Giải Pháp Phát Triển Cây Chè Shan Tuyết Tại Mộc Châu


LỜI NÓI ĐẦU

Qua thời gian thực tập hơn 2 tháng tại tổng công ty chè Việt Nam, em đã rút ra được rất nhiều kinh nghiệm thực tế mà khi ngồi trên ghế nhà trường em chưa được biết.

Để có kiến thức và kết quả thực tế ngày hôm nay, trước hết em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Kế Hoạch và Phát Triển đã giảng dạy và trang bị cho em những kiến thức cơ bản, đồng thời tận tình hướng dẫn em trong quá trình thực tập. Bên cạnh đó, em xin gửi lời cám ơn chân thành đến thầy Nguyễn Ngọc Sơn  ,đã tận tình hướng dẫn , chỉ bảo để em có thể hoàn thành quá trình thực tập của mìnhTrong quá trình thực tập và làm báo cáo, do còn thiếu nhiều kinh nghiệm thực tế nên không tránh khỏi những sai sót. Em mong các thầy cô chỉ bảo thêm giúp em hoàn thành và đạt kết quả tốt hơn.

Em xin chân thành cảm ơn!

                                                                                    Sinh Viên : Đỗ Việt Cường

 

Chương I

  Đặc điểm và sự cần thiết phát triển cây chè Shan Tuyết .

 

  1. I.                   Một số nét về tình hình hoạt động của công ty chè Mộc Châu

1.1             Quá trình hình thành và phát triển

       Mộc Châu – Sơn Là là cửa ngõ của vùng Tây Bắc tổ quốc , cách thủ đô Hà Nội gần 182km , là cao nguyên có độ cao 1050m so với mặt nước biển , khí hậu khắc nghiệt mùa đông giá rét sương muối , mùa hè gió lào, nhiệt độ trung bình hàng năm 20 độ C , lượng mưa trung bình 175mm , độ ẩm trung bình 85% .

Nằm trên cao nguyên , Mộc Châu có điều kiện tự nhiên , phù hợp cho việc phát triển cây chè . Cách đây 47 năm có 1.683 cán bộ chiến sỹ trung đoàn 280 sư đoàn 335 tình nguyện Việt Nam hoàn thành nghĩa vụ quốc tế trên chiến trường bạn Lào về tập kết tại cao nguyên Mộc Châu . Ngày 8/4/1958 được lệnh của ủy ban Trung Ương , trung đoàn chuyển sang sản xuất xây dựng nông trường quân đội . Tại cao nguyên Mộc Châu này, nông trường quốc doanh Mộc Châu ra đời , với nhiệm vụ xây dựng kinh tế , phát triển trồng chè và chăn nuôi bò sữa cùng với một số cây con chủ lực khác . Xí nghiệp chè nằm trong vùng nông trường quốc doanh Mộc Châu

Đầu năm 1983 do xí nghiệp liên hiệp Mộc Châu quá lớn phát triển nhiều ngành nghề và cây con với hơn 6.000 công nhân viên chức , nên việc quản lý khó khăn , phức tạp . Do yêu cầu cuuar tổ chức sản xuất quản lý sản xuất nông trường quốc doanh Mộc Châu được tách ra thành lập xí nghiệp chuyên ngành trực thuộc xí nghiệp liên hợp Mộc Châu , nhà máy chè trường thuộc liên hợp các xí nghiệp chè Việt Nam nay là tổng công ty chè Việt Nam thuộc bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm quản lý .

Đầu năm 1986  Hội đồng bộ trưởng ( nay là chính phủ ) quyết định chuyển giao nhà máy chè cho Bộ Nông Nghiệp và công nghiệp thực phẩm ( nay là Bộ Nông nghiệp và Phát Triển Nông Thôn ) . Đến năm 1988 Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn lại có quyệt định giải thể xí nghiệp liên hợp Mộc Châu . Quyết định xí nghiệp chế biến chè kết hợp với một số cơ sở chè khác gọi tên là xí nghiệp nông công nghiệp chè Mộc Châu . Đến năm 1996 đổi tên thành Công Ty chè Mộc Châu – Thuộc Tổng Công Ty chè Việt Nam.

Thời kỳ trước năm 1988 xí nghiệp chè Mộc Châu chủ yếu là tổ chức phát triển vùng nguyên liệu ( Trồng chè ) sản xuất phát triển chè đen , chè lục , chè thanh hương và chè hoa ban … sản phẩm chè có chỗ đứng nhất định trên thị trường trong nước và quốc tế ( chủ yếu là các nước xã hội chủ nghĩa )

Thời kỳ năm 1990 , do sự sddoor các nước XHCN – là thị trường lớn về xuất khẩu chè – ngành chè Việt Nam nói chung và xí nghiệp chè Mộc Châu nói riêng bị mất thị trường truyền thống Mặt khác , do thay đổi cơ chế quản lý làm cho việc điều hành quản lý găp nhiều khó khăn dẫn đến làm ăn bị thua lỗ quá nhiều năm , nghĩa vụ với nhà nước chưa đầy đủ , đời sống của cán bộ công nhân viên chức gặp nhiều khó khăn . Công ty đứng trên bờ vực phá sản .

Thời kỳ 1995-2010 có thể nói là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của công ty trong vòng gần 50 năm qua . Là thời kỳ sắp xếp tổ chức bố trí lại bộ máy quản lý cũng như lực lượng sản xuất . Với các chiến lược dài hạn . Công ty đã đầu tư hiện đại hóa dây chuyền  sản xuất bằng việc nhập khẩu 2 dây chuyền sản xuất của Nhật Bản và Đài Loan, cùng với biện pháp khuyến khích sản xuất , cải tiến sáng tạo trong tất cả các khâu nhằm tiết kiệm chi phí sản xuật , hạ thành sản phẩm , Công ty không ngừng nghiên cứu thị trường . Với nổ lực đó , trong một thời gian ngắn đã phát huy tác dụng : Sản phẩm tăng vượt cả về số lượng và chất lượng , lấy lại được uy tín trên thị trường . Từ năm 1997 đến nay Công ty làm ăn liên tục có lãi , đời sống của người làm chè dần được cải thiện . Công ty còn quan tâm đến công tác đoàn thể và đời sống văn hóa của nhân dân trong vùng . Có thể nói , Công ty chè Mộc Châu đã làm tròn trách nhiệm với Tổng công ty chè Việt Nam và với địa phương , góp phần xây dựng kinh tế miền núi theo đúng chủ trương của Đảng , nhà nước đề ra .

Đặc biệt năm 2006 Công ty chè Mộc Châu được chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh Hùng lao động thời kỳ đổi mới tại quyết định số 126/2006/QD-TCN ngày 19 tháng 1 năm 2006 của Chủ tịch nước Trần Đức Lương . Đây là phần thưởng cao quý của nhà nước và là phần thưởng đặc biệt giành cho tập thể người làm chè trong Công ty chè Mộc Châu phấn đầu lao động sáng tạo xuất sắc suốt từ năm 1995 đến 2004 .

1.2             Chức năng và nhiệm vụ của Công ty chè Mộc Châu

Công ty chè Mộc Châu là doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập của Tổng công ty chè Việt Nam . Điều lệ tổ chức hoạt động của Công ty Chè Mộc Châu do chủ tịch hội đồng quản trị tổng công ty chè Việt Nam phê duyệt tại quyết định số 256/CVN-TC/QD ngày 30/07/1997 . Công ty chè Mộc Châu có chức năng nhiệm vụ như sau :

–      Xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển , đầu tư , tạo nguồn vốn đầu tư phát triển giống chè , trộng trọt , chế biến ,mua nguyên liệu , tiêu thụ sản phẩm chè và các sản phẩm Công ty sản xuất ra

–      Xây dựng chiến lược kinh doanh nhằm tại ra sản phẩm tốt có uy tín , mẫu mã và kiểu dáng bao bì phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng .

–      Tổ chức tốt công tác cán bộ , đào tạo và đào tạo lại công nhân lành nghề có trunhf độ chuyên môn cao , mục tiêu là giỏi một nghề chứ không nên biết nhiều nghề.

–      Quản lý và sử dụng tối đa hiệu quả vốn , bảo toàn và phát triển vốn , không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm , hạ giá thành sản phẩm nâng cao đời sống cho tập thể người làm chè .

–      Tiến hành các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Tổng công ty cùng với chính quyền địa phương chăm lo phát triển kinh tế xã hội , đặc biệt đối với đồng bào dân tọc ít người , dân cư kinh tế mới , xây dựng mối quan hệ kinh tế hợp tác đầu tư , khuyến nông , khuyến lâm với các thành phần kinh tế để phát triển trồng chè , góp phần xóa đói giảm nghèo , phủ xanh đất trống đồi núi trọc và cải tạo môi sinh , môi trường sinh thái trên địa bàn Huyện Mộc Châu .

–      Công ty chè mộc châu Sơn là là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả , có thể nói là con chim đầu đàn của ngành chè Việt Nam . Đang dần dần khẳng định vị thế và uy tín của mình trên thương trường trong nước và quốc tế . Các vấn đề về nghĩa vụ với ngân sách nhà nước Công ty thực hiện đầy đủ kịp thời số phát sinh hàng năm . Sự phát triển và trưởng thành của công ty được thể hiện qua một số chỉ tiêu kinh tế sau :

Biểu 1.1: Hoạt động kinh doanh của Công ty từ năm 2009-2010

TT Chỉ Tiêu DVT Năm 2009 Năm 2010 So Sánh
1 Tổng doanh thu 1000đ

50.271.155

56.571.629

6.300.474

  Các khoản giảm trừ 1000đ

         2.642

       2.642

2 Doanh thu thuần 1000đ

50.268.512

56.571.629

6.303.117

3 Giá vốn hàng bán 1000đ

46.155.610

50.956.391

4.800.781

4 Lợi nhuận gộp 1000đ

4.223.920

5.615.237

1.502.335

5 Chi phí bán hàng , QLDN 1000đ

3.620.712

4.904.992

1.302.280

6 Lợi nhuận từ HDSXKD 1000đ

562.784

662.115

155.241

7 Lợi nhuận từ HD tài chính 1000đ

263.204

239.444

53.760

8 Lợi nhuận bất thường 1000đ

14.683

48.129

33.446

9 Tổng lợi nhuận 1000đ

800.078

901.559

101.480

10 Vốn kinh doanh 1000đ

12.609.749

12.609.749

0

11 TSCD ( nguyên giá ) 1000đ

29.001.530

35.998.235

6.996.704

12 Tỷ suất lợi nhuận    %

B Trên doanh thu    %

1.59

1.593

0.003

C Trên vốn kinh doanh    %

6.34

7.149

0.809

C Trên TSCD    %

2.75

2.5

0.25

          Nguồn : Báo cáo kinh doanh công ty chè Mộc Châu 2009-2010

1.3             Đặc điểm tổ chức quản lý của công ty.

Trong cơ chế thị trường , khi hiệu quả hoạt động kinh doanh được coi là mục tiêu quan trọng nhất thì mọi hoạt động của bất kỳ chủ thể nào trong nền kinh tế ấy cũng đều hướng vào mục tiêu này . Một bộ máy muốn hoạt động có hiệu quả thì việc sắp xếp tổ chức nhân tố cấu thành bộ máy ấy cần được coi trọng . Cũng nhằm mục tiêu hoạt động hiệu quả cao , Công ty chè Mộc Châu hiện nay đang quản lý theo mô hình trực tuyến chức năng , bộ máy quản lý của Công ty tương đối gọn nhẹ từ cơ quan đến các đơn vị .

Đứng đầu là giá đốc công ty , giám đốc là người chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh , làm tròn nghĩa vụ với nhà nước theo luật định

  1. II.               Cây chè Shan Tuyết Mộc Châu

1.1       Sự ra đời và phát triển của cây chè Shan Tuyết :

               Trong các khu rừng tự nhiên của Mộc Châu, cây chè Shan mọc lẫn với các loại cây rừng khác. Quá trình du cư đến sinh sống, đồng bào phá rừng làm nương và giữ lại các cây chè, tiếp tục khai thác. Có những nơi, đồng bào còn trồng bổ sung bằng hạt, tạo nên những nương chè hỗn giao theo dạng chè rừng.

Ở Mộc Châu, chè shan phân bố hầu khắp các huyện, trong đó các vùng chè cổ thụ đều có độ cao từ 300-1000m. Cho đến nay, một số vùng trong tỉnh có tính đặc trưng cao cho các tiểu vùng sinh thái có chè shan như: Cao nguyên Mộc Châu đại diện cho vùng cao núi đá vôi; Chiềng ve đại diện cho vùng cao núi đất; Chè đen đại diện cho vùng chè cổ nhất Việt Nam. Đây cũng chính là những địa phương có sản phẩm chè shan tuyết thơm ngon nổi tiếng. Danh tiếng của chè shan tuyết Mộc Châu và chè xanh Shan Tuyết Mộc Châu không chỉ chinh phục được người tiêu dùng mà cả với những người thưởng thức trà.

Sau khi xí nghiệp chè Mộc Châu được thành lập , cây chè Shan Tuyết mới chính thức được lấy giống , trồng theo quy hoạch để dần dần tạo thành những đồi chè Shan với diện tích hàng nghìn ha như hiện nay .

1.2                 Đặc điểm của cây chè Shan Tuyết

Về giống chè Shan Mộc Châu có thể chia thành 2 dạng chính đó là chè shan lá nhỏ, với đặc điểm dạng tán hình mâm xôi hoặc dạng nến. Chè tán dạng mâm xôi là chè shan lá nhỏ chiếm tỷ lệ lớn hơn chè tán dạng nến chè shan lá to. Dài búp biến động từ 2,3-4,5 cm, trọng lượng búp biến động từ 0,4-1,09g/búp, thuận lợi cho chế biến chè xanh có ngoại hình đẹp. Hàm lượng tanin biến động từ 32,25- 37,32%, chất hoà tan 43,24-47,82%, đường khử 2,00-2,95%, cafein 3,05-3,45%, nhất là chất lượng thử nếm cảm quan điểm cao từ 16-18,2 điểm trên nhiều mẫu chè.

Dạng chè shan thứ 2 là loại chè khá đặc biệt . Đặc biệt ở chỗ mức độ lông tuyết ở cả búp lá 1 và một phần lá 2 rất nhiều và dầy. Trọng lượng búp chè từ 0,92-1,02g, năng suất 1600-1850g/cây/lứa hái. Về thành phần sinh hoá cho thấy tanin biến động từ 27,96-32,98%, chất hoà tan từ 35,81- 40,56%, đường khử từ 1,22-1,90%, cafein từ 2,85-3,00%…

Ngoài những chỉ tiêu sinh hoá ở mức rất có lợi cho chế biến chè chất lượng cao, chè shan Mộc Châu là nguồn nguyên liệu sạch. Bởi vì, cho đến tận bây giờ, ở các vùng chè shan lâu đời của Mộc Châu, đồng bào vẫn không sử dụng phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật mà chủ yếu là khai thác tự nhiên. Người ta thường đốn chè vào vụ Đông, đồng thời với việc phát cỏ, vun gốc… Sang xuân, vào thời điểm cuối tháng 3, đầu tháng 4, người ta bắt đầu thu hái chè vụ đầu tiên (đây là thời điểm chè cho chất lượng cao nhất). Tiếp tục thu háI vụ chè thứ 2 vào tháng 5 và tháng 6 (là vụ có năng suất cao nhất trong năm). Vụ 3 vào tháng 8 và vụ 4 vào tháng 10, tháng 11.

Với những đặc điểm trên , ta có thể khẳng định được cây chè Shan Tuyết Mộc Châu là một cây chè có những đặc điểm khá tối ưu , dễ trồng , dễ chăm sóc , sản phẩm chè tốt , sạch , có chất lượng cao , là một trong những cây chè nên phát triển .

  1. III.   Các nhân tố tác động đến sự phát triển cây chè Shan Tuyết ở Mộc Châu

1.1     Điều kiện khí hậu và thời tiết

Mộc Châu về cơ bản đất đai nằm trên cao nguyên đá vôi . Ở độ cao bình quân 800-1000m , do đó có khí hậu á nhiệt đới mùa đông lạnh .

–      Nhiệt độ bình quân 18.5 độ C

–      Nhiệt độ tối cao trung bình tháng 23.4 độ C

–      Nhiệt độ thấp nhất trung bình tháng 15.4 đọ C

–      Biên độ nhiệt ngày đêm là 8 độ C

–      Độ ẩm không khí bình quân là 80%

–      Lượng mưa bình quân 1.641-17..mm

–      Số ngày mưa trung bình : 186 ngày / năm

–      Số ngày nắng trung bình : 179 ngày / năm tương đương khoảng 1913 giờ / năm .

Diện tích Mộc Châu rộng , có nhiều độ cao khác nhau . Từ vùng ven hồ Sông Đà độ cao 200m đến vùng giữa 600m , đến vùng cao trên 800m . Do đó chia ra 3 vùng tiểu khí hậu : nóng , trung bình , lạnh . Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau , mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9 , tập trung lượng mưa vào tháng 8 trong năm .

1.2 Đất đai và thổ nhưỡng

1.2.1     Lập địa

Địa hình Mộc Châu thuộc dạng đồi bát úp xen các thung lũng nương bãi đồng cỏ , dạng lập địa tập trung ở độ cao 800-1000m là khu vực trung tập của quy hoạch vùng chè . Dạng lập địa này chạy trên sống của cao nguyên từ Tây Bắc xuống Đông nam , thấp dần về phía đông – Đông bắc và thấp dần về phía tây – tây nam .

Dạng địa hình núi đá vôi hiểm trở được hình thành tập trung ở phía đỉnh cao , cao nguyên và xem với các dạng lập địa đồi bát úp .

Độc dốc của toàn bộ địa hình so với tổng diện tích tự nhiên :

– Từ 0-15 độ có 16.458.5 ha chiếm 8.12% diện tích

– Từ 16-25 độ có 13.219.8 ha chiếm 6.52%

– Từ 26-35 độ có 41.088.5 ha chiếm 20.28%

1.2.2           Thổ nhưỡng

Chủ yếu đất được hình thành trên cao nguyên đá vôi Mộc Châu , có những loại đất chủ yếu là :

– Đất đỏ nằm trên đá vôi : có 44.552.8 ha chiếm 22%

– Đất vàng đỏ trên đá xét có 22.074 ha chiếm 10.9%

– Đất đỏ trên đá biến chất có 10.733.2 ha chiếm 5.3%

– Đất đỏ nằm trên đá cát có 26.326.7 ha chiếm 13%

– Đất mùn vàng nhạt trên đá cát : có 38.882.5ha chiếm 19%

Tầng dầy của đất qua điều tra mẫu điển hình hay điều tra khảo sát lập dự án 13 xã vùng kinh tế mới của Viện Quy hoạch Bộ Nông nghiệp kết quả là

– Đất có tầng dầy dưới 30cm có 16.154 ha chiếm 8% DT tự nhiên

– Đất có tầng dầy dưới 30-50cm có 11.607 ha chiếm 5/7% diện tich tự nhiên .

– Đất có tầng dầy dưới 50-70cm có 13.517 ha chiếm 6.7% diện tích tự nhiên

– Đất có tầng dầy dưới 70-100cm có 12.358 ha chiếm 6.1% diện tích tự nhiên

– Đất có tầng dầy trên 100cm có 42.562ha chiếm 21% diện tích tự nhiên .

Đất Mộc Châu còn giầu dinh dưỡng . Độ pH bình quân 4.5-6.5 . Mùn tổng số 4-5% , tỷ lệ sét đến 68%

1.3     Nguồn nước

Do nằm trên cao nguyên đá vôi  , nước mặt rất hiếm . Toàn huyện có 7 dòng suối lớn , lưu lượng chảy trên 0.5m khối /s . Như Suối Sập , Suối quanh , Suối Tân , Suối Giàng , Suối Vỉn , Suối Song . Các suối đều ở xa và cách mặt canh tác lớn nhất là bề mặt canh tác cây chè nói chung và cây chè Shan nói riêng nên tác dụng tưới cho cây trồng bị hạn chế lớn ,

Những suối có khả năng cung cấp nước cho cây chè ( khi có sự đầu tư kinh phí đúng mức ) như : Suối Thảo nguyên ( Phiêng luông – Công ty chè Mộc Châu ) . Suối Sập ( Lóng Sập – Chiềng ve ) Suối Tân ( Chiềng Khoa – Mường Men )

Ngoài ra còn nhiều mỏ nước , mạch nước ngầm có thể khai thác phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất .

Chương II

Thực trạng phát triển cây chè Shan Tuyết ở Mộc Châu

  1. I.        Thực trạng phát triển cây chè Shan Tuyết ở Mộc Châu :

1.1     Diện tích đất trồng :

Các giống chè đã du thực vào Mộc Châu trên 100 năm nay . Trong đó , chè Shan Tuyết đã tồn tại từ rất lâu đời trước đó . Được phát triển mạnh vào thời gian đầu ở Tô Múa , Chờ Lồng . Hiện tại vẫn còn nhiều cây chè cổ thụ tồn tại qua vài thế hệ trong gia đình , chè chỉ đủ cho nhu cầu nhỏ bé trong nhân dân.

– Từ năm 1959 khi thành lập nông trường Mộc Châu , diện tích chè tập trung được hình thành ở khu vực chè quốc doanh

– Năm 1972 – 1976  cây chè Shan được mở rộng thành vùng tập trung ở Tô Múa , Chè đen và khu cao nguyên Mộc Châu

Có thể xét bảng sau để thấy rõ diện tích cây chè Shan được trồng tại Mộc Châu:

Bảng 2.1: Diện tích cây chè Shan qua 3 thời điển (ha)

TT

Hạng Mục

1991

1998

6/2009

A Toàn huyện

1.694.67

1.543.735

1.0995

B Khu Vực Quốc Doanh

1.165

1.049

811

1 Công ty chè Mộc Châu

500

550

514

2 Nông Trường Chiềng Ve

486

320

197

3 Nông Trường Cờ Đỏ

179

179

100

C Khu Vực Nông Thôn

529.67

494.735

288.5

1 Tô Múa

330.3

289.3

139.4

2 Chiềng Khoa

73.9

72.9

20.79

3 Tân Lập

54.5

47.7

28.08

4 Vân Hồ

7.2

15.2

10.118

5 Mường Sang

28

43

1.86

6 Phiêng Luông

0.7

0.2

11.83

7 Lóng Luông

5.7

3.35

  Tổng vùng 1

494.6

458.3

215.428

8 Chiềng Yên

12.9

12.9

67.82

9 Mường Tè

7.5

7.4

2.23

10 Quang Minh

5

5

0.34

11 Chiềng Khừa

2

3.3

2.5

12 Song Khủa

0.67

0.67

0.67

13 Xuân Nha

0.965

0.98

14 Nà Mường

0.4

0.322

15 Lóng Sập

7

0.21

  Cộng vùng vành đai

35.07

36.435

73.072

Năm 1986 là năm diện tích chè Shan cao nhất của thời kỳ từ 1980-1998 . Cả huyện đã có 1.694.67 ha chè phát triển từ nông trường Mộc Châu đến vùng xa như Mường tè , Chiềng Khừa , Xuân nha …

Nông trường Mộc Châu có diện tích nhiều nhất là 550 ha vào năm 1991 .            Nông trường Chiềng ve 486 ha vào năm 1986

Xã Tô Mua 330 ha năm 1986 , ở xã Tô múa dã thành lập công trường trồng chè Shan vào những năm 1974-1976

Do điều kiện khác nhau mà diện tích , năng suất , sản lượng chè ở Shan ở các vùng lại khác nhau

Bảng 2.2: Diễn biến diện tích , năng suất , sản lượng chè qua thời điểm

TT Hạng mục 1986 1991 1998 2000 2005 2010
I Toàn huyện            
  Tổng diện tích cây chè ( ha ) 1.695 1.544 1.099 1.600 3.900 5.000
  Diện tích cho sản phẩm 1.107 880.6 794 1.025 2.300 5.000
  Năng Suất ( Tạ ) 50.48 51.7 82.8 72.6 63.5 69.5
  Sản lượng (Tấn) 5.580 4.551 6.575 7.940 15.400 35.800

Sau khi đạt diện tích chè ở giai đoạn cao nhất giai đoạn 1986-1997 là : 1.694 ha từ năm 1991 sản lượng chè Shan giảm nhanh ở khu vực nông thôn và khu vực Nông trường Chiềng Ve , nhất là chè kinh doanh . Đén năm 1997 diện tích chè chỉ còn lại 1.051 ga , chè quốc doanh còn 803 ha , chủ yếu là của Công ty chè Mộc Châu , nông trường cờ đỏ , nhiều diện tích chè bị bỏ hoang .

Năm 1991 đến 1997 nhiều diện tích chè bị hoang hóa như ở Chiềng ve từ 486 ha đến năm 1997 chỉ còn 197 ha . Một phần diện tích chuyển sang trồng cây ăn quả , ở khu vực nông thôn diện tích chè giảm nhanh như ở Tô múa 330 ha năm 1986 xuống còn 101 ha năm 1997 . Chiềng khoa 73.9 ha năm 1986 xuống còn 21 ha năm 1998 .

1.2     Sản lượng và giá trị chè Shan Tuyết trong những năm gần đây

Hiện nay toàn huyện có  khoảng 5000 ha trồng chè Shan Tuyết trong đó , cho thu hoạch khoảng 4.300 ha . Số còn lại đang trong thời gian ươm trồng , chưa thu hoạch được

Với diện tích như vậy , hàng năm sản xuất được ước chừng 35.800 tấn chè thô. Thành sản phẩm chủ yếu là chè shan tuyết và chè xanh shan tuyết

Ta có thể thấy rõ sản lượng chè Shan Tuyết Mộc Châu qua các thời kỳ qua bảng sau :

Bảng 2.3: Sản lượng chè Shan Tuyết Mộc Châu qua các thời kỳ

TT

Hạng mục

1986

1991

1998

2000

2005

2010

I Toàn huyện            
  Tổng diện tích cây chè (ha ) 1.695 1.544 1.099 1.600 3.900 5.000
  Diện tích cho sản phẩm 1.107 880.6 794 1.025 2.300 5.000
  Năng Suất ( Tạ ) 50.48 51.7 82.8 72.6 63.5 69.5
  Sản lượng (Tấn) 5.580 4.551 6.575 7.940 15.400 35.800

Năng suất bình quân trên diện tích giảm từ 3.2 tấn / ha năm 1986 xuống còn 2.9 tấn /ha năm 1991 ở nông thôn diện tích không còn thu hái , diện tích chè bị bỏ hoang

Năm 1991 đến 1997 , nhiều diện tích chè bị hoang hóa , giá chè sụt giảm nghiêm trọng

Từ năm 1997 , do nhiều yếu tố nhất là yếu tố thị trường , giá cả chè đã bước đầu khôi phục , chăm sóc năng suất lên 4.9 tấn / ha , sản lượng đạt 5.231 tấn , năm 1998 , sản lượng đã đạt 6.575 tấn , năng suất trung bình đạt 59 tạ / ha

Sản lượng chè được đưa vào chế biến năm 1998 là : 1.315 tấn , trong đó chế biến công nghiệp : 1.223 tấn , chiếm 93.76% , chế biến thủ công đạt 82 tấn chiến 6.24%

Từ năm 1996 đến tháng 6/1998 do biến động của thị trường có sự tác động tích của của nhà quản lý , cây chè ở một số khu vực đã bước đầu khôi phục , phát triển . Nhiều hộ đã nhận đến 3 ha chè về chăm sóc và sản xuất như ở đội Tiền Tiến , ở Chiềng ve đã có 180 hộ mua 70 ha chè có gia đình đã tự sản xuất chế biến ủ phân hữu cơ , vi sinh , đã đắp ao hồ tạo ẩm cho chè

Năm 2005 sản lượng chè Shan Tuyết tăng mạnh , đạt tới 15.400 tấn và dự đoán vào năm 2010 , sản lượng sẽ lên tới 35.800 tấn .

Giá chè Shan Tuyết vào năm 1990 chỉ đạt 500đ / kg , năm 1998 , giá bình quân lên trên 2000đ /kg búp tưới . Do đó nhiều cơ sở đã khôi phục chăm sóc thu hái chè . Năm 2008 . Tô múa đã bán cho công ty chè 800 tấn trong khi cả năm 2007 , bán cho công ty chỉ được 500 tấm , năm 2003 là 150 tấn .

Như vậy , với năng suất hiện nay tức là vào khoảng 8 tấn /ha với giá chè thô khoảng 3000đ / kg thì một hộ đã có giá trị lao động nghè chè là 10 triệu / năm

– Về sản phẩm chè Shan Tuyết :

Hiện nay 2 sản phẩm chè Shan Tuyết và chè xanh Shan Tuyết Mộc Châu là 2 sản phẩm chè duy nhất đã đăng ký độc quyền thương hiệu sản phẩm cho thế giới .

Năm 2008 , công ty chè Mộc Châu đã cho ra đời hơn 80 tấn sản phẩm chè Shan Tuyết và chè xanh Shan Tuyết . Trong đó phục vụ nhu cầu trong nước là khoảng 30 tấn , xuất khẩu sang các nước trên thế giới như Nga , Pakistan , Ấn Độ , Đài Loan khoảng 50 tấn , thu về hơn 80 tỷ , nộp cho ngân sách nhà nước hơn 7 tỷ  .

1.3     Xuất khẩu chè Shan Tuyết –  thị trường thế giới

 Đối với thị trường chè xanh Nhật Bản: Là nước sản xuất chè đứng thứ 6 trên thế giới song cũng là nước nhập khẩu chè lớn vì sản xuất không đủ cho tiêu dùng trong nước. Đây là thị trường có thị hiếu riêng khác với một số nước dùng chè xanh. Nên sản phảm làm ra chỉ tiêu thụ cho Nhật Bản. Với công ty có lợi thế là đang hợp tác sản xuất với Nhật Bản nên thị trường này cần được duy trì, do đó phải sản xuất chè có chất lượng tốt, giảm chi phí trong sản xuất để nâng cao sản lượng mỗi năm lên.

Đối với thị trường chè xanh Đài Loan: Đây là khách hàng đã làm với Công ty nhiều năm, thường trọng chữ tín trong quan hệ mua bán, song yêu cầu sản phẩm chè phải làm bằng thiết bị công nghệ của họ. Nên các năm tới cần phát triển giống chè Đài Loan để có sản phẩm ổn định cung cấp cho thị trường này.

Ngoài 2 thị trường lớn trên , công ty còn đang tiếp tục mở rộng thị trường trên thế giới như các nước Châu á : Trung Quốc , Ấn Độ , các nước EU …

1.4     Giống chè

– Công ty chè Mộc Châu đã đăng ký với viện chè giúp đỡ , xúc tiến việc nhận giải quyết giống của chè Shan Tuyết , nhân giống và đưa nhanh các giống có chất lượng cao , năng suất tốt vài các vườn chè .

– Để thực hiện mục tiêu kế hoạch , đến năm 2007 số diện tích chè sẽ trồng xong , đảm bảo các giống chó năng suất cao và chất lượng tốt , công ty chè Mộc Châu đã tổ chức xây dựng vườn ươm có diện tích từ 1-2 ha 1 vườn để sản xuất chè dâm cành . Công ty còn khuyến khíc các hộ gia đình trồng chè sản xuất tự túc lấy giống bằng cách ượm hạt vào bầu để chủ động được nguồn giống trồng , đảm bảo chất lượng cây giống

– Các đặc điểm sinh thái của các loại chè Shan được tìm hiểu và nghiên cứu kỹ để trồng tại nơi có khí hậu , thổ nhưỡng thích hợp

1.5     Về công nghiệp chế biến

Trước mắt từ năm 2005 đến 2010 , sản lượng chè Shan Tuyết tăng lên 35.800 tấn , phấn đấu của công ty là đạt sản lượng tới 50.000 tấn sau năm 2010 . Các cơ sở hiện có không đáp ứng được nhu cầu chế biến , do đó giải pháp cho chế biến là :

– Nâng cấp thiết bị sản xuất ổn định công suất nhà máy chế biến chè của

– công ty chè Mộc Châu đạt sản lượng 42 tấn / ngày , duy trì 2 dây chuyền chè xanh đã có của công ty chè Mộc Châu

– Nông trường cờ đỏ : 1 dây chuyển 20 tấn / ngày năm 2005

– Nông trường chiềng ve : 1 dây chuyền 20 tấn năm 2006

– Xây dựng một nhà máy 40 tấn / ngày tại Vân hồ năm 2006

– Xây dựng một nhà máy 13  tấn / ngày tại Tô Múa năm 2006

– Xây dựng 1 nhà máy 14 tấn / ngày tại Tân Lập năm 2006

– Lắp đặt 4 dây chuyển 5-7 tấn / ngày ở các xã Chiềng Khoa , Phiêng Luông , Lóng Luông và Thị Trấn Nông trường Chiềng ve để đạt tiêu chuẩn xuất khẩu chè

– Ngoài ra những vùng có diện tích trồng ít , giao thông đi lại khó khăn , xa cơ sở chế biến , đã trang bị máy sao cỡ nhỏ từ 100-200 kg búp tươi / ngày để phục vụ nội tiêu và cho các nhà máy tinh chế đấu trộn tinh chế

– Tháng 8 năm 2010 , công ty sẽ tiếp tục nhâp khẩu them 2 dây chuyển chuyên sản xuất chè Shan Tuyết

  1. II.    Đánh giá  các nhân tố tác động đến cây chè Shan Tuyết ở Mộc Châu

Thuận lợi :

– Khí hậu thời tiết : Với độ cao từ 200-1050m, khí hậu và thời tiết của huyện Mộc Châu rất thích hợp cho cây chè , có điều kiện phát triển đa dạng các giống chè Shan Tuyết cũng như các giống chè khac

– Đất đai : Đất có điều kiện thích hợp cho phát triền cây chè , còn có nhiều , có nhiều vùng tập trung  , đất còn giàu dinh dưỡng

– Trên địa bàn huyện , cây chè đã được tổ chức sản xuất từ lâu đời , nhân dân đã quen thuộc với nghề trồng chè thu búp

– Có đội ngũ quản lý và khoa học kỹ thuật nhiều kinh nghiệm

– Trên địa bàn huyện đã có cơ sở chế biến , thiết bị hiện đại , tạo nhân tố thuận lợi cho việc chuyển giao khoa học kỹ thuật và công nghệ chế biến chè

– Bộ , tỉnh , các ngành và huyện vừa có cơ chế chính sách khuyến khích , vừa có quyết tâm chỉ đạo rất cao

– Thị trường trong nước và ngoài nước đang đi vào ổn định và phát triển

Khó Khăn :

– Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau , giai đoạn này lượng mưa ít , nhiều nơi có gió lào làm ảnh hưởng lớn đến sản lượng

– Do nằm trên cao nguyên đá vôi , thiếu nước , trở ngại cho việc chủ động tạo độ ẩm cho chè

– Nhiều nơi có địa hình phức tạp , khó khăn cho vận chuyển sản phẩm và vật tư thâm canh chè

– Cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng nhiều xã , bản  rất khó khăn , đời sống còn thấp , đất nông nghiệp ít nên tạo ra tâm lý nặng về tự cấp tự túc , tự cấp , lo đời sống trước mắt

– Một số vùng chè đã hình thành từ lâu , song do không được chăm sóc , thâm canh nên nhiều diện tích đã trờ thành cây hoang dại , nhiều lô chè độ dốc cao , do đó yeu cầu thâm canh cần phải đầu tư lớn

– Một số cơ sở chưa có điện sản xuất , dân đến giá mua , giá thành cao , rừng bị phá lấy củi để sơ chế chè

III . Đánh giá chung về phát triển cây chè Shan Tuyết Mộc Châu

1.1            Kết quả :

Đã nhanh chóng khôi phục , cải tạo thâm canh  và trồng các giống chè Shan mới có năng suất , chất lượng cao .

Đến năm 2005  , toàn huyện có 3.900 ha chè , đạt sản lượng 15.400 tấn và đến năm 2010 có 5.000 ha chè sản lượng đạt 35.800 tấn , sau năm 2010 đạt 50.000 tấn chè búp tươi . Hình thành vùng nguyên liệu tập trung ổn định cho việc phát triển công nghiệp chế biến , góp phần quan trọng vào tiến trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa nông thôn Mộc Châu

Góp phần giải quyết việc làm , tăng thu nhập , xóa đói giảm nghèo một cách vững chắc , nhất là vùng còn đặc biệt khó khăn , đồng thời góp phần tăng độ che phủ , chống xói mòn , tạo môi trường sinh thái hợp lý , xây dựng nền Nông nghiệp bền vững

Việc tổ chức sản xuất phát triển chè Shan Tuyết những năm gần đây còn thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển . Dự báo sau năm 2010 ( định hình ) thì với sản lượng 50.000 tấn , giá chè búp tươi là 3000 đ /kg tổng giá trị thu được lên tới 150 tỷ đồng

Tính mỗi ha chè thu 30 triệu đồng / năm , trừ chi phí thâm canh để lại cho cây chè 40% , mỗi năng thu được 18 triệu đồng

Tham gia xuất khẩu đến nhiều thị trường lớn trên thế giới với sản lượng vào khoảng 6000 – 6400 tấn sản phẩm , giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt từ 8.5 – 91.5 triệu USD

Phát triển công nghiệp chè còn giải quyết được việc làm , cho thu nhập ổn định , 1,5 vạn lao động tương đương 6.000 hộ . Góp phần xóa đói giám nghèo 3-5 vạn dân

Phát triển trè Shan Tuyết còn tăng độ che phủ , chống xói mòn, đáp ứng yêu cầu phủ xanh đất trống , đồi trọc . Tạo môi trường bền vững vùng cao nguyên Mộc Châu – Tỉnh Sơn La

1.2       Tồn tại

– Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau , giai đoạn này lượng mưa ít , nhiều nơi có gió lào làm ảnh hưởng lớn đến sản lượng , thế nhưng hệ thống mương , suối , hệ thống tưới tiêu cho cây chè lại quá ít , không đáp ứng đủ nhu cầu về nước của cây chè Shan .

– Do nằm trên cao nguyên đá vôi , thiếu nước , trở ngại cho việc chủ động tạo độ ẩm cho chè . Nhiều nơi có địa hình phức tạp , khó khăn cho vận chuyển sản phẩm và vật tư thâm canh chè . Thế nhưng hệ thống giao thông lại hết sức lạc hậu .  Nhiều nơi cơ sở hạ tầng kỹ thuật chưa được đầu tư đúng mức

– Vào năm 2002 , bỏ qua góp ý của các chuyên gia ngành chè . lãnh đạo bộ NN&PTNT đã ra quyêt định rất nhanh : Xây dựng vùng sản xuất giống chè đầu dòng cao sản nhập từ Nhật Bản , trồng thử nghiệm tại 3 địa phương trong đó có Mộc Châu 13 giống chè nhật như : Saemidori , Meiryoku , Funshun , Okuyutaka  . Số tiền nhập về 3 giống chè này lên tới 10 tỷ đồng

– Ngay sau khi được quyết định , những công việc nhập giống và trồng đại trà trên 130 ha chè tại Mộc Châu đã gấp rút được thực hiện . Công ty chè và người dân chỉ chăm lo đến những giống chè mới , bỏ qua giống chè cũ , lơ là phát triển cây chè Shan Tuyết vốn là thế mạnh của công ty chè Mộc Châu . Thế nhưng kết quả của việc trên lại là 130 ha chè tại 3 địa phương này trơ khấc mặc dù đã áp dụng các kỹ thuật canh tác tiến bộ , vật tư được đổ đến từng hộ khoán trồng chè .

– Hơn 130 ha chè , phần lớn là không phát triển được trong đó đáng chú ý chè Yabukita tỷ lệ sống chỉ có 45% , tỷ lệ sống của chè YakaMidori chỉ có 62%

– Đầu tư trong thời gian dài nhưng không có thu hoạch , lại bỏ bê không quan tâm phát triển thế mạnh của mình là chè Shan Tuyết , hậu quả là người dân mất thu nhập , chè lại được xác định là không thích hợp để phát triển ở Mộc Châu nói riêng và Việt Nam nói chung , phải phá đi trồng lại các giống Shan Tuyết truyền thống . Như vậy đã làm lãng phí tới 5000 ha chè trong 3 năm , tốn tiền gây dựng lại 5000 ha chè

1.3       Nguyên nhân

– Đây là kết quả của sự triển khai nóng vội, áp đặt các quan điểm ngược với những khuyến cáo của các cơ quan chuyên môn. Rõ nhất là sự kiên cưỡng trong đầu tư không chú ý đến khí hậu đất đai. Chè của Nhật chỉ phù hợp với nhiệt độ trung bình 15oC, lượng mưa bình quân 1.500 2.000 mm.

– Thế nhưng vùng trồng chè của Việt Nam luôn có nhiệt độ cao hơn 5-8oC. Còn lượng mưa thấp hơn và đặc biệt khắc nghiệt là có gió Lào, sương muối rất không thích ứng với chè Nhật. Một quan chức nguyên là thành viên Hội đồng quản trị Vinatea cho biết, ngay khi chuẩn bị thực hiện dự án, nhiều người trong ngành chè đã ra sức can ngăn không nên nhập nhiều, trồng tràn lan, vì biết là sẽ không hiệu quả, không thể nóng vội mà làm đột biến được ngành chè.

– Nhưng đã chẳng ai nghe theo. Không những vậy, Bộ NN&PTNT không những không đấu thầu dự án để đảm bảo an toàn cho đồng vốn đầu tư mà còn không cho Vinatea – đơn vị có chuyên môn về chè nhập khẩu giống. Điều này dẫn đến hậu quả là chất lượng hom giống chè đã không được kiểm soát, khó có thể nói việc nhập giống chè không bị tiêu cực, ăn hớt như đã từng xảy ra ở đơn vị nhập giống dứa Cayen trước đó.

– Nếu so với trồng giống chè lai Shan Tuyết sản xuất được trong nước, nông dân trồng chè Nhật bị thua lỗ nặng, bởi: trồng chè Nhật năng suất rất thấp, chỉ đạt 2-4 tấn/ha. Còn chè LDP1 năng suất đạt 7-10 tấn/ha. Trong khi đó, giá chè Nhật không cao hơn chè LDP1. Dù sắp phải phá sản dự án lãng phí hàng tỷ đồng, nhưng không ít người vẫn cho rằng, trong cả trăm ha chè phải phá bỏ vẫn còn thu được một vài giống chè đưa vào nghiên cứu, chọn tạo giống.

– TS Nguyễn Thái Thắng Phòng Nông nghiệp (Vinatea) cho rằng, cái dở của dự án chè Nhật chỉ là trồng trên diện tích quá lớn. Còn một số giống chè Nhật đưa vào lai tạo có thể sẽ cho ra giống chè mới có hiệu quả kinh tế cao trong tương lai, cần nhìn nhận hiệu quả kinh tế của dự án xa hơn.

– Tuy nhiên, một giáo sư trong Hội đồng nghiệm thu dự án thì quả quyết: Dự án chè Nhật hoàn toàn không có hiệu quả kinh tế, là dự án làm nghèo đất nước và không ai chịu trách nhiệm. Được biết tới đây, Bộ NN&PTNN sẽ làm thủ tục chuyển dự án trồng 130 ha chè Nhật này sang hình thức trồng thử nghiệm phục vụ nghiên cứu để làm nhẹ vấn đề.

– Nếu vậy, điều này cũng đồng nghĩa với việc một số người ra quyết định đầu tư dự án chè Nhật đã bắt hàng trăm hộ dân phá mận trồng chè dẫn đến trắng tay, đầu tư tiền của Nhà nước thiệt hại hàng tỷ đồng đã phủi bỏ được trách nhiệm. Và các lý do khiến dự án phá sản đều là tại thời tiết.

Chương III

Giải Pháp Phát Triển Cây Chè Shan Tuyết Tại Mộc Châu

 

  1. I.        Cơ hội và thách thức đối với sự phát triển cây chè Shan Tuyết

1.1 Cơ hội

– Là sản phẩm truyền thống , có xuất xứ từ lâu đời , thậm chí có những cây chè Shan Tuyết tuổi đời lên tới hàng trăm năm tuổi

– Chè xanh Shan Tuyết Mộc Châu và Chè Shan Tuyết Mộc Châu là 2 sản phẩm chè Việt Nam duy nhất có thương hiệu trên thị trường thế giới

Nếu như trước đây , sản phẩm chè Shan Tuyết Việt  Nam chỉ được xuất khẩu sang 3 thị trường trên thế giới thì nay đã là 110 thị trường . Trong đó có tới hơn 70 thị trường được bảo hộ . Trong đó có những thị trường coi chè là thức uống không thể thiếu hàng ngày như Arap Xê út , Kenia , Trung Quốc …..

Các thị trường mới lien tục được mở rộng như Đức , Hà Lan ….

Bên cạnh đó , việc các nước xuất khẩu chè lớn như Ấn Độ , Srilanca , Pakisstan , với tình hình diễn biến thời tiết phức tạp , hạn hán , sâu bệnh , làm cho lượng xuất khẩu chè giảm , trong khi đó , cung không đủ cẩu , đây là một cơ hội lớn cho chè Shan Tuyết Mộc Châu vốn đã có thương hiệu sâm nhập và phát triển mạnh mẽ .

1.2 Thách Thức

Việt Nam vừa gia nhập WTO , thị trường được mở rộng , không bị các rào cản thuế khóa ngăn chặn càng làm cho việc sâm nhập các thị trường này trở nên dễ dàng hơn

Bên cạnh các cơ hội đó , thách thức đi kèm cũng là rất lớn , khi gia nhập thị trường thế giới , Việt Nam còn phải chịu nhiều sự cạnh tranh khốc liệt từ các nước cũng sản xuất , xuất khẩu chè Shan Tuyết

Việc giữ được chất lượng sản phẩm cũng như  thương hiệu của mình cũng là 1 thách thức lớn với chè Việt Nam

  1. II.    Định hướng và mục tiêu phát triển cây chè Shan Tuyết Mộc Châu

1.1 Định hướng

Từ lâu cây chè đã là nguồn thu nhập chính của người dân ở nhiều tỉnh trung du miền núi phía bắc. Ở tỉnh Sơn La, cây chè Shan Tuyết được trồng nhiều ở  huyện Mộc Châu. Tại huyện Mộc Châu, do xác định được giá trị, lợi thế của cây chè Shan Tuyết trong phát triển kinh tế ở huyện, chính quyền địa phương đã có quy hoạch, định hướng và chủ trương đưa cây chè trở thành cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao, giúp người dân xoá đói giảm nghèo.

Đến hết năm 2008, toàn huyện Mộc Châu có khoảng 5000 ha chè trung du, trong đó chủ yếu tập trung ở các xã:Chiềng Ve , Tô Múa , Cao nguyên Mộc Châu , nông trường cờ đỏ…Đặc biệt, với lợi thế điều kiện đất đai, khí hậu tương đối thuận lợi, phù hợp với cây chè trung du, huyện đã chủ trương tập trung phát triển vùng chè trung du tại Vùng kinh tế trung tâm của huyện, trong đó sẽ tiếp tục đưa các giống chè chất lượng cao vào trồng thay thế cho các giống chè cũ, già cỗi, năng suất, chất lượng thấp. Điển hình như ở nông trường cờ đỏ hiện nay toàn xã có khoảng 140ha chè, tập trung ở các thôn: Cửa Khe, Làng Chẽ, Đèo Vai 1, Đèo Vai 2…

 Trước kia ở Mộc Châu chủ yếu là giống chè Shan Tuyết lá nhỏ được trồng bằng hạt, năng suất, chất lượng thấp. Từ năm 2000 trở lại đây, đã có nhiều giống chè mới, được trồng bằng cành, năng suất, chất lượng vượt trội được đưa vào trồng thay thế giống chè cũ, ngày càng già cỗi. Từ giống chè cành chất lượng cao này nhiều hộ dân đã có điều kiện phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho gia đình”.

Nếu như với giống chè cũ, trung bình người dân được thu hoạch 2 lứa/tháng với sản lượng khoảng 20-25kg chè khô/lứa (hộ trồng nhiều thì được 40-50kg/lứa), nhưng với chè trung du chất lượng cao thì trong khoảng 30-40 ngày mới cho thu hoạch 1 lần, năng suất đạt khoảng 50-60kg chè khô/lứa. Trong khi đó, giá chè trung du chất lượng cao vào khoảng 50-60 nghìn đồng/kg vào chính vụ, và 80-90 nghìn đồng/kg khi cuối vụ, cao gấp đôi giá chè trung du lá nhỏ. Rõ ràng, với giá trị kinh tế và năng suất như vậy, cây chè trung du chất lượng cao đang là một hướng đi triển vọng cho người trồng chè ở Mộc Châu. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay là, để mở rộng vùng chè chất lượng cao, thay thế những diện tích chè trung du lá nhỏ ngày càng già cỗi thì người dân phải có sự đầu tư tương đối lớn. Nếu trồng chè trung du lá nhỏ, người dân chỉ phải đầu rư phân bón, ngày công, còn nguồn giống có thể nhân giống từ diện tích chè đã có của gia đình, hoặc mua giống thì chi phí không đáng kể. Nhưng với cây chè trung du chất lượng cao, người trồng chè sẽ phải bỏ ra một khoản chi phí lớn để đầu tư mua giống và công chăm sóc, nhưng không phải người dân nào cũng có khả năng đầu tư được.

Trước vấn đề đó, huyện Mộc Châu đã có chủ trương hỗ trợ nhân dân mở rộng vùng chè chất lượng cao, bằng cách hỗ trợ nhân dân mua giống từ tỉnh ngoài.

1.2       Mục Tiêu

Trở thành một sản phẩm không thể thiếu trong thị trường nội địa

Phát triển mạnh cây chè Shan Tuyết truyền thống , tạo công ăn việc làm , xóa đói giảm nghèo cho giúp người dân cải thiện kinh tế

Củng cố thương hiệu tại thị trường trong nước , khẳng định thương hiệu chè Shan Tuyết trên thị trường thế giới

Hướng tới mở rộng thị trường nội địa , không chỉ ở miền Bắc mà còn đi sâu vào phía miền nam .

Mở rộng thị trường xuất khẩu , không chỉ tại các nước như như Đài Loan , Hàn Quốc … mà còn các nước tại Châu Âu , 1 số nước có nhu cầu sử dụng chè lớn như Trung Quốc , Ấn Độ

  1. III.                Giải Pháp phát triển cây chè Shan Tuyết tại Mộc Châu

1.1 Giải pháp về công nghệ

Sản xuất chè Shan an toàn hơn , đảm bảo hơn và với kỹ thuật tiên tiến hơn.

1.1.1  Giải pháp về đánh giá và lựa chọn vùng sản xuất

Tùy theo điều kiện cụ thể lựa chọn quy mô hợp lý cho vùng sản xuất , khu sản xuất tập trung nên đảm bảo các điều kiện sau :

– Đồi chè có độ dốc bình quân hợp lý , nếu độ dốc quá cao khó khăn cho việc trồng trọt , thu hái và thực hiện biện pháp quản lý tổng hợp dồi dào nước ngầm , mùa mưa thoát nước nhanh , hkoong bị úng . Nhiệt đồ không khí trung bình năm : 18-25 độ C , ở khoảng nhiệt độ này cây chè sinh trưởng khỏe , tính chống chịu tốt , thuận lợi quản lý cây trồng tổng hợp . Độ ẩm không khí trung bình năm trên 80% . Lượng mưa trung bình hàng năm khống chế khoảng 1000-1200mm .

– Nguồn nước , đất và không khí không bị nhiễm độc chất hóa học và vi sinh vật . Cần xem xét kỹ nguồn nước sử dụng có nguy cơ bị ô nhiễm hay không , nếu có cần đưa ra biện pháp ngăn ngừa có hiệu quả , đặc biệt là sự ô nhiễm tiềm ẩn từ những dòng chảy , ống cống và khí thoát từ ống khói nhà máy . Xây dựng được các hồ đập giữ nguồn nước mặt , tao nguồn nước tưới và giữ ẩm trong mùa khô .

– Trong trường hợp vùng sản xuất bị ô nhiễm bất kháng , thì không tiến hành sản xuất và trồng chè .

1.1.2 Giải pháp về giống chè

Tìm hiểu để sử dụng các giôgns chè mới có năng suất , chất lượng cao và khả năng chống chịu tốt , nhân giống bằng phương pháp giâm cành ( có phụ lục Qui trình kỹ thuật nhân giống bằng cành kèm theo ) . Các giống được trồng là giống đã được cấp quản lý có thẩm quyền cho phép phát triển . Mỗi vùng sản xuất nên cơ cấu giống chè Shan tại địa phương với giống được chè Shan được nhập về , hoặc giống chè Shan mới để có thể phát triển hài hòa theo từng vùng . Hiện nay các giống mới như Shan Chất Tiền , Shan Tham Vè thích hợp để trồng ở các vùng có độ cao từ 600-1000m . Người trồng chè cần tìm hiểu kỹ lý lịch và đặc điểm của từng giống để lựa chọn cho phù hợp với điều kiện sản xuất và thị trường tiêu thụ .

– Mật độ trồng : các giống chè thân gỗ như Shan nên trồng với mật độ 1.5-1.8 vạn cây /ha , trồng hàng đơn

1.1.3 Giải pháp về quản lý đất

Đất trồng chè Shan phải được quản lý và sử dụng theo hướng ngăn ngừa mọi khả năng ô nhiễm và độ phì nhiêu của đất ngày càng tăng . Theo đó , cần chú trọng canh tác :

– Hàm lượng chất hữu cơ trong đất là yếu tố quan trọng duy trì độ phí nhiêu và kết cấu của đất . Đảm bảo đủ lượng hữu cơ trong đất sẽ ngăn chặn xói mòn , làm cho đất luôn tươi xốp , chất dinh dưỡng càng ngày càng tăng , trên cơ sở đó cây chè sử dụng nước có hiệu quả , vì thế hạn đối với chè sẽ không hoặc khó mà xảy ra . Đất chè nên được duy trì hàm lượng mùn tổng số 2% trở nên .

– Chất hữu cơ trong đất chè được duy trì trước tiên từ cành lá chè đốn giữ lại hàng năm , tiếp sau là được làm giàu hơn bằng nguồn bổ sung qua việc tủ gốc cho chè từ thân lá thực vật không bị nhiễm bẩn , lá rụng . cành tỉa của các loại cây che bóng , cây trồng xen thời kỳ chè KTCB , tốt nhất là các loại cây có hàm lượng dinh dưỡng cao .

Nguồn vật chất hữu cơ cho đất chè :

– Giữ lại cành lá chè đốn ( nương chè năng suất 10 tấn/ha có thể cho lượng cành lá đốn 10 tấn /ha ) không nên dùng cành lá chè đốn làm củi đun nấu :

– Trồng cây chè che bóng để bổ xung lá rụng và cắt tỉa hàng năm của cây chè bóng ( chè Shan lá nhọn , Shan lá tán )

– Tủ gốc bằng tế guột , rơm , rạ trồng cỏ ghi nê , … lượng tủ ước chừng 20 tấn / ha . 3-5 năm tủ 1 lần

– Thời kỳ cây chè mới trồng cần đặc biệt lưu ý trồng xem các cây có khả năng cải tạo đất cho lượng chất xanh lớn (  cốt khí , chàm lá nhọn …) cây cốt khí trồng xen có thể cho 30-40 tấn /ha nếu được đầu tư chăm sóc tốt

– Đối với phát triển vùng chè Shan mới , đồi chè Shan mới cần phải có kế hoạch cải tạo đất trước khi trồng chè2 năm từ cây cốt khí , cỏ ghi nê , lạc dài và các loại rau đậu .

– Chè sinh trưởng tốt trong khoảng pH từ 4-5.5 , cho nên trong quá trình canh tác luôn kiểm tra pH đất đẻ kịp thời điều chỉnh . Nếu pH cao cần sử dụng phân bón có chứa lưu huỳnh . Nếu đất trở nên quá chua ( pH < 4 ) có thể sử dụng vôi vào thời gian đốn với cá lượng 2-3 tấn/ha , sử dụng có chất lượng tốt là vôi dolomitic ( vôi có chưa magie và cacbonat )

– Không trồng chè trên những vùng đất có pH > 5.5 . Đất có pH cao thì sinh trưởng của cây rất kém , lá cây bị héo và rễ cây bị sùi

– Có thể chuẩn đoán pH thích hợp trong quá trình canh tác qua quan sát sinh trưởng của cây và sự có mặt của các cây chỉ thị . nếu cây chè sinh trưởng khỏe mạnh và có mặt các cây họ sim , mua ở xung quanh vườn chè thì đó là độ pH thích hợp .

Xói mòn đất chè :

– Xói mòn đất chè có thể xảy ra rất mạnh nếu không có giải pháp ngăn chặn hữu hiệu , điều quan trọng nhất là phải duy trì độ che phủ trên mặt đất bằng cây trồng lâu năm , và cây chè Shan vẫn được voi là cây chè chống xói mòn hiệu quả với đất dốc vì tuổi đời cao , trồng được dày theo hàng 1 . Tuy vậy nếu mưa quá lớn vẫn có thể dẫn đến xói mòn đất ở vùng trồng chè , nhất là ở những vị trí không có cây chè ( đường đi , khu giao nhau của các con đường , các khoảng trống khác … ) thời gian chè chuận bị trồng mới và các thời kỳ chè mới trồng chưa kịp khép tán

– Cần lưu ý là ở độ pH 4.5-5.5 thì chỉ cần 1 đoạn thời gian ngắn thôi mặt đất không được bao phủ bứi chất hữu cơ , nước có thẻ làm bí đất và những thực vật kém phát triển có thể làm hỏng cấu trúc đất.

Khống chế xói mòn đất :

– Nhất thiết phải trồng chè theo những đường đồng mức , tạo độ nghiêng ra một cách đáng kể , đặc biệt những vùng có độ dốc cao > 20 độ cần trồng cỏ ghi nê hàng đơn hoặc dứa Cayen , cứ sau 10 hàng chè có thể trồng phụ 1 hàng ở giữa đường đồng mức . Cần đào những rãnh phù sa ( toàn bộ hoặc cục bộ )ở bất cứ độ dốc nào để cản nước chảy và giữ nước . Thiết kế và đào những rãnh phù sa phải được để ý và suy xét tới sự an toàn trong quá trình thu hái .

– Ở tất cả các vị trí sự xói mòn đất cục bộ xảy ra khốc liệt , cần phải thực hiện sự ngăn càn bằng tất cả các biện pháp hữu hiệu nhất ( trồng cỏ , đào rãnh ngăn , trồng cây to chắn phía trên , v…v )

– Phải chú ý cẩn thận đến việc xây dựng những con mương thoát nước , những mương này cần cắt ngang dòng chảy , chặn các dòng chảy làm lưu lượng nước , chảy chậm kết quả làm giảm sự xói mòn . Nên trồng loại chỏ thích hợp dọc theo những con mương để cản nước và xói mòn đất trước khi đất chảy vào mương .

– Che phủ đất : Trên vùng chè Shan chuẩn bị trồng mới , trước khi trồng chè cây che phủ đất được gieo trồng càng sớm càng tốt ngay sau khi làm đất tối thiểu . Lựa chọn các cây trồng che phủ thích hợp , với cây họ đậu , cây cỏ có thể dùng làm thức ăn gia súc , cốt khí , chàm lá nhọn . Vườn chè mới trồng cần được trồng xen cây họ đậu và tủ gốc bằng rơm rạ hoặc cỏ khô . Ngoài ra , kỹ thuật trồng chè mật độ dày , hàng kép đối với các giống hạn chế mở rộng tán sẽ làm giảm xói mòn đất rất có ý nghĩa

– Không chăn thả gia súc , gia cầm trong vườn chè , không bón vào đất các loại phân có nguy cơ gây ô nhiễm như : phân chuồng tươi , nước thải trực tiếp người , động vật , nước thải sinh hoạt nhà máy .

1.1.4           Giải pháp về phân bón phụ gia

Hiện nay để trồng chè có hiệu quả kinh tế đòi hỏi phải sử dụng phan bón trên tất cả các loại đất . Về nguyên tắc toàn bộ chất dinh dưỡng đưa vào , kể cả các khoáng vật từ đất và chất hữu cơ , nên tương đương lượng chất dinh dưỡng cây đã lấy đi trong quá trình thu hoạch sản phẩm , cần phải tính toán cả lượng được tổng hợp từ rễ của cây trồng che phủ  đất hoặc trồng xen , lượng tồn tại trong cơ thể của cây chè . Để sử dụng hiệu quả , tiết kiệm phân bón cần phải giảm hao hụt dinh dưỡng trong các trường hợp . dòng chảy cuốn đi khi mưa , khi tưới nước , sự bốc hơi nước và trong quá trình canh tác . Hết sức chú ý đến sự mất đạm và lân dễ tiêu trên bề mặt , quá trình lắng xuống và sự xói mòn đất .

Trong quá trình cân đối đạm , việc bón đạm vi sinh , hoặc dưới dạng đạm hữu cơ cần phải được chú ý ở mức cao nhất , kết hợp bổ sung phân vi lượng sẽ luôn làm tăng hiệu quả của việc sử dụng đạm , lân và kali cũng như các chất dinh dưỡng khác.

1.1.5           Giải pháp vê nước tưới

Chỉ sử dụng nguồn nước tưới đã được xác định không bị ô nhiễm hóa chất và vi sinh vật . Khôn sử dụng nước từ những vùng sản xuất công nghiệp , nước thải nhà máy vì nó có thể đem lại các chất độc hại hoặc gây ô nhiễm

– Sử dụng nước tưới bằng các phương pháp tưới tiết kiệm , tránh lãng phí

– Chỉ lên áp dụng tưới ở những nơi mà ở đó có nguồn nước dư thừa , đầu tư cho tưới thấp và sản xuất chè có hiệu quả cao

– Cần phải có nhà máy xử lý nước , không để nước thải trực tiếp của các nhà máy chảy vào dòng sông hay kênh suối ; cần cung cấp thiết bị tốt nhất cho việc thực hiện xử lý nước cung cấp cho cộng đồng

– Luôn chú trọng xây dựng và bảo trì các đập nước và hệ thống dẫn nước

– Xây dựng nhà với kiểu mái lợp thích hợp để có thể thu giữ nước mưa vào trong các thùng chưa để phục vụ dự trữ nước

1.1.6           Giải pháp về thu hoạch và sử lý sau thu hoạch

Áp dụng kỹ thuật hái theo khống chề về chiều cao vết hái của vụ xuân 10cm , có nghĩa là vụ chè hái đầu tiên trong năm chỉ hái những búp có chiều cao 10 cm tính từ vết đốn , những lần hái sau phẩm cấp theo yêu cầu chế biến các sản phẩm thành chè

Khi thu hoặc chè bằng tay ( hoặc máy ) nên đựng trong các giỏ hoặt sọt chắc , nhẹ , không có mùi lạ

– Chè bỏ vào sọt không được lèn chặt , tránh làm dập nát chè

– Chè tươi sau khi thu hoạch phải được đưa ngay về nơi chế biến ( chậm nhất không quá 8 giờ )

2    .Một số giải pháp chủ yếu nhằm phấn đấu tăng lợi nhuận ở  công ty chè mộc châu trong thời gian sắp tới.

  Trong năm qua, mặc dù sẳn xuất kinh doanh có sự cạnh tranh khốc liệt giữa những sản phẩm đồ uống có thể thay thế chè, cạnh tranh giữa các thị trường chè và các lò mi ni trong địa bàn dân cư. Trước những khó khăn mới  phát sinh , khó khăn cũ tồn tại. Công ty chè Mộc châu đã từng bước đẩy lùi khó khăn, nỗ lực phấn sđấu và đã đạt đước kết quả nhất định trong sản xuất kinh doanh. Công ty đã khảng định được thế mạnh của mình trong cạnh tranh. Xét trong điều khiện khó khắn chung của các doanh nghiệp hiện nay thì đây là điều đáng mừng bởi vì Công ty đã bảo toàn và phát triển được vốn, mở rộng sản xuất kinh doanh, đảm bảo kinh doanh có lãi.

  Qua xem xét tình hình sản xuất kinh doanh và các công tác quản lý sản xuất của Công ty trong năm qua, xin mạnh dạn đưa ra một số ý kiến nhằm gớp phần cải tiến công tác tổ chức quản lý sản xuất và đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, góp phần mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh và tăng lợi nhuận cho công ty.

2.1 Đẩy mạnh công tác tiêu thụ trên cơ sở củng cố vững chắc thị trường truyền thống, phát thiển vả mở rộng thị trường mới.

  Nói đến sản xuất hàng hóa là phải nói đến thị trường tiêu thụ. Sản xuất kinh doanh trong điều kiện hiện nay thì thị trường là căn cứ, là mục tiêu để doanh nghiệp hoạch định kế hoạch sản xuất của mình. Chính sách phát triển sản xuất, chính sách giá cả, chính sách bán hàng của Công ty.. đều phải được xây dựng phù hợp với yêu cầu của thị trường. Thì trường tồn tại khách quan còn kế hoạch thuộc về chủ quan của doanh nghiệp. Bởi vậy, thị trường phải được nghiên cứu trước khi đề ra kế hoạch sản xuất. Các doanh nghiệp cần phải nắm vững và quán triệt quan điểm: ”sản xuất những cái gì thị trường cần chứ không phải sản xuất những gì mình có sẵn”.

  Trong năm qua Công ty đã chú trọng đến công tác tiêu thụ sản phẩm nhưng kết quả chỉ dừng lại ở mức độ nhất định. Để đẩy mạnh việc nghiên cứu mở rộng thị trường và tăng hơn nữa sản phẩm tiêu thụ Công ty nên chú ý một số biện pháp sau.

2.2 Tăng cường công tác quảng cáo và giới thiệu sản phẩm.

Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh về giá cả ngày càng ít có ý nghĩa quan trọng, thay vào đó là cạnh tranh về sản phẩm và cạnh tranh về các dịch vụ. Các doanh nghiệp kinh doanh coi dịch vụ bán hàng như một vũ khí sắc bén để cạnh tranh hòng giành ưu thế trên thị trường. Những hoạt động quảng cáo được xem như trợ thủ đắ lực để thu hút khách hàng  về phía mình. Tăng cường công tác quảng cáo, giới thiệu sản phẩm là một biện pháp nhằm đẩy mạnh quá trình tiêu thụ sản phẩm. Trong thời gian qua, Công ty chè Mộc Châu chưa chú trọng đến công tác quảng cáo, giới thiệu sản phẩm nên hầu như ta ít gặp biển quảng cáo của công ty chè Mộc Châu trên báo trí và trên truyền hình do đó phẩn nào cũng hạn chế việc tiêu thụ sản phẩm. Thực tế, Công ty cũng đã tham gia các hội chợi triển lãm song thực tế vẫn chưa thu hút được khách hàng quan tâm đến sản phẩm của Công ty. Năm 2001, chi phí quảng cáo, giới thiệu sản phẩm của công ty chỉ có 93.5 triệu chiếm 12.6% chi phí bán hàng và 0.32% trong tổng giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ.

Vậy để sản lượng tiêu thụ ngày một tăng cao, thì Công ty cần quan tam hơn nữa đến công tác quảng cáo giới thiệu sản phẩm qua các phương tiện thông tin đại chúng. Thông qua đó người tiêu dung sẽ nhận ra những tính ưu việt về chất lượng, giá cả sản phẩm của Công ty. Công ty có thể tự tạo cho mình các cách quảng cáo hiệu quả mà không tốn kém như bằng thư, quảng cáo bằng tờ rơi hay quảng cáo trên báo chí hàng ngày.

– Quảng cáo bằng thư, bằng tờ rơi: việc quảng cáo này có thể đạt hiệu quả nếu như cách diễn đạt và trình bầy gây được sự chú ý và cuốn hút của người đọc trong vài giây khiến cho họ phải quan tâm và dành thời gian đọc kỹ toàn bộ tờ rơi hay bức thư quảng cáo. Tờ quảng cáo phải trình bày ngắn gọn, phải nói lên được tính ưu việt của sản phẩm một cách rõ rang, thuyết phục. người đọc phải thấy mình được quan tâm và thấy được lợi ích khi sử dụng sản phẩm của Công ty.

Quảng cáo trên báo chi: Phải xác định rõ sản phẩm nào cần quảng cáo, từ đó chọn tờ báo thích hợp để quảng cáo, khi chọn tờ báo quảng cáo cần chú ý đến số lượng báo được in ra, số lượng người tiếp cận với tờ báo đó và so sánh với phí chi phải trả cho quảng cáo để tính được hiệu quả  tjiwck tế và cách trình bày vẫn như đối với quảng cáo bằng thư và tờ rơi.

Ngoài ra bao bì sản phẩm cũng là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của sản phẩm đối với khách hàng. Ngoài chức năng thẩm mỹ, bao bì còn có chức năng bảo quản sản phẩm. Mặt khác, bao bì cũng thực hiên chức năng thong tin quảng  cáo và hướng  dẫn khách hàng sử dụng hợp lý sản phẩm, ngăn ngừa hàng giả, hàng nhái…Vì vậy, để đẩy mạnh khả năng tiêu thụ Công ty cần chú trọng tới mẫu mã bao bì. Bao bì của sản phẩm cần phải đạt được tiêu chuẩn sau: Thứ nhất, phải bảo vệ tót sản phẩm. Thứ hai, phải đảm bảo thẩm mỹ và tiện lợi cho người tiêu dung. Thứ ba, giá thành bao bì phải hạ, phù hợp với thị hiếu tập quán của người tiêu dung và thích ứng với những tiêu chuẩn quy định của thị trường.

3 Giải pháp về thị trường cho chè Shan Tuyết

3.1 Thị trường thế giới

  Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải có thị trường tiêu thụ bởi vì thị trường tiêu thụ là khâu quan trọng nhất của quá trình sản xuất kinh doanh. Sản phẩm chè là loại hàng hóa để uống phục vụ cho cuộc sống của con người hàng ngày. Sản phẩm luôn chịu sự cạnh tranh gay gắt và thường xuyên, tuy nhiên, nếu chất lượng tốt, giá cả hợp lý, hoạt động công tác thị trường tốt thì việc duy trì ổn định sản xuất không khó. Do vậy các năm tới cần tập trung vào một số giải pháp sau:

  -Đối với thị trường chè đen: Đay là thị trường tiêu thụ sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trên 60% so với tổng sản phẩm tiêu thụ hàng năm. Mặc dù giá cả còn thấp song thị trường này lại rất rộng, sản phẩm tiêu thụ trên nhiều nước trên thế giới. Do đó, một mặt cần giũ ổn định thị trường ở Tổng Công ty chè Việt Nam, mặt khác, cần khai thác mở rộng để sản xuất trực tiếp cho các nước bằng hình thức ủy thác thu qua tổng công ty chè Việt Nam.

  -Đối với thị trường chè xanh Nhật Bản: Là nước sản xuất chè đứng thứ 6 trên thế giới song cũng là nước nhập khẩu chè lớn vì sản xuất không đủ cho tiêu dùng trong nước. Đây là thị trường có thị hiếu riêng khác với một số nước dùng chè xanh. Nên sản phảm làm ra chỉ tiêu thụ cho Nhật Bản. Với công ty có lợi thế là đang hợp tác sản xuất với Nhật Bản nên thị trường này cần được duy trì, do đó phải sản xuất chè có chất lượng tốt, giảm chi phí trong sản xuất để nâng cao sản lượng mỗi năm lên.

  -Đối với thị trường chè xanh Đài Loan: Đây là khách hàng đã làm với Công ty nhiều năm, thường trọng chữ tín trong quan hệ mua bán, song yêu cầu sản phẩm chè phải làm bằng thiết bị công nghệ của họ. Nên các năm tới cần phát triển giống chè Đài Loan để có sản phẩm ổn định cung cấp cho thị trường này.

3.2 Thị trường trong nước

  Đây là thị trường có lợi thế cạnh tranh vì chất lượng chè Mộc Châu đã có tiếng. Vẫn đề là các năm tới cần xúc tiến hơn nữa về công tác thị trường ngoài việc giữ ổn định về chất lượng còn phải tăng them các sản phẩm chè có chất lượng tốt, hương thơm tự nhiên như chè Kim Huyên, Bát Tiên, chè giống Trung Quốc kết hợp với chè shan tuyết Mộc Châu để đa dạng hóa các loại sản phẩm nhằm phù hợp với nhu câu thị hiếu của nhiều người. Thông qua hình thức đại lý tiêu thụ chè tiến tới mở rộng thị trường vào khu vực thủy điện Sơn La, mở rộng vào thành phó Hồ Chí Minh và các tỉnh phía nam. Mở rộng xuống Hải Phòng vả các tỉnh miền xuôi nhằm nâng cao hơn nữa sản phẩm tiêu thụ từ đó kéo theo doanh thu tiêu thụ sản phẩm tăng lên và chắc chắn làm tăng lợi nhuận cho Công ty.

Tham gia hội nghị khách hàng.

Ngoài các biện pháp kể trên nhằm đẩy mạnh sản lượng tiêu thụ, hàng năm Công ty cũng cẩn mở hội nghị khách hàng đối với số khách hàng lớn thường xuyên tiêu thụ sản phẩm của công ty. Hội nghị khách hàng là nơi công ty và khách hàng gặp gỡ trao đổi những thông tin cần thiết về khả năng tiêu thụ, nhu cầu thị trường, thông tin về sản phẩm của mình…Ngày hội đó sẽ có ý nghĩa rất lớn bởi qua đó công ty sẽ nắm được ý kiến của khách hàng về những ưu điểm, nhược điểm của từng loại sản phẩm, nắm được xu hướng tiêu dùng để từ đó có biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm đối với từng loại sản phẩm. Qua đó, Công ty có thể xây dựng kế hoạch sản xuất hợp lý, điều chỉnh kết cấu mặt hàng cho phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng.

  Sử dụng hợp lý các biện pháp trên sẽ thúc đẩy tiêu thụ làm cho số lượng sản phẩm tiêu thụ tăng lên. Bởi vị, tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng là khâu quyết định đến kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty. Có tiêu thụ được sản phẩm thì mới có doanh thu và lợi nhuận. Chính vì vậy thực hiến tốt khâu tiêu thụ sẽ là cơ sở nâng cao lợi nhuận cho Công ty.

Chú trọng nâng cáo chất lượng sản phẩm.

  Chất lượng sản phẩm luôn là vấn đề sống còn của các Công ty. Một sản phẩm được tung ra trên thị trường và được thị trường chấp nhận song không có gì để đàm bảo chắc chắn rằng sản phẩm đó sẽ tiếu tục thành công nếu Công ty không cải tiếu mẫu mã nâng cao chất lượng sản phẩm. Vì thế để giữ vững và nâng cao uy tín sản phẩm của Công ty bắt buộc Công ty phải nâng cao chất lượng sản phẩm. Hơn nữa việc nâng cao chất lượng sản phẩm không những tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm, tăng tốc độ chu chuyển vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn mà còn có ý nghĩa thiết thực đối với người tiêu dùng và xã hội. Để nâng cao chất lượng sản phẩm cần nâng cao tay nghề công nhân, đổi mới mua sắm một số máy móc thiết bị cho đồng bộ. Hiện nay lực lượng lao động có trình độ đại học, cao đẳng ít chỉ chiếm 2,42% tổng số lao động, lực lượng lao động có trình độ trung cấp cũng thấp chỉ chiếm 8,97%. Về công nhân chủ yếu là lao động bấc thấp chiếm trên 60%. Điều này chứng minh cocong nhân đa số còn trẻ cần được đào tạo để nâng cao tay nghề. Thiết bị sản xuất của Công ty chưa đồng bộ, hiện nay Công ty vẫn còn sử dụng những máy móc từ thập kỷ 80, có công đoạn thì làm hoàn toàn bằng máy có cocong đoạn làm hoàn toàn bằng thủ công. Việc sản xuất như thế sẽ làm cho chất lượng sản xuất không cao và năng suất thấp. Tuy nhiên, Công ty cũng không nên quá chú trọng tới công tác nâng cao chất lượng  mà làm cho chi phí tăng. Bởi vì để nâng cao chất lượng sản phẩm thì Công ty phải không ngừng đổi mới cải tiến, nâng cấp máy móc thiết bị, tổ chức đào tạo bồi dưỡng tay nghề cho người lao động, nguyên liệu đưa vào sản xuất phải đảm bảo chất lượng… Tất cả các biện pháp trên đều làm cho chi phái tăng mà việc tăng chi phsi sẽ làm cho giá thành tăng. Nếu với mức giá bán không đổi sẽ làm cho lợi nhuận đơn vị giảm xuống hoặc giá thành tăng có thể kéo theo đó là sự tăng giá bán có thể sẽ làm cho khối lượng  tiêu thụ giảm vã cũng sẽ làm cho lợi nhuận giảm. Việc nâng cao chất lượng sản phẩm là một giải pháp tốt cho mọi doanh nghiệp nhưng nâng cao như thế nào, bằng hình thức nào để chất lượng tăng mà chi phí không tăng hoặc tăng không đáng kể. Để có thể áp dụng biện pháp này, Công ty cần phải thấy rỏ rang việc tăng chất lượng cùng với việc tăng giá thành có làm cho lợi nhuận tăng lên không. Nếu chất lượng tăng lợi nhuận giảm và khả năng tăng lợi nhuận là không thể thực hiện được thì Công ty không nên áp dụng biện pháp này.

Tăng  cường công tác quản lý chi phi hạ giá thành sản phẩm.

  Hạ giá thành sản phẩm là biện pháp cơ bản để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đây thực sự là vũ khí lợi hại để tăng khả năng cạnh tranh đối với các doanh nghiệp cùng ngành.

  Năm 2001, nhìn chung công tác quản lý chi phí của công ty chưa tốt, tổng giá vốn hàng bán của công ty năm 2001 tăng 7,08% so với kế hoạch. Đặc biệt chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 7,08% so với kế hoạch đặt ra. Đặc biệt chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 109,55% so với kế hoạch.

4. Giải pháp về vốn cho cây chè Shan Tuyết

4.1 Nâng cao hiệu quả sự dụng vốn kinh doanh của Công ty.

  Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp và không thể thiếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Sử dụng vốn có hiệu quả là làm cho lợi nhuận thu được trên một đồng vốn bỏ ra ngày càng nhiều hơn. Trong thời gian tới, để sử dụng đạt hiệu quả cao hơn các loại vốn Công ty cần:

  Thứ nhất: Huy động tối đa các tài sản cố định tham gia vào sản xuất, tận dụng tối đa công suất, khai thác triệt để tính năng tác dụng sẵn có và không ngừng cải tiếu kỹ thuật để đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng sản phẩm của công  ty. Đồng thời cần nhượng bán thanh lý ngay các tài sản cố định không cần dùng cũng như đã lạc hậu nhằm thu hồi lại vốn để đầu tư vào những tài sản cố định cần đổi mới. Làm được như vậy hiệu quả sử dụng tài sản cố định, vốn cố định cũng như doanh lợi vốn cố định của công ty chắc chắn sẽ tốt hơn.

  Thứ Hai: Công ty cần đẩy nhanh công tác thu hồi vốn bị chiếm dụng. Theo số liệu năm 2001 các khoản phải thu chiếm 50,34% vốn lưu động của công ty. Con số này là quá  cao cho dù thực tế hiện nay là muốn có được thị trường và mở rộng thị trường thì các doanh nghiệp cần cấp tín dụng thương mại cho nhau. Nhưng để khách hàng chiếm dụng vốn quá nhiều sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ tới việc sản xuất kinh doanh của Công ty. Để tránh tình trạng bị chiếm dụng quá nhiều vốn trong thời gian tới Công ty cần:

  -Mở sổ theo dõi chi tiết theo từng khách nợ, từng  khoản nợ để tiện cho việc theo dõi, đôn đốc thu hồi nợ.

Định kỳ tiến hành đối chiếu, xác nhận công nợ để đảm bảo nhanh chóng thu hồi đầy đủ, đúng hạn. Có những hình thức thưởng cho những bạn hàng trả nợ sớm hạn và đúng hạn như tặng quà hay các hình thức đãi ngộ thỏa đáng khác.

  -Trong hoạt động cấp tín dụng thương mại cho khách hàng, cần áp dụng lãi suất phại quá hạn để ngăn chặn tình trạng khê đọng nợ, chậm thanh toán. Bên cạnh đó, hạn mức tín dụng áp dụng cho từng người phải được xây dựng trên cơ sở tài chính, tốc độ luân chuyển hàng hóa của khách hàng đó.

  -Thường xuyên nhắc nhở các khách hàng nợ đọng lâu.

  -Đối với các khoản nợ quá hạn, cần tiến hành phân loại để xử lý một cách thích hợp như gia hạn, giảm bớt nợ hoặc hoãn nợ để thu hồi nợ ở mức cao nhất có thể được.

  -Có thể từ chối cung cấp  sản phẩm đối với các đơn vị quá chầy ý cố tình trục lợi cho mình bằng cách chiếm vốn của các đơn vị khác.

  -Phạt vi phạm hợp đồng đối với các trường hợp thực sự cần thiết.

Cần có kế hoạch cụ thể đối với việc dự trữ hàng tồn kho, tính toán sao cho không tồn kho quá nhiều nguyên vật lieeu( cụ thể là nhiên liệu:than, ga, dầu) nhưng phải đảm bảo cho quá trình sản xuất không bị gián đoạn do thiếu nhiên liệu. Trong cơ chế thị trường hiện nay, việc công ty hướng tới phương pháp quản trị hàng tôn kho bằng không là điều có thể làm được. Việc hợp đồng chặt chẽ với các đơn vị cung cấp nhiên liệu kipwj thời sẽ giúp công ty dành ra một khoản vốn để sử dụng vào việc khác cũng như chi phi lưu kho và chi phí thực hiện hợp đồng.

  Hạch toán kế toán và phân tích hoạt động tài chính của doanh nhiệp là một bộ phận cấu thành của hệ công cụ quản lý, điều hành kiểm soát các hoạt động kinh doanh. Hiện nay cơ chế quản lý kinh tế, tài chính ở nước ta đã và đang có những đổi mới ssaau sắc và triệt để, Đảng và nhà nước ta đã và đang định hướng, điều chỉnh các mục tiêu kinh tế ở từng giai đoạn của nền kinh tế thị trường năng động có sự quản lý, kiểm soát của nhà nước. Hàng loạt chính sách kinh tế mới được ban hành đề cao vai trò, vị trí của nhà nước trong việc quản lý điều hành và kiểm soát nền kinh tế bằng luật pháp và bằng các biện pháp kinh tế các hệ thống công cụ quản lý kinh tế.

  Hạch toán kế toán với tư cách là một công cụ quản lý đã và cần có sự đổi mới, không chỉ dừng lại ở các số liệu ghi chép thuần túy, quan trọng hơn là thiết lập hế thống thông tin cho công tác quản lý.

  Do đó kế toán về mặt bản chất là một hệ thống đo lường sử lý và truyền đạt những thông tin có ích cho các quyết định kinh tế. Cũng có thể nói kế toán là một môn khoa học hoặc là một nghệ thuật ghi chép, phân loại, tổng hợp và lý giải các nghiệp vụ tài chính diễn  ra ở một tổ chức doanh nghiệp, làm căn cứ cho quyết định kinh tế. Kế toán là một trung tâm hoạt động tài chính của hệ thống thông tin quản lý. Nó giúp cho các nhà quản lý, các nhà kinh doanh có khả năng xem xét toàn diến các hoạt động của đơn vị mình đang diễm ra như thế nào.

  Trong cơ chế thị trường có sự cạnh tranh thì tình hình tài chính quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp và được nhiều đối tượng quan tâm chú ý đưa ra quyết định kinh tế có lien quan đến doanh nghiệp. Quan tâm đến tình hình tài chính, trước hết người ta quan tâm đến báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính là những số liệu thể hiện và truyển tài thông tin kế toán phục vụ cho lãnh đạo sử dụng thông tin, nhận biết tình hình kinh tế tài chính quá trình sản xuất kinh doanh của đơn vị mình mà đưa ra các quyết định kinh tế phụ hợp với mục tiêu của doanh nghiệp

  Để tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần phải có lượng vốn nhất định, bao gồm vốn cố định, vốn lưu động và các vốn chuyên dùng khác. Nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải tổ chức huy động và sử dụng vốn sao cho đạt hiệu quả cao nhất trên cơ sở chap hành các nguyên tắc tài chính, tín dụng và pháp luật.

  Việc thường xuyên phân tích tình hình tài chính sẽ giúp được cho các nhà lãnh đạo, người quản lý doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản câ[s trên thấy rõ thực trạng hoạt động tài chính, xác định được đầy đủ các thông tin và đúng đắn nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính. Từ đó có những giải pháp tích cực và huwux hiệu để ổn định hoặc tăng cường tình hình tài chính ở doanh nghiệp.

  Với mục đích, ý nghĩa của công tác kế toán và phân tích báo cáo tài chính của một doanh nghiệp thực sự cần thiết nó quyết định cho sự hoạt động và phát triển của một doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh nhất là ở môi trường cạnh tranh của cơ chế thị trường. Trong phạm vi cho phép của bản than tôi xin phép được phân tích một số cơ bản bằng phương pháp pháp so sánh số liệu và những nhận xét của bản than trong bảng cân đối tài chính và báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh năm 2001 của Cong ty chè Mộc Châu.

Tài liệu tham khảo

Báo cáo tổng hợp công ty chè Mộc Châu 2005-2010

Báo cáo tổng hợp công ty chè Việt Nam 2005-2010

Văn bản thực hành sản xuất chè an toàn : VietGap

Báo cáo kinh doanh các mặt hàng chè Shan Tuyết Mộc Châu 2000-2005 , 2005 – 2009 , 6 tháng đầu năm 2009

Báo cáo tình hình phát triển chè Shan Tuyết Mộc Châu

Cây chè Việt Nam” của tác giả Đỗ Ngọc Quỹ & Nguyễn Kim Phong “

Cây Chè: Sản Xuất – Chế Biến – Tiêu Thụ : Tủ sách hồng Bách Khoa

http://www.vitas.org.vn/

http://www.sonlatrade-tourism.gov.vn/

http://www.gso.gov.vn

http://tailieu.vn/

http://www.google.com.vn/

http://vi.wikipedia.org/

http://nomafsi.com.vn/


MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU.. 1

Chương I: Đặc điểm và sự cần thiết phát triển cây chè Shan Tuyết . 2

I.         Một số nét về tình hình hoạt động của công ty chè Mộc Châu.. 2

1.1     Quá trình hình thành và phát triển.. 2

1.2     Chức năng và nhiệm vụ của Công ty chè Mộc Châu.. 4

1.3     Đặc điểm tổ chức quản lý của công ty. 6

II.       Cây chè Shan Tuyết Mộc Châu. 6

III. Các nhân tố tác động đến sự phát triển cây chè Shan Tuyết ở Mộc Châu. 8

1.1     Điều kiện khí hậu và thời tiết. 8

1.2 Đất đai và thổ nhưỡng. 8

1.2.1    Lập địa. 8

1.2.2    Thổ nhưỡng. 9

1.3     Nguồn nước. 9

Chương II: Thực trạng phát triển cây chè Shan Tuyết ở Mộc Châu. 10

I.        Thực trạng phát triển cây chè Shan Tuyết ở Mộc Châu :. 10

1.1     Diện tích đất trồng :. 10

1.2     Sản lượng và giá trị chè Shan Tuyết trong những năm gần đây.. 12

1.3     Xuất khẩu chè Shan Tuyết –  thị trường thế giới. 14

1.4     Giống chè. 15

1.5     Về công nghiệp chế biến.. 15

II.       Đánh giá  các nhân tố tác động đến cây chè Shan Tuyết ở Mộc Châu. 16

III . Đánh giá chung về phát triển cây chè Shan Tuyết Mộc Châu. 17

1.1     Kết quả 17

1.2     Tồn tại. 18

1.3     Nguyên nhân.. 19

Chương III: Giải Pháp Phát Triển Cây Chè Shan Tuyết Tại Mộc Châu. 21

I.        Cơ hội và thách thức đối với sự phát triển cây chè Shan Tuyết. 21

1.1 Cơ hội. 21

1.2 Thách Thức. 21

II.       Định hướng và mục tiêu phát triển cây chè Shan Tuyết Mộc Châu. 22

1.1 Định hướng. 22

1.2     Mục Tiêu.. 23

III. Giải Pháp phát triển cây chè Shan Tuyết tại Mộc Châu. 23

1.1 Giải pháp về công nghệ. 23

1.1.1  Giải pháp về đánh giá và lựa chọn vùng sản xuất. 23

1.1.2 Giải pháp về giống chè. 24

1.1.3 Giải pháp về quản lý đất. 24

1.1.4    Giải pháp về phân bón phụ gia. 27

1.1.5    Giải pháp vê nước tưới. 27

1.1.6    Giải pháp về thu hoạch và sử lý sau thu hoạch.. 28

2 .Một số giải pháp chủ yếu nhằm phấn đấu tăng lợi nhuận ở  công ty chè mộc châu trong thời gian sắp tới. 28

2.1 Đẩy mạnh công tác tiêu thụ trên cơ sở củng cố vững chắc thị trường truyền thống, phát thiển vả mở rộng thị trường mới. 29

2.2 Tăng cường công tác quảng cáo và giới thiệu sản phẩm. 29

3 Giải pháp về thị trường cho chè Shan Tuyết. 31

3.1 Thị trường thế giới. 31

3.2 Thị trường trong nước. 31

4. Giải pháp về vốn cho cây chè Shan Tuyết. 34

Tài liệu tham khảo. 38


LỜI CAM ĐOAN

 

 

Em xin cam đoan chuyên đề tốt nghiệp thực tập “ Giải pháp phát triển cây chè Shan Tuyết Mộc Châu “ là công trình nghiên cứu của riêng em

Các số liệu trong luận văn được sử dụng trung thực. Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình nào khác.

Em xin chân thành cảm cơn các thầy cô trường Đại học học Kinh Tế Quốc Dân đã truyền đạt cho tôi kiến thức trong suốt những năm học ở trường

Em xin chân thành cám ơn các anh chị, cô chú tổng công ty chè Việt Nam đã tạo điều kiện , giúp đỡ tận tình trong việc khảo sát và thực hiện đề tài . Giúp em thực hoàn thành đề tài này .

Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn đã giúp đỡ em tận tình để có thể hoàn thành đề tài này

Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2010

                                                                        Tác giả đề tài

Sinh Viên : Đỗ Việt Cường

 

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
Bài này đã được đăng trong Luận văn, chuyên đề, khóa luận và được gắn thẻ , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s