong cách hiện đại nên khi vào Việt Nam thì KFC đã gặp nhiều khó khăn trong việc đưa sản phẩm của mình đến người tiêu dùng mặc dù cơ hội thị trường rất lớn. Đánh giá nhận thức của người tiêu dùng về các đối thủ cạnh tranh chính là đánh giá sự hiểu biết về các thông tin của đối thủ cạnh tranh. Việc đánh giá này thông qua các tiêu chí mà KFC đặt ra, và để thực hiện được điều đó thì việc nghiên cứu thông tin từ thị trường là rất cần thiết. Nghiên cứu thông tin thị trường bằng các công cụ như là: Bảng câu hỏi điều tra, sử dụng các tài liệu thứ cấp… Từ việc nghiên cứu thông tin từ thị trường sẽ đưa lại những kết quả giúp cho KFC có thể xác định được thị phần của mình cũng như của đối thủ cạnh tranh, biết được nguyên nhân người tiêu dùng không sử dụng sản phẩm của mình mà lại sử dụng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh…Từ đây để có những đánh giá chính xác vị trí của các đối thủ cạnh tranh. Hiện tại thì Lotteria chính là đối thủ tiêu biểu đe dọa đến thị phần của KFC.Bên cạnh đó các thương hiệu Việt (phở 24) cũng là những đối thủ của KFC.Còn đối với Macdonald thì có thể do thị trường chưa đủ hấp dẫn với “ông lớn” này. Nhưng không sớm thì muộn KFC cũng sẽ phải đối mặt với đối thủ lớn này tại thị trường Việt Nam. Qua số liệu nghiên cứu (thu thập được) thì KFC là sản phẩm được sử dụng nhiều nhất bởi nhóm học sinh,sinh viên là 78%,và với những người có thu nhập dưới 1 triệu đồng là 49%.Điều đó chứng tỏ giới trẻ là người tiêu dùng chính của các sản phẩm KFC và những người có thu nhập không cao lại là khách hàng chính của KFC.Cũng thông qua kết quả thu thập được thì nếu không mua sản phẩm KFC thì lotteria chiếm tới 45% niềm tin từ khách hàng từ đó để thấy được lotteria chính là đối thủ chính của KFC.
3.2.1.4 Cơ sở hạ tầng
KFC là hệ thống nhà hàng phục vụ gà rán lớn nhất với hơn 10.000 nhà hàng tại 92 quốc gia. KFC và hệ thống nhượng quyền đang tạo việc làm cho hơn 200.000 người trên toàn thế giới.
KFC phục vụ hơn 4.5 tỉ miếng gà hằng năm và khoảng 7 triệu thực khách một ngày trên toàn thế giới (dữ liệu năm 1998)
KFC thuộc YUM! Restaurants International (YRI) với các nhãn hiệu khác phục vụ các sản phẩm riêng biệt:
Xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1997, KFC hiện đã có 82 cửa hàng (48 tại Thành phố Hồ Chí Minh, 17 ở Hà Nội, 3 ở Đồng Nai,1 ở Cần Thơ,2 ở Vũng Tàu,1 ở Bà Rịa,2 ở Đà Nẵng,2 ở Huế,1 ở Buôn Mê Thuột,1 ở Bình Dương, 2 ở Nha Trang và 4 ở Hải Phòng, 1 ở Long Xuyên) . Từ năm 1997 khi KFC bắt đầu xuất hiện tại thị trường Việt Nam, KFC chịu lỗ trong suốt 7 năm cho tới năm 2006 khi người dân Việt Nam bắt đầu chuộng thức ăn nhanh vì sự tiện lợi của nó, lúc đó hệ thống chuỗi cửa hàng KFC thực sự bùng nổ tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Trong những bước đầu tiên thâm nhập thị trường Việt Nam khi mà người dân còn quá xa lạ với thức ăn nhanh cùng mùi vị của nó, KFC sử dụng chiến thuật định giá thâm nhập thị trường, sử dụng giá thấp để thu hút thị phần lớn trước khi các đối thủ đuổi kịp. Khi đã có đủ số khách hàng trung thành sẽ tiến hành tăng giá. Và rõ ràng chiến lược nàycó hiệu quả khi năm 2006 KFC bắt đầu có lời và số lượng khách hàng và khách hàng trung thành tăng vọt.
3.2.2 HOẠT ĐỘNG CƠ SỞ:
3.2.2.1. R & D:
Sản phẩm chủ yếu của KFC là Buckets, Burgers và Twisters và thịt gà Colonel Crispy Strips với những món ăn thêm mang phong cách quê hương. Nhưng vào năm 2001 KFC đã tiến hành lập kế hoạch phát triển sản phẩm mới cho mình và “Soul Food” chính là sản phẩm mới trong chiến lược đó. Vì vậy khi vào Việt Nam, KFC đã thay đổi khẩu vị, kích thước, mẫu mã cho phù hợp với ẩm thực của người tiêu dùng Việt Nam.
Điều quan trọng trong chiến lược nghiên cứu và phát triển sản phẩm là tạo sự khác biệt hóa so với các sản phẩm khác.Từ đó khách hàng mới cảm nhận được sản phẩm đặc trưng mang nhãn hiệu KFC. Bản thân sản phẩm của KFC đã mang trong nó sự khác biệt về sự pha trộn giữa mười một loại gia vị, điều này đã tạo nên hương vị đặc biệt cho món gà rán.
KFC không những tạo ra sự khác biệt mà còn đa dạng hóa sản phẩm tạo nên thực đơn vô cùng phong phú. Đồng thời danh mục sản phẩm được sắp xếp theo nhiều loại giúp cho ngưòi tiêu dùng dễ chọn lựa thức ăn ưa thích. Bên cạnh đó, một số món mới đã dược tung ra thị trường góp phần làm tăng thêm sự đa dạng trong danh mục thực đơn, một số nước giải khát thay thế sản phẩm nước ngọt Pepsi, KFC tạo sự thích thú và kích thích sự tò mò cho khách hàng, từ đó có thể giảm sự nhàm chán ở nơi khách hàng khi chỉ độc quyền phục vụ chỉ mỗi món gà. Thêm vào đó KFC cũng đầu tư vào nghiên cứu dầu rán, chọn loại dầu rán thích hợp để không làm ảnh hưởng tới sức khỏe của khách hàng mà vẫn giữ được hương vị.
3.2.2.2. Sản xuất:
KFC đang theo đuổi chiến lược xuyên quốc gia đang cố gắng đạt được đồng thời cảlợi thế chi phí thấp và khác biệt sản phẩm. Trong nền kinh tế cạnh tranh không biên giới như ngày nay thì việc đáp ứng địa phương sẽ rất khó để làm giảm chi phí, và ngược lại; tuy nhiên việc đòi hỏi cạnh tranh với những đối thủ khác trong ngành thứcăn nhanh như Mc’ Donald hay Pizza Hut, … đã thúc ép KFC tìm cách tiết kiệm chi phí tạo ra sản phẩm chất lượng tối ưu làm hài long các khách hàng.
Chiến lược của họ tập trung chuyển giao các hương vị cơ bản trên các tiêu chuẩn chung, lợi thế chung xây dựng đựơc của gà rán KFC và biến đổi, cung cấp những sản phẩm đa dạng, địa phương giữa các cửa hàng KFC trên toàn cầu.KFC trên toàn thế giới nhận định họ cạnh tranh bằng sự khác biệt hóa với giá trị“Soul Food”, đóng lại thời kỳ những thức ăn nhanh có hại, nhàm chán … mở ra giaiđoạn thức ăn nhanh có lợi cho sức khỏe, các bữa ăn có giá trị, có linh hồn. Phương thức chủ yếu mà KFC thâm nhập trên toàn thế giới đó là franchise nhượngquyền. Và cho đến ngày nay KFC là một trong những công ty lớn nổi tiếng trên thếgiới về việc nhượng quyền thương mại với hàng lọat tiêu chuẩn khắt khe nhằm xâydựng những chuỗi nhà hàng đồng nhất và chất lượng. Tuy nhiên, tùy theo từng nơi,vùng mà KFC thâm nhập thì cách thức họ có thể thay đổi. KFC Thâm nhập thị trường toàn cầu lựa chọn hình thức nhượng quyền thương hiệu Franchise với những chuỗi cửa hàng rộng khắp toàn cầu đồng nhất nhưng với các món ăn nhanh kiểu Mỹ xen trong hương vị, danh sách thực đơn đặc biệt mang đậm hương vị là của quê hương địa phương nơi mà KFC có mặt
3.2.2.3. Marketing và bán hàng:
* Chiến lược xúc tiến:
KFC thường xuyên tung ra các chương trình khuyến mãi không chỉ trong ngày lễ mà còn trong ngày thường. Bên cạnh đó KFC còn có các chương trình khuyến mãi trong năm hay liên kết với các nhãn hiệu nổi tiếng khác làm quà tặng khi sử dụng sản phẩm KFC làm tăng sự chú ý của khách hàng và kích thích họ sử dụng sản phẩm ngay lập tức khi có nhu cầu
* Quan hệ công chúng (PR):
KFC thường xuyên tung ra các chương trình hoạt động để quảng bá thương hiệu của mình. Chẳng hạn như ở Việt Nam nhân kỉ niệm 8 năm ngày thành lập chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh KFC tại VN, chuỗi nhà hàng này đã đóng góp tiền cho quỹ từ thiện của Hội bảo trợ trẻ em mồ côi, tàn tật quận Gò Vấp. ông Graham Allen – Chủ tịch Tập đoàn Yum Restaurant International, tập đoàn có nhiều thương hiệu nổi tiếng (trong đó có KFC), đã trao tặng số tiền 64 triệu đồng cho quỹ từ thiện của Hội bảo trợ trẻ em mồ côi – tàn tật Q.Gò Vấp (TP.HCM) nhằm góp phần vào hoạt động nuôi dạy trẻ bất hạnh.
Bên cạnh đó KFC cũng thành lập đội tình nguyện KFC Team tham gia các hoạt động từ thiện , giúp các trẻ em mồ côi, tàn tật ,….Tài trợ các giải thi đấu thể thao trong nước .
* Quảng cáo:
Chiến lược quảng cáo của KFC là tập trung xây dựng hình ảnh thương hiệu, tạo sự quen thuộc cho người tiêu dùng về một cách ăn mới lạ nhưng nổi tiếng trên thế giới đó là : fastfood . KFC không chỉ quảng cáo trên các phương tiện in ấn như báo chí , tạp chí mà còn được quảng cáo trên các phương tiện điện tử như truyền hình , internet. Bên cạnh đó KFC còn tổ chức quảng cáo ngoài trời như : panô , áp-phích, bảng hiệu , phát leaflet…

* Giá
Đi cùng với sự cạnh tranh hiện nay trên thị trường của các hãng Lotteria hay Jolie Bee, KFC có những ý tưởng cạnh tranh mới lạ, ví dụ như kết hợp các phần ăn 2 người với giá khá mềm, cùng những hoạt động quảng bá hình ảnh KFC ra toàn thế giới

* Phân phối:
Có thể nói ngày nay với nhịp sống đô thị hoá cao, con người ngày càng trở nên hối hả, bận rộn hơn với cuộc sông thì fastfood như là một giải pháp hữu hiệu để tiết kiệm thời gian. Đồng thời đánh vào tâm lý chuộng phong cách tây, chuyên nghiệp của thanh niên. KFC đã mở rộng mạng lưới của mình ra thế giới, trong đó chủ yếu là các thành phố lớn nơi thuận tiện đi lại và có số người trẻ tuổi cao như: siêu thị, khu công nghiệp. Hệ thống phân phối của KFC chủ yếu được mở rộng thông qua nhượng quyền.
3.2.2.3. Dịch vụ sau bán:
Sau khi thưởng thức KFC, khách hàng còn được hưởng các dịch vụ sau bán rất hấp dẫn do KFC đưa ra như:
– Các chương trình khuyến mãi được gửi tận tay khách hàng hay qua địa chỉ mail
– Các phiếu giảm giá, voucher cho lần đến tiếp theo của khách, tức là khi tới KFC lần sau khách hàng sẽ được miễn phí một phần như trong phiếu đã ghi với bất kỳ sản phẩm nào mà khách hàng lựa chọn
– Ngoài ra, còn có thái độ phục vụ của các nhân viên luôn tận tình chu đáo, tạo cho khách hàng có cảm giác thân thiện như họ đang ăn tại gia đình..
3.3 Vai trò của chiến lược
Chu kì sống của sản phẩm trải qua các giai đoạn : tung ra, phát triển, tăng trưởng, bão hòa, suy thoái, roi chết. Để có thể duy trì và kéo dài quá trinh tăng trưởng thì công ty cần có một chiến lược kinh doanh và cạnh tranh tốt vì đây là giai đoạn có rất nhiều đối thủ cạnh tranh mạnh.
Vạch ra, tìm ra được chiến lược là tìm ra được con đường đi của công ty cũng như sản phẩm mà công ty đang kinh doanh trên thị trường, khi chiến lược có hiệu quả sẽ đem lại thành công cho doanh nghiệp. Đối với công ty KFC cũng vậy.
Chiến lược cạnh tranh toàn cầu cũng như tại Việt Nam của KFC rất hiệu quả thể hiện qua sự thành công của KFC ngày nay. (lấy ví dụ thực tế trong bài ).
IV: Kết luận
4.1 Đánh giá chiến lược kinh doanh của KFC
Do những Điều kiện cạnh tranh gay gắt tạo sức ép giảm chi phí và sức ép từ nhu cầu địa phương cao. KFC buộc phải lựa chọn cho mình một chiến lược kinh doanh toàn cầu nhất quán và hiệu quả để cạnh tranh trong môi trường quốc tế. Qua tìm hiểu thông tin ta nhận thấy hiện nay chiến lược mà KFC đang sử dụng là chiến lược xuyên quốc gia
KFC đang theo đuổi chiến lược xuyên quốc gia cố gắng đạt được đồng thời cả lợi thế chi phí thấp và khác biệt về sản phẩm. Trong nền kinh tế cạnh tranh không biên giới như ngày nay thì việc đáp ứng địa phương sẽ rất khó khăn để làm giảm chi phí và ngược lại. Tuy nhiên việc đòi hỏi cạnh tranh với những đối thủ khác trong ngành thức ăn nhanh như Mc Doald hay Pizza Hut,… đã thúc ép KFC tìm cách tiết kiệm chi phí và tạo ra sản phẩm chất lượng tối ưu nhằm làm hài long khách hàng. Chiến lược của họ tập trung chuyển giao các hương vị cơ bản trên các tiêu chuẩn chung, lợi thế chung xây dựng được của gà rán KFC và biến đổi, cung cấp những sản phẩm đa dạng, địa phương giữa các cửa hàng KFC trên toàn cầu
KFC trên toàn thế giới nhận định họ cạnh tranh bằng sự khác biệt hóa với giá trị “Soul Food”, đóng lại thời kỳ những thức ăn nhanh có hại, nhàm chán, mở ra giai đoạn thức ăn có lợi cho sức khỏe, có giá trị có linh hồn.
Điều đó đã làm nên những thành công đáng kể của KFC trên toàn cầu từ khi thâm nhập trên thị trường thế giới bằng chiến lược xuyên quốc gia, như một minh chứng cho sự một thương hiệu toàn cầu: Gà rán Kentucky
• Mỗi ngày,. hơn 12 triệu khách hàng được phục vụ tại nhà hàng KFC tại 109 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
• KFC đưa hơn 5.200 nhà hàng ở Hoa Kỳ và hơn 15.000 đơn vị trên toàn thế giới vào hoạt động.
• KFC là nổi tiếng thế giới về công thức rán gà Original Recipe® – được tạo bởi cùng một công thức pha trộn bí mật của 11 loại thảo mộc và gia vị khác nhau do Đại tá Harland Sanders hoàn thiện hơn nửa thế kỷ trước.
Khách hàng trên toàn cầu cũng có thể thưởng thức hơn 300 sản phẩm khác nhau từ món Kentucky Grilled Chicken tại Hoa Kỳ tới bánh sandwich cá hồi tại Nhật Bản.
KFC là một phần của Yum! Brands, Inc., công ty lớn nhất trong lĩnh vực kinh doanh nhà hàng với hơn 36,000 chi nhánh trên thế giới. Công ty này được xếp hạng 239 trong danh sách Fortune 500, với doanh thu hơn 11 tỷ USD trong năm 2008.
Với chiến lược kinh doanh đúng đắn, tiến hành mở rộng thị trường kinh doanh sang nhiều nước khác nhau, KFC đã gặt hái được nhiều thành công nhất định. Bắt đầu xây dựng từ đầu những năm 40 của thế kỷ 20, cho đến ngày nay KFC đã trở thành một thương hiệu gạo cội điển hình trong ngành kinh doanh thức ăn nhanh với hình thức kinh doanh Franchise trên toàn thế giới. Đạt được điều đó là nhợ sự phấn đấu không ngừng nghỉ của chủ nhân KFC và toàn bộ đội ngũ nhân viên, bên cạnh đó không thể phủ nhận tầm quan trọng trong chiến lược kinh doanh quốc tế của KFC.
4.2 Khẳng định xu hướng kinh doanh quốc tế

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s