CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ GIÁ


MỤC LỤC

1.    CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ GIÁ.. 2

1. 1.Lạm phát 2

1. 2.Lãi suất 3

1. 3.Cán cân thanh toán quốc tế. 3

1. 4.Chính sách của chính phủ. 3

1. 5.Kỳ vọng và tâm lý. 5

2.    DIỄN BIẾN TỶ GIÁ NĂM 2008 – QUÝ I/2009. 8

2. 1.Quý I/2008 (1/1/2008 – 31/3/2008): 8

2. 2.Quý II/2008 (1/4/2008 – 30/6/2008). 10

2. 3.Quý III/2008 (1/7/2008 – 30/9/2008). 12

2. 4.Quý IV/2008 (1/10/2008 – 31/12/2008). 13

2. 5.Quý I/2009 (1/1/2008 – nay). 18

3.    DỰ BÁO TỶ GIÁ NĂM 2009. 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO.. 27

 

  1. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ GIÁ

Tỷ giá hối đoái được hiểu là giá của một đơn vị ngoại tệ tính theo đồng tiền trong nước. Ví dụ: USD/VND hay EUR/VND. Đây chính là giá cả của ngoại tệ trên thị trường và được xác định dựa trên quan hệ cung cầu về ngoại tệ. Được coi là mấu chốt trong quản lý kinh tế vĩ mô, tỷ giá có tác động ngược trở lại đến các mối quan hệ kinh tế, lên cán cân thanh toán quốc tế, lên giá cả hàng hoá trong nước và lưu thông tiền tệ…

Sự hình thành tỷ giá là quá trình tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Nhưng nhìn chung, có ba yếu tố chính tác động đến tỷ giá. Đó là mối quan hệ cung cầu về ngoại tệ, chênh lệch về lãi suất và lạm phát giữa các nước, ngoài ra còn có các nhân tố khác như chính sách của chính phủ, kỳ vọng và tâm lý,…

Dưới đây nhóm chúng tôi sẽ nói rõ hơn tác động của từng nhân tố lên tỷ giá:

                  1. 1.     Lạm phát

Xét về mặt lý thuyết, nếu các yếu tố khác như nhau, khi tỷ lệ lạm phát của một nước tăng tương đối so với lạm phát của một nước khác, mức cầu đồng tiền nước đó giảm do xuất khẩu giảm vì giá cao hơn so với nước kia. Ngoài ra, người tiêu dùng và các doanh nghiệp trong nước có lạm phát cao có xu hướng tăng nhập khẩu. Cả hai yếu tố này tạo áp lực giảm giá đồng tiền của nước có lạm phát cao. Tỷ lệ lạm phát thường khác nhau giữa các quốc gia, tạo nên các kiểu mậu dịch quốc tế để điều chỉnh thích hợp ảnh hưởng của lạm phát đến tỷ giá hối đoái.

Bởi vì tỷ giá hối đoái cân bằng sẽ thay đổi theo thời gian khi cung-cầu các đồng tiền thay đổi. Sự thay đổi trong tỷ lệ lạm phát tương đối sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động thương mại, từ đó tác động đến cung-cầu tiền, và vì thế tác động đến tỷ giá hối đoái.

 Ví dụ: Trong năm 2008 tỷ lệ lạm phát của Việt Nam rất cao so với các năm trước đó trong khi tỷ lệ lạm phát của Mỹ, Trung Quốc, Thái Lan… và một số nước vẫn ở mức bình thường, do đó trong năm 2008 nhu cầu nhập khẩu của Việt Nam tăng cao dẫn tới nhu cầu USD tăng làm cho tỷ giá USD/VND tăng cao.

Sự tác động của lạm phát đến tỷ giá là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến tình hình của cán cân thương mại, cán cân thanh toán, cơ cấu nợ nước ngoài… lý thuyết về ngang giá sức mua sẽ phân tích rõ những tác động này.

Lý thuyết ngang giá sức mua tập trung vào mối quan hệ giữa lạm phát-tỷ giá hối đoái. Có nhiều hình thức khác nhau của lý thuyết này. Theo hình thức tuyệt đối còn được gọi là luật một giá cho rằng giá cả của các sản phẫm giống nhau của các quốc gia khác nhau sẽ bằng nhau khi được tính bằng một đồng tiền chung.

                  1. 2.     Lãi suất

Lãi suất là một trong những công cụ được các chính phủ sử dụng trong quản lý vĩ mô nền kinh tế nhất là trong cơ chế thị trường, nó kích thích tập trung nguồn lực tài chính và phân bổ nguồn lực đó một cách có hiệu quả, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, ổn định mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia.Đặc biệt,Lãi suất còn là công cụ được sử dụng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị trường, điều chỉnh giá trị đối ngoại của nôi tệ. Chính sách lãi suất cao có xu hướng hỗ trợ sự lên giá của nội tệ, bởi vì nó hấp dẫn các luồng vốn nước ngoài chảy vào trong nước, nếu lãi suất trong nước cao hơn so với lãi suất nước ngoài hay lãi suất ngoại tệ sẽ dẫn đến những dòng vốn chảy vào hay sẽ làm chuyển lượng hóa ngoại tệ trong nền kinh tế sang đồng nội tệ để hưởng lãi suất cao hơn. Điều này làm cho tăng cung ngoại tệ trên thị trường (cũng có nghĩa làm tăng cầu đối với đồng nội tệ), từ đó đồng ngoại tệ sẽ có xu hướng giảm giá trên thị trường, hay đồng nội tệ sẽ tăng giá. Trong trường hợp ngược lại, nếu lãi suất trong nước thấp hơn so với lãi suất nươc ngoài hay lãi suất ngoại tệ, đồng ngoại tệ có xu hướng tăng giá trên thị trường hay đồng nội tệ sẽ giảm giá.

                  1. 3.     Cán cân thanh toán quốc tế

Cung cầu về ngoại tệ trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự biến động của tỷ giá hối đoái. Cung cầu ngoại tệ lại chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau trong đó có cán cân thanh toán quốc tế. Nếu cán cân thanh toán quốc tế dư thừa có thể dẫn đến khả năng cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ và ngược lại. Sự cân bằng của cán cân thanh toán quốc tế lại phụ thuộc vào các nguồn cung và cầu ngoại tệ cấu thành nên cán cân thanh toán quốc tế. Khi nền kinh tế có mức tăng trưởng ổn định nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ nhập khẩu sẽ tăng do đó nhu cầu về ngoại tệ cho thanh toán hàng nhập khẩu tăng lên. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái thì các hoạt động sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu bị đình trệ làm cho nguồn cung ngoại tệ giảm đi. Trong khi nhu cầu nhập khẩu chưa kịp thời được điều chỉnh trong ngắn hạn việc giảm cung ngoại tệ sẽ đẩy tỷ giá lên cao.

                  1. 4.     Chính sách của chính phủ

Chính phủ của bất kỳ một nước nào cũng có thể thực hiện các chính sách thuế khoá và tiền tệ riêng của mình để kiểm soát nền kinh tế. Xét trên góc độ chính sách tiền tệ, chính phủ có thể cố gắng tác động đến giá trị của đồng nội tệ để cải thiện kinh tế, hạ giá đồng tiền của mình trong vài trường hợp và tăng giá trong vài trường hợp khác. Về cơ bản, tỷ giá hối đoái trở thành một công cụ, giống như các luật lệ về thuế và mức cung tiền, qua đó có thể giúp chính phủ đạt được các mục tiêu kinh tế mong muốn. Mỗi nước có một cơ quan chính phủ có thể can thiệp thị trường ngoại hối để khống chế giá trị của một đồng tiền, thông thường là ngân hàng trung ương (NHTW). Các NHTW hoạt động dựa trên lý thuyết là tiền tệ sẽ có thể biến động nhiều hơn nếu không có can thiệp. Các ngân hàng này cố gắng kiểm soát tăng trưởng của mức cung tiền tệ ở các nước tương ứng theo cách thức sẽ tác động thuận lợi đến các điều kiện kinh tế.

Một chính phủ có thể tác động đến tỷ giá hối đoái bằng phương pháp trực tiếp hay gián tiếp:

● Can thiệp trực tiếp: Các NHTW có thể tác động đến tỷ giá bằng cách trực tiếp mua vào ngoại tệ hoặc bán nội tệ ra thị trường. Khi NHTW can thiệp vào thị trường hối đoái mà có sự điều chỉnh sự thay đổi trong mức cung tiền tệ, điều này gọi là can thiệp không vô hiệu hóa. Ngược lại, nếu muốn can thiệp vào thị trường hối đoái, trong khi vẫn duy trì mức cung tiền tệ, NHTW sẽ sử dụng can thiệp vô hiệu hoá bằng cách áp dụng các giao dịch trên thị trường ngoại hối đồng thời với các hoạt động trên thị trường mở.

● Can thiệp gián tiếp: NHTW có thể tác động đến đồng nội tệ một cách gián tiếp bằng cách tác động đến các yếu tố ảnh hưởng đến đồng nội tệ; như lãi suất, các biện pháp kiềm chế lạm phát… Một chính phủ cũng có thể tác động đến đến các tỷ giá hối đoái bằng cách áp đặt các hàng rào đối với tài chính và mậu dịch quốc tế; như thuế nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, thuế đánh trên bất cứ thu nhập nào do đầu tư ở nước đó của các nhà đầu tư ngoại quốc.

Có thể tóm tắt các nhân tố mà chính phủ tác động đến tỷ giá hối đoái qua sơ đồ sau:

                  1. 5.     Kỳ vọng và tâm lý

Kì vọng  của thị trường vào tỉ giá tuơng lai cũng là một trong những nhân tố tác động đến tỉ giá hối đoái. Như các thị trường tài chính khác, thị trường ngoại hối phản ứng lại với các thông tin trong tương lai có liên quan đến tỉ giá. Ví dụ tin về gia tăng lạm phát tiềm ẩn ở Mỹ có thể làm những nhà đầu cơ bán USD do dự kiến USD sẽ giảm giá trong tương lai. Điều này gây áp lực giảm giá trị của USD ngay lập tức.

Nhiều nhà đầu tư định chế (như các ngân hàng thương mại và các công ty bảo hiểm) thực hiện vị thế tiền tệ dựa trên biến động lãi suất dự kiến ở các nước khác nhau.

Ví dụ: Các nhà đầu tư định chế có thể đầu tư một cách thường xuyên ngân quỹ vào Việt Nam nếu họ dự kiến lãi suất của Việt Nam tăng, một gia tăng như thế sẽ thu hút vốn vàoViệt Nam nhiều hơn và tạo áp lực tăng giá đồng Việt Nam. Bằng cách thực hiện vị thế mua bán tiền dựa vào kì vọng, họ có thể đạt được lợi ích từ sự thay đổi trong giá trị của đồng Việt Nam vì họ sẽ mua đồng Việt Nam trước khi sự thay đổi xảy ra.

Ở đây, dĩ nhiên có thể rủi ro sẽ xảy ra trong những trường hợp mua bán này vì kì vọng có thể sai, nhưng vấn đề ở đây là kì vọng có thể ảnh hưởng đến tỉ giá hối đoái vì chúng thúc đẩy các nhà đầu tư định chế thực hiện các vị thế ngoại tệ.

Những giao dịch trong các thị trường ngoại hối làm cho hoặc là dòng thương mại hoặc là dòng tài chính lưu chuyển dễ dàng hơn. Các giao dịch ngoại hối có liên quan đến thương mại nhìn chung ít nhạy cảm với các tin tức hơn. Các giao dịch tài chính rất nhạy cảm với các tin tức bởi lẽ việc quyết định nắm giữ chứng khoán định danh bằng một loại tiền cụ thể phụ thuộc vào những thay đổi dự kiến trong giá trị của đồng tiền đó. Khi mà những tin tức ảnh hưởng đến biến động dự kiến của tiền tệ, thì nó sẽ ảnh hưởng đến cung và cầu tiền.Vì những giao dịch mang tính đầu cơ như thế nên tỉ giá hối đoái có thể rất bất ổn.

Vì các dấu hiệu về các điều kiện kinh tế tương lai ảnh hưởng đến tỉ giá hối đoái có thể thay đổi một cách nhanh chóng nên các vị thế đầu cơ tiền tệ điều chỉnh ngay lập tức, tạo ra những mẫu hình khó xác định trong tỉ giá hối đoái. Không có gì là bất thường khi USD mạnh ở hôm nay lại yếu đi một cách đáng kể vào hôm sau. Điều này có thể xảy ra khi các nhà đầu cơ phản ứng quá mức đối với tin tức trong ngày (làm cho đồng đô la được đánh giá trên giá trị ) và kết quả là một sự sụt giảm vào hôm sau. Phản ứng quá mức xảy ra bởi lẽ các nhà đầu cơ thường thực hiện các vị thế dựa vào các dấu hiệu của các hành động tương lai chứ không phải là khẳng định của những hành động tương lai chứ không phải là khẳng định của những hành động và những dấu hiệu này có thể bị dẫn dắt sai bởi các lực của thị trường.

 

Tổng kết các nhân tố tác động đến tỷ giá:

Các nhân tố tác động đến tỷ giá có thể được phân loại thành 2 nhóm: nhóm các yếu tố liên quan đến thương mạinhóm các yếu tố liên quan đến tài chính. Sự tương tác giữa các nhân tố cùng cơ chế tác động của chúng đối với tỷ giá hối đoái được biễu diễn thông qua sơ đồ sau:

  1. DIỄN BIẾN TỶ GIÁ NĂM 2008 – QUÝ I/2009

                  2. 1.     Quý I/2008 (1/1/2008 – 31/3/2008):

Tỷ giá USD/VND giảm, sau đó đảo chiều vào cuối tháng 3/2008

Đầu năm 2008, tỷ giá còn dao động quanh mức 16.000 – 16.200 VND/USD, thì đến giữa tháng 3/2008, tỷ giá giảm xuống còn 15.400 VND/USD. Sự sụt giảm này bắt nguồn từ các biện pháp của Chính phủ trong việc kiềm chế lạm phát.

Theo công bố của Tổng cục Thống kê, giá tiêu dùng tháng 1/2008 đã tăng 2,38% so với tháng 12/2007 và tăng 14,11% so với tháng 1 cùng kỳ năm ngoái. Với mục tiêu kiềm chế lạm phát, ngày 30/1/2008, NHNN thông báo điều chỉnh các lãi suất: lãi suất cơ bản từ 8,25%/năm tăng lên 8,75%/năm, tăng 0,5%/năm; lãi suất tái cấp vốn từ 6,5%/năm tăng lên 7,5%/năm, tăng 1,0%/năm; lãi suất chiết khấu từ 4,5%/năm tăng lên 6,0%/năm, tăng 1,5%/năm… Ngày 13/2, NHNN thông báo phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước bằng VND vào ngày 17/3 dưới hình thức bắt buộc đối với 41 NHTM với tổng giá trị tín phiếu phát hành là 20.300 tỷ đồng, kỳ hạn là 364 ngày, lãi suất là 7,80%/năm. Đồng thời trên thị trường thế giới USD vẫn tiếp tục suy giảm, Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục cắt giảm lãi suất cơ bản.

Hệ quả tức thời của các tác động trên là dòng tiền VND bị chặn lại, gây ra hiện tượng khan hiếm tiền mặt, thừa USD giữa các NHTM. Vào thời điểm đó, USD/VND xuống rất thấp, tỷ giá của các NHTM luôn ở mức dưới tỷ giá liên ngân hàng. Người dân không còn giữ USD như trước mà chuyển sang mua vàng hoặc giữ tiền đồng để gửi tiết kiệm hưởng lãi suất cao. Những nhà đầu tư nước ngoài bán USD lấy VND rồi đem gửi tiết kiệm sẽ thu lại được lợi nhuận hơn là gửi tiết kiệm ở trong nước. Nhà đầu tư càng được lợi cao hơn khi lãi suất ở VN đang tăng chóng mặt còn tỉ giá VND/USD thì giảm mạnh. Kiều bào nước ngoài cũng gửi tiền về cho người thân ở Việt Nam để hưởng lãi suất. Các NHTM một mặt phải chạy đua lãi suất với nhau, diễn ra một cuộc cạnh tranh gây gắt nhằm thu hút lượng VND để đủ tiền mua tín phiếu bắt buộc của NHNN, mặt khác phải cầu cứu NHNN mua bớt ngoại tệ để khai thông dòng chảy cho đồng USD, giải ngân để lấy tiền đồng hỗ trợ thanh khoản khi cung vốn cạn dần. Các doanh nghiệp nhập khẩu không thể bán USD vì lỗ nặng… Trước tình hình này, để giữ cho hệ thống ngân hàng không rơi vào tình trạng mất thanh khoản, nhưng vẫn theo chủ trương tăng giá VND kiềm chế lạm phát; ngày 10/3/2008, NHNN đã quyết định mở rộng biên độ mua, bán ngoại tệ của các NHTM so với tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng từ ±0,75% lên ±1%, tỷ giá liên ngân hàng được giảm dần. Ngoài ra, NHNN cũng tung ra thị trường 33.000 tỷ đồng vay ngắn hạn; gấp 1,5 lần số lượng tiền định rút về qua tín phiếu bắt buộc, làm cho lạm phát tăng nhanh hơn vào những tháng sau ảnh hưởng đến tỷ giá.

Tuy nhiên, vào những ngày cuối tháng 3/2008, thị trường đảo chiều, VND không thể tăng giá. Trong 1 tuần tính từ ngày 21/3 đến 28/3 tỷ giá đã tăng 280-298 VND/USD, tăng kịch trần +1% so với quy định của NHNN. Nguyên nhân là do CPI tháng 3 tiếp tục ở mức cao 2,99%, đưa chỉ số giá tiêu dùng 3 tháng đầu năm lên 9,19%, bên cạnh đó NHNN áp đặt trần lãi suất huy động không vượt quá 12%/năm nhằm chấp dứt tình trạng các NHTM đua lãi suất, ảnh hưởng đến tâm lý người dân khi giữ tiền đồng, lạm phát cao, lãi suất thực âm, ai cũng muốn giữ tiền để mua sắm hàng hóa,… vì sợ rằng giá của hàng hóa sẽ tiếp tục tăng. Nhập siêu quý I/2008 tới 7,3 tỷ USD do một phần nhiều nhà đầu tư chứng khoán chuyển vốn sang vàng, khiến cung tăng mạnh và doanh nghiệp vàng bạc đang phải huy động nhiều USD để nhập khẩu vàng. Theo ước tính Việt Nam nhập trên 30 tấn vàng, gấp hơn 3 lần so với cùng kỳ hằng năm, nhu cầu ngoại tệ đối với nhập khẩu tăng khá mạnh làm cho nguồn cung USD bị sức ép lớn. Đồng thời với tác động của việc giá USD liên tục tăng làm cho những DN khác dù chưa đến hạn thanh toán cũng yêu cầu mua USD để tránh rủi ro làm cho cầu USD tăng mạnh hơn.

                  2. 2.          Quý II/2008 (1/4/2008 – 30/6/2008)

Tỷ giá USD/VND tăng mạnh.

Trong tháng 4/2008, tỷ giá USD/VND vẫn tiếp tục tăng lên, để ổn định tỷ giá, NHNN phải bán ngoại tệ can thiệp thị trường. Từ đầu tháng 5 có sự xáo động mạnh trong cung-cầu ngoại tệ trên thị trường, sau kỳ nghỉ lễ, giá USD bán ra của các NH bất ngờ tăng mạnh thêm 20 VND, đợt biến động mạnh thứ 2 sau đợt biến động mạnh từ 20 đến 31/3. Tỷ giá USD/VND vẫn tiếp tục tăng khiến lãi suất USD bước vào cuộc đua mới. Ở hầu hết các NHTM, giá USD tăng kịch trần, hết biên độ cho phép, trên thị trường tự do, giá bán dao động xung quanh 17.100 – 17.500 VND/USD. Tính toán của Tổng cục Thống kê công bố cho thấy, trong tháng 5, giá USD tính theo VND đã tăng mạnh với 1,02% so với tháng trước đó. Đặc biệt trung tuần tháng 6/2008, cơn sốt USD bùng phát, có thời điểm giá chợ đen lên tới 19.000-19.800 VND/USD.

Nguyên nhân là do tâm lý lo sợ sự mất giá của VND. Mặc dù NHNN đã ban hành cơ chế mới về điều hành lãi suất, nâng lãi suất cơ bản từ 8,75%/năm lên 12%/năm vào tháng 5, rồi sau đó tăng lên 14%/năm vào tháng 6, nhưng việc áp dụng trần lãi suất làm cho các NHTM không thể tăng lãi suất lên, lãi suất thực âm, lượng tiền huy động giảm sút như vậy làm trậm trọng hơn vấn đề lạm phát vì không thể hút tiền từ trong lưu thông về vì trong tình hình lạm phát cao. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2008 so với tháng 12/2007 đã tăng lên hai chữ số là 11,6%; gần bằng tốc độ của cả năm 2007 (12,63%). Lạm phát tháng 5 tiếp tục tăng 3,91%, cao nhất kể từ đầu năm đến nay, đẩy chỉ số tiêu dùng trong 5 tháng đầu năm lên đến 15,96%. Với tốc độ tăng giá tiêu dùng đã lên đến 15,96% trong 5 tháng đầu năm, tức là tăng trên 3%/tháng, trong khi lãi suất tiết kiệm chỉ khoảng trên dưới 1,2%/tháng, nghĩa là tốc độ tăng giá tiêu dùng cao gấp 2,5 lần lãi suất tiết kiệm dẫn đến lãi suất tiền gửi thực bị âm. Tâm lý lo sợ VND ngày càng mất giá, người dân không muốn gửi tiền vào ngân hàng mà dùng đồng tiền để mua sắm, dự trữ,… còn DN thì bị khóa van tín dụng, do lãi

suất huy động cao, kéo theo lãi suất cho vay cao đến chóng mặt 21%/năm, nên không còn tiền phải rút tiền gửi về để mua hàng hóa, dịch vụ, và trả nợ.

Tổng kim ngạch nhập khẩu tương ứng cũng đạt 37,8 tỷ USD trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 61,2 tỷ đô la và đã tạo ra một khoản thâm hụt cán cân thương mại 14,4 tỷ trong năm tháng đầu năm 2008. Lượng nhập khẩu các mặt hàng chủ yếu đều tăng về lượng so với cùng kỳ năm 2007 như ôtô tăng 6 lần, linh kiện ôtô tăng hơn 3 lần, thép các loại tăng gần 2 lần, máy tính và linh kiện tăng 43,1%, máy móc thiết bị tăng 42,5%, phân bón các loại tăng 39,5%. Nước ta cũng đã nhập hơn 1 tỷ USD vàng để đáp ứng nhu cầu trong nước… Trước tình hình đó, NHNN đã chủ động điều chỉnh tỷ giá hối đoái để hạn chế tình trạng thâm hụt cán cân thương mại, thông qua tác động làm giảm giá trị đồng nội tệ. USD giảm giá đáng kể từ tháng 09/2007-06/2008 do nền kinh tế Mỹ suy thoái buộc FED cắt giảm lãi suất USD. Nhưng lần cắt giảm lãi suất vào tháng 5 xuống còn 2%, FED cũng đã tăng tính thanh khoản trên thị trường khi mở kênh vay vốn cho các ngân hàng (NH) thương mại và bơm tiền vào hệ thống NH, đồng thời tiến hành xử lý các khoản nợ xấu làm tăng niềm tin của các nhà đầu tư vào thị trường tài chính Mỹ. Để đảm bảo xuất khẩu, NHNN đã mua đô la vào đẩy giá USD tăng lên theo tỷ giá mục tiêu.

                  2. 3.          Quý III/2008 (1/7/2008 – 30/9/2008)

Tỷ giá USD/VND ổn định và có xu hướng tăng

Trong tháng 7/2008 chênh lệch giữa thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và ngoại tệ trên thị trường tự do không quá cách biệt, giá USD trên thị trường tự do đã lùi xuống dưới 17.000 đồng… Nguyên nhân bắt nguồn từ việc NHNN đã công bố dự trữ ngoại tệ là 20,7 tỷ USD, cộng cả ngoại tệ do Bộ Tài chính quản lý và khoản dự trữ điều hòa thị trường hối đoái của NHNN thì cao hơn con số đã công bố, thanh khoản của Việt Nam tương đối ổn định giúp cải thiện tâm lý lo lắng nơi người dân, qua đó giảm bớt tình trạng găm giữ, đầu cơ ngoại tệ dẫn đến tỷ giá ổn định trong thời gian này. Mặt khác, lạm phát tháng 7/2008 đã tăng chậm lại ở mức tăng 1,13% so với tháng trước, lãi suất ổn định. Mức nhập siêu trong tháng 7 ước đạt 0,8 tỷ USD. Qua tháng 8/2008, cung cầu ngoại tệ tiếp tục ổn định.

Trong tháng 8/2008, tỷ giá bình quân liên ngân hàng có diễn biến nhích lên dần theo từng tuần, thực hiện chuỗi tăng tới 7 đồng so với đầu tháng. Cụ thể tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ 16.489 VND/USD lên 16.493 VND/USD và dừng ở mức 16.496 VND/USD trong hai tuần cuối tháng 8. Theo đó, tỷ giá trên thị trường tự do ổn định quanh mức 16.580-16.610 VND/USD (cao hơn 10 đồng so với tỷ giá thông báo đầu tháng là 16.550-16.600 VND/USD) nhưng thấp hơn 20 đồng so với mức ổn định trong hai tuần giữa tháng là 16.580-16.630 VND/USD.

Tỷ giá USD/VND trong tháng 9/2008 không có sự biến động nhiều, chỉ có gia tăng mạnh từ 16.620 lên 16.740 (ngày 15/9 đến ngày 19/9), sau đó giảm xuống  chỉ còn 16.630 VND/USD trong ngày 24/9. Nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ: ngày 15-9 tập đoàn tài chính Lehman Brothers lớn thứ tư nước Mỹ, có thời gian hoạt động 158 năm nay, đã chính thức tuyên bố phá sản. Tối 16-9 khi FED được sự ủng hộ của Bộ Tài chính nước này đã đồng ý để Ngân hàng New York chi 85 tỷ USD cứu AIG, một trong những tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới có giá trị tài sản khoảng một nghìn tỷ USD và có 116 nghìn nhân viên tại hơn 100 quốc gia vì theo các nhà phân tích, sự sụp đổ của AIG sẽ có ảnh hưởng lớn hơn rất nhiều đối với thị trường tài chính so với sự sụp đổ của Lehman Brothers. Thị trường thế giới có những tín hiệu khả quan về các biện pháp giải cứu ngành tài chính Mỹ trị giá 700 tỷ USD.

                  2. 4.          Quý IV/2008 (1/10/2008 – 31/12/2008)

Từ cuối tháng 9 cho đến 19/10 tỷ giá tiếp tục được ổn định quanh mốc 16.610 VND/USD. Tuy nhiên, thời gian từ 15/9 đến 24/10 ở cả hai sàn HaSTC và HOSE, nhà đầu nước ngoài đã bán ròng hơn 12.500 tỷ đồng (750 triệu USD) giá trị cổ phiếu và trái phiếu. Một phần trong số này được dùng để mua USD đã gây sức ép lên tỷ giá trong thời gian qua.

Ngày 22/10 tỷ giá USD/VND ở các NHTM bất ngờ tăng vọt tới mốc 16.800 VND/USD, trong khi tỷ giá bình quân liên ngân hàng vẫn ổn định, thậm chí giảm nhẹ. Ngày 23/10, giá bán ra đồng USD của các ngân hàng thương mại đồng loạt niêm yết ở mức 16.850 VND, sát trần biên độ +/-2% theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng, một phần là do cũng trong ngày này NHNN đã quyết định giảm lãi suất cơ bản từ 14% xuống 13%. Sau đó giá USD bán ra của các NHTM cũng giảm nhẹ, ngày 27/10 xuống còn 16.847 VND/USD và đang có xu hướng ổn định. Giá USD trên thị trường tự do cũng đã xuống dưới mốc 17.000 VND. Còn theo diễn biến trên thị trường thế giới, phần lớn tất cả các ngoại tệ mạnh trên thế giới đều mất giá so với USD nhất là sau khi Chính phủ Mỹ can thiệp vào thị trường tài chính, ngăn chặn khủng hoảng khiến USD lên giá.

Rõ ràng là tình trạng suy thoái kinh tế do khủng hoảng tài chính toàn cầu gây ra sẽ kéo dài và sâu sắc hơn so với những dự đoán trước đây. Olivier Blanchard, nhà kinh tế trưởng của IMF cho rằng cuộc khủng hoảng này là tồi tệ nhất trong vòng 60 năm. Việc Citigroup rơi vào bờ vực của sự sụp đổ và sau đó được chính phủ Mỹ giải cứu là một lời nhắc nhở rằng thị trường tín dụng vẫn còn ốm yếu.

Cuộc khủng hoảng toàn cầu đã  và sẽ tiếp tục tác động đến nền kinh tế Việt Nam trong ít nhất năm lĩnh vực. Thứ nhất, nhu cầu đối với hàng xuất khẩu sẽ suy giảm: kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giảm liên tục từ tháng 8/2008 chủ yếu là dầu thô và các hàng hoá xuất khẩu cơ bản:

Thứ hai, đầu tư nước ngoài sẽ giảm trong ngắn và trung hạn vì các nhà đầu tư gặp khó khăn về nguồn tài trợ và phải đánh giá lại triển vọng lợi nhuận năm 2009-2010. Tạp chí Financial Times hồi đầu tháng 12/2008 đưa tin về dự báo cho rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu sẽ giảm 15% trong năm 2009. FDI đầu tư vào Việt Nam cũng nằm trong số đó, vốn FDI đăng ký trong năm 2008 của Việt Nam là hơn 60 tỷ USD nhưng chỉ một phần nhỏ trong số này thực sự được giải ngân.

Thứ ba, lượng khách du lịch đến Việt Nam cũng sẽ giảm. Theo Bộ trưởng Bộ Văn Hoá Thể Thao Du Lịch mới đây phát biểu rằng năm 2008 là năm đầu tiên kể từ khi dịch SARS bùng phát vào năm 2003 ngành du lịch Việt Nam sẽ không đạt mục tiêu đề ra. Du lịch là một nguồn thu ngoại tệ và nguồn tạo việc làm quan trọng của Việt Nam.

Thứ tư, kiều hối có thể sẽ giảm. Rất có thể là Việt Kiều ở nước ngoài cũng đang khó khăn về thu nhập, tài sản, và tín dụng như người dân ở Mỹ hay Châu Âu đang gặp phải. Tình trạng này có thể làm dòng kiều hối giảm hàng tỷ USD.

Cuối cùng, giá hàng hoá cơ bản giảm sẽ tác động tiêu cực và ngay lập tức đến ngân sách chính phủ. Các khoản thu từ xuất khẩu dầu thô, thuế VAT và thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ giảm đáng kể.

Việc tăng giá các hàng hoá cơ bản trên thị trường thế giới cũng là một nguyên nhân, song với thực tế là lạm phát ở Việt Nam cao hơn hẳn so với các nước láng giềng cho thấy tầm quan trọng của các yếu tố bên trong. Phù hợp với lập luận này, sự suy giảm tốc độ tăng cung tiền và tín dụng cùng với việc giảm 45.000 tỷ VND đầu tư của khu vực nhà nước trong nửa cuối 2008 đã giúp lạm phát chậm lại, thậm chí âm nhẹ trong 3 tháng cuối năm. Biểu đồ thể hiện chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam bắt đầu hạ theo đà suy giảm của giá dầu.

Sau một loạt các biện pháp mạnh tay nhằm giảm lạm phát thì đến 16/12/2008 với áp lực suy thoái kinh tế toàn cầu, chính phủ đã tuyên bố kế hoạch kích cầu trị giá 6 tỷ USD. Mặc dù chi tiết bản kế hoạch chưa cụ thể nhưng thông tin cho thấy chính phủ dự định tài trợ cho các dự án đầu tư công, bảo lãnh tín dụng, bù đắp lãi suất, giảm thuế, và tạo tính thanh khoản cho các ngân hàng.

Chính sách từng bước giảm giá VND. Trong hai năm 2007-2008, Việt Nam tiếp nhận một lượng vốn lớn từ nước ngoài. Đồng thời để thúc đẩy tăng trưởng chính phủ đã không ngừng đẩy mạnh đầu tư. Hệ quả là thâm hụt ngân sách, thâm hụt thương mại nặng nề và nền kinh tế trở nên quá nóng. Hơn nữa VND đã trở nên quá mạnh so với các đồng tiền của các đối tác thương mại chủ yếu. Xu hướng tăng tỷ giá thực của VND vẫn được duy trì trong quý IV do đồng USD mạnh lên so với đồng Euro cũng như hầu hết các đồng tiền của Châu Á.

Khi đồng tiền được định giá cao, nhập khẩu sẽ trở nên rẻ hơn còn xuất khẩu sẽ đắt hơn, do vậy để khuyến khích xuất khẩu chính phủ đã từng bước giảm giá VND và chú trọng đúng mức tới xu thế và mức tỷ giá hiệu dụng thực. Quyết định nới rộng biên độ tỷ giá thêm ±3% vào ngày 25/12/2008 là một sự khởi đầu đúng hướng trong chính sách tỷ giá (thực chất là giảm VND 3%). Theo thực tế thì thị trường đã phản ứng tích cực với điều chỉnh của ngân hàng trung ương.

Chính sách giảm giá có kiểm soát VND là cần thiết nhưng không tránh khỏi một số rủi ro nhất định. Thứ nhất, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã vay USD từ các ngân hàng trong và ngoài nước và gánh nặng tỷ giá lên khoản nợ tăng lên, rủi ro không trả được nợ và ngân hàng phải chịu thêm các khoản nợ xấu. Thứ hai, giá nội tệ giảm làm hàng nhập khẩu trở nên đắt hơn, mà trong khi có nhiều sản phẩm trong nước không thể sản xuất do đó phải nhập khẩu kết quả là nền kinh tế sẽ nhập khẩu lạm phát từ bên ngoài khi VND giảm giá. Thứ ba, tỷ giá USD/VND có thể bị tăng quá mức khi người trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài mất niềm tin vào khả năng quản lý cung tiền của cơ quan điều hành chính sách tiền tệ. Khi đó người dân và các doanh nghiệp đua nhau mua vàng và ngoại tệ khi đồng nội tệ mất giá, trong nỗ lực bảo toàn tài sản, người ta có thể chấp nhận mức giá cao bất thường miễn là mua được ngoại tệ. Vì lý do này NHTW không thể vừa cắt giảm lãi suất vừa giảm giá đồng tiền.

Nhìn chung chính sách tỷ giá của Việt Nam trong năm 2008 đã được nhiều chuyên gia kinh tế đánh giá là hợp lý và kịp thời. Trong năm 2008 có nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam sẽ phá giá nội tệ và kịch bản khủng hoảng kinh tế 1997-1998 Thái Lan sẽ lặp lại ở Việt Nam. Tuy nhiên kết thúc năm 2008 Việt Nam vẫn kiểm soát được tỷ giá USD/VND không quá cao và không biến động nhiều. Tính đến ngày 20/12/2008 tỷ giá USD/VND niêm yết tại NH Vietcombank là 16.990 không cao như các dự báo trước đó.

                  2. 5.          Quý I/2009 (1/1/2008 – nay)

Kinh tế- xã hội nước ta những tháng đầu năm diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới đang suy giảm; trong nước thì xảy ra nhiều biến cố thiên tai bất thường. Để vượt qua khó khăn hiện tại và kích thích phát triển kinh tế ngăn chặn suy giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, đảm bảo an sinh xã hội.

Kết quả là giá tiêu dùng tháng 1/2009 tăng 0,32% so với tháng trước do nhu cầu tiêu dùng trong dip Tết Nguyên đán. Giá USD tháng 01/2009 so với tháng 12/2008 tăng 1,48%, so với tháng 01/2008 tăng 8,16%. Qua tháng 2 dưới sự tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới. Chính phủ đã đề ra nhiều chính sách và giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, ngăn ngừa giảm phát, thực hiện tốt các mục tiêu an sinh xã hội. Kết quả bước đầu đã có chuyển biến tích cực, tuy nhiên tốc độ phát triển toàn bộ nền kinh tế diễn ra còn chậm. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 2 tăng 1,17% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng 02/2009 tăng 14,78%; so với tháng 12/2008, chỉ số giá tiêu dùng tháng 02/2009 tăng 1,49%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 2 tháng đầu năm 2009 tăng 16,13% so với cùng kỳ năm 2008. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 02/2009 tăng 0,91% so với tháng trước, tăng 9,28% so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,4% so với tháng 12 năm trước.

Nhìn chung từ đầu tháng 1/2009 đến giữa tháng 2/2009, tỷ giá USD/VND không có biến động mạnh – tăng giảm trong khoảng 17.480 đến 17.490 VND/USD – nguyên nhân phần lớn là do có sự can thiệp của nhà nước.

Tuy nhiên, vào những ngày đầu tháng 1/2009 nhu cầu vay vốn bằng ngoại tệ của doanh nghiệp đã giảm hẳn sau khi các NH áp dụng chương trình vay vốn được bù 4% lãi suất. Cơ chế bù lãi suất chỉ áp dụng cho các trường hợp vay vốn bằng VND, không áp dụng cho trường hợp vay vốn bằng USD. Các doanh nghiệp đã tính toán, vay USD vừa phải lo lắng về biến động tỉ giá lại không được bù lãi suất. Từ đó, doanh nghiệp đã dừng vay vốn bằng USD để chuyển sang vay VND, số đã vay đến hạn trả nợ, không vay thêm làm số dư vốn vay USD giảm. Đầu ra của USD ở nước ngoài bị thu hẹp dần. Như vậy, gói kích cầu đã làm cho cầu đồng nội tệ tăng vì các NHTM cần VND để cho vay theo nên lãi suất huy động VND tăng, làm cho giá VND tăng. Đồng thời, gói kích cầu cũng làm cho nhu cầu USD giảm, lãi suất huy động USD giảm, làm cho giá USD giảm.

Nhưng, đến tuần thứ ba (16/2 – 20/2), tỷ giá lại biến động khá mạnh. Tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng vẫn không đổi, nhưng trên thị trường tự do tỷ giá USD/VND có nơi đã lên đến 18.000đ. Trong hệ thống ngân hàng đã xảy ra tình trạng thiếu USD, khiến cho nhiều người có nhu cầu không thể đổi được ngoại tệ. Mặt khác do việc chênh lệch tỷ giá giao dịch giữa ngân hàng và thị trường tự do đã khiến cho những người dân hay doanh nghiệp có USD không bán cho các ngân hàng mà bán trên thị trường tự do. Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế Xã hội thuộc Bộ KH-ĐT còn dự báo tỷ giá USD/VND có thể lên tới 18,500 VND/USD. Như vậy đã có chênh lệch khá cao giữa tỷ giá niêm yết và tỷ giá giao dịch phi chính thức. Nhiều khả năng sự chênh lệch này tiếp tục được duy trì, vấn đề này có thể buộc Ngân hàng Nhà nước có những chính sách nâng tỷ giá hoặc nới rộng biên độ trong thời gian tới. Trong thời gian tới, xu hướng dự báo tỷ giá có chiều hướng tăng, thậm chí tăng mạnh. Cùng với vàng, USD đang là một kênh đầu tư thu hút sự quan tâm của các tổ chức tài chính và các nhà đầu tư. Nhiều người dân chuyển từ VND sang cất giữ USD.

Một số diễn biến mới trong trong tháng 3/2009.

Theo số liệu của Bloomberg, đồng USD tại châu Á đã phục hồi trở lại, đạt mức 1 Euro bằng 1,2985 USD ở thời điểm 10h20 tại Tokyo.Chỉ số giá nhà sản xuất (PPI) tháng 12/2008 của khu vực EU công bố đã giảm còn 1,8% từ mức 3,3% trong tháng 11. Nguy cơ giảm phát cận kề đang gây áp lực cho Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) hạ thêm lãi suất đồng Euro đã khiến đồng tiền này khó lên giá so với USD.

Trong nước, tỷ giá đồng USD được NH Nhà nước công bố tham khảo cho các ngân hàng đã được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tăng thêm 2 đồng/USD, ở mức 16.979 đồng. Trong sáng qua 4/2, NH Ngoại thương một lần nữa thu hẹp biên độ giá mua-bán bằng cách tăng thêm 5 đồng so với trước, lên 17.475 đồng/USD mua vào và bán ra vẫn giữ trần so với quy định của NH Nhà nước:17.488 đồng. Đây là NH đầu mối trong cả nước, tình hình cung cầu tại các NH vẫn chưa được cải thiện khi phần lớn các NH thương mại đang niêm yết giá mua- bán cùng một giá: 17.488 đồng/USD.Trên thị trường tự do, giá mỗi USD chợ đen ở Hà Nội lên mức 17.720 đồng (bán ra), đắt hơn 50 đồng so với ngày trước đó, giá mua vào 17.680 đồng (tăng 40 đồng). Khách đến giao dịch khá tấp nập. Tại một số cửa hàng vàng trên phố Trần Nhân Tông, Cầu Gỗ còn có trường hợp chủ tiệm chỉ mua vào chứ không bán ra.

Nhiều phân tích cho thấy, giá USD tự do tăng mạnh trong hai ngày gần đây chủ yếu là do tâm lý. Những dự báo nguồn cung ngoại tệ có thể bị thu hẹp lại do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, các yếu tố chưa khả quan về triển vọng đầu tư nước ngoài và thị trường chứng khoán, trong khi nhu cầu nắm giữ USD đang cao cũng đẩy tỷ giá lên. Giới quan sát nhận định, tỷ giá còn tăng trong quý I khi các doanh nghiệp nhập khẩu có nhu cầu về USD tăng để giao thương bởi đây là thời gian hoạt động nhập khẩu diễn ra mạnh so với những tháng còn lại.

Ngày 18/3/2009, Thống đốc NHNN Việt Nam có công văn số 1819/NHNN-QLNH về việc chấn chỉnh hoạt động mua bán ngoại tệ.

Thống đốc yêu cầu: Thứ nhất, các Tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối không được sử dụng kết hợp các công cụ phái sinh nhằm mục đích mua bán đô la Mỹ giao ngay với tỷ giá cao hơn trần biên độ do NHNN quy định. Thứ hai, Thanh tra NHNN tăng cường kiểm tra, thanh tra việc tuân thủ các quy định về hoạt động mua bán ngoại tệ kể từ ngày 18/3/2009 và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

Tỷ giá đồng USD trên thị trường liên ngân hàng do đang còn giữ trần so với quy định của NHNN nên có những điều chỉnh giá giảm cùng tỷ giá tham khảo. Phần lớn các ngân hàng hiện nay vẫn giữ giá mua ngang với giá bán xuống quanh mức 17.482 đồng. Rất nhiều ngân hàng đang trong tình trạng khan hiếm USD khi nhiều khách hàng muốn mua USD sẽ phải chờ đợi thanh toán theo hợp đồng.

Nguồn cung USD cho thị trường trong nước hiện nay đang rất khó khăn khi tình hình xuất nhập khẩu rất xấu. Đồng USD trên thị trường tự do sau khi giảm ở phiên đầu tuần đã tăng mạnh trong ngày hôm qua do nhu cầu về USD tăng đột biến, các điểm trao đổi ngoại tệ rất sôi động mà chủ yếu là khách mua vào. Theo giám đốc một công ty chứng khoán cho biết, những ngày qua rất nhiều nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán rút vốn chuyển sang mua USD tích trữ đầu tư. Hơn nữa, hoạt động bán ra chốt lời vàng diễn ra rất mạnh của các nhà đầu tư trong nước khi giá tăng mạnh những ngày qua, một lượng tiền mặt nhàn rỗi nữa được đổ vào USD. Nhu cầu tăng đột biến khiến đồng USD bên ngoài “chợ đen” tăng tốt, còn giữ giá cao.

cầu mua USD đã và đang tăng mạnh, khả năng USD thị trường tự do có thể tăng trên 18,000 đồng/USD. Một số thông tin đồn xung quanh khả năng NHNN sẽ nới rộng biên độ tỷ giá cũng nâng đỡ cho thị trường giữ giá cao.

Trong phiên sáng ngày 20/3/2009, đồng USD trên thị trường tự do còn giữ biên độ trung bình trên cả nước: 17,600-17.700 đồng.

Trong vài ngày gần đây người dân đem đôla dự trữ đi bán trên thị trường chợ đen hôm nay do lo ngại giá sẽ xuống thấp trong tương lai gần. Động thái này đã góp phần làm giá đôla giảm nhẹ trong ngày.

 

  1. DỰ BÁO TỶ GIÁ NĂM 2009

Chính sách tỷ giá thiên về phá giá đồng nội tệ so với đô la Mỹ, tương thích với tốc độ giảm giá trên thế giới, có lẽ là sự lựa chọn khôn ngoan nhất cho kinh tế nước ta trong năm 2009 này. Đây là một trong vài gợi ý chủ yếu của bản báo cáo “Triển vọng kinh tế Việt Nam 2009”, do Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế – xã hội quốc gia, thuộc Bộ Kế hoạch – đầu tư vừa công bố.

Các chuyên gia kinh tế tác giả của Báo cáo, cho rằng mức độ mất giá của VND so với USD khoảng từ 4-10%, tức là dao động từ 17.300 – 18.500 VND/USD. Theo đó, việc phá giá VND sẽ hỗ trợ hàng xuất khẩu cạnh tranh, không làm tăng giá hàng nhập khẩu, không tăng chi phí đầu vào có thể tác động xấu đến giá cả trong nước. Lập luận này xuất phát từ một số nguyên nhân chính. Trong thời suy thoái, việc xuất khẩu sẽ vô cùng khó khăn trong năm 2009, để “giải cứu” xuất khẩu, Ngân hàng Nhà nước nên tăng biên độ tỷ giá VND/USD, hiện tại ở mức 3%.

Mặt khác, VND đã lên giá nhiều so với các đồng tiền mạnh, do vậy việc “níu kéo” một tỷ giá VND/USD khá ổn định trong thời gian qua, trong khi USD tăng giá mạnh so với các đồng tiền chủ chốt khác, dẫn tới VND lên giá so với  EUR khoảng 10%, so với đồng tiền của một số nước trong khu vực từ 5-7%. Hơn thế, nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu ngày càng “khó kiếm” và dòng vốn đầu tư nước ngoài có thể giảm sút, dẫn tới cung ngoại tệ giảm.

Các chuyên gia cảnh báo, dự trữ ngoại hối dù đạt khoảng 22 tỷ USD tính đến cuối năm 2008, song chỉ tương đương với 12 tuần nhập khẩu, so với 17 tuần năm 2007. Do đó, nếu nhập siêu vẫn còn cao và các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục bán trái phiếu, cổ phiếu để rút dần vốn ra khỏi Việt Nam, thì áp lực về cầu ngoại tệ sẽ tăng lên.

Tuy nhiên, việc phá giá VND so với USD sẽ tác động tiêu cực đến nỗ lực kiềm chế lạm phát. Nếu tỷ giá hối đoái USD/VND tăng 1%, thì lạm phát có nguy cơ tăng lên 0,65% ngay trong năm đầu tiên. Nguyên nhân là giá nhập khẩu cao hơn sẽ làm tăng chi phí đầu vào cho sản xuất và nền kinh tế lại chịu một “cú sốc” vì giá cả sẽ tăng. Bởi thế, các chuyên gia không đưa ra gợi ý là Ngân hàng Nhà nước nên lựa chọn chính sách này hay không.

Chỉ biết rằng, gợi ý của các chuyên gia trong nước phá giá VND so với USD tương đối trùng hợp với khuyến cáo của các nhà phân tích của Đại hoc Harvard và Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright trong một báo cáo công bố gần đây. Báo cáo của nhóm chuyên gia này khuyến nghị rằng, Chính phủ Việt Nam nên dành ưu tiên cao cho việc giảm giá từ từ VND.

Họ quả quyết là, một nền kinh tế nhỏ với tỷ giá hối đoái cố định và thâm hụt ngân sách lớn, thì sự lựa chọn chính sách của Việt Nam trong giai đoạn này đã bị hạn chế rất nhiều. Họ gợi ý rằng, phá giá VND và cơ cấu lại đầu tư công là hai chính sách tốt nhất. Quyết định của Ngân hàng Nhà nước nới rộng biên độ giao dịch tỷ giá thêm 3% thực chất là giảm giá VND 3% là sự khởi đầu đúng hướng.

Thị trường đã phản ứng tích cực. Tuy thế, tỷ giá trên thị trường ngay lập tức “đụng trần”, chứng tỏ cần tiếp tục “nới lỏng” tỷ giá. Đương nhiên, việc phá giá VND sẽ ảnh hưởng đến nhiều doanh nghiệp đã vay ngân hàng USD hoặc làm tăng rủi ro lạm phát. Việc lựa chọn tỷ giá vẫn thuộc quyền quyết định của Ngân hàng Nhà nước. Nếu áp dụng chính sách này tức là sẽ đặt một gánh nặng lớn lên “vai” ngân hàng. Hai bản báo cáo góp ý chính sách tiền tệ đã được gửi đến Chính phủ để xem xét.

Tỷ giá đang là một rào cản với xuất khẩu: Trong tình hình hiện nay, có một rào cản lớn đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam là vấn đề tỷ giá.

Nếu đồng bạc được đánh giá cao thì xuất khẩu sẽ gặp bất lợi, khi giá hàng xuất khẩu tính theo USD bị đẩy lên cao hơn. Để cạnh tranh, một là anh phải đẩy giá lên để bù lại khoản thiệt, hai là giảm giá đi và cũng giảm luôn cả lợi nhuận.

Mà trong khủng hoảng thì với các nước kém phát triển, cạnh tranh trước hết là phải bằng giá. Bởi thương hiệu, chất lượng, mẫu mã, hệ thống phân phối… là những thế mạnh mà những nước kém phát triển hay ngay cả Trung Quốc cũng chưa có, mà có mạnh cũng chỉ là thứ yếu trong thời điểm này.

Hơn nữa, một đồng bạc giá thấp hơn chính là hàng rào tốt nhất trước cuộc xâm nhập của hàng ngoại, để nâng sức cạnh tranh của hàng nội tại chính thị trường trong nước, thay thế hàng rào thuế quan, hàng rào kỹ thuật.

Các nước khác đang hành xử thế nào với chính sách tỷ giá:Các nước khác, trong giai đoạn khuyến khích xuất khẩu đều điều hành chính sách tỷ giá theo hướng làm mất giá đồng tiền nội tệ. Tối thiểu cũng phải đưa về giá trị thực của đồng tiền.

Tất cả các nước trong khu vực, kể từ Hàn Quốc đến Trung Quốc và các nước ASEAN đều thực hành chính sách đồng tiền yếu, hạ giá đồng bạc. Đó gần như là bài thuốc đầu tiên mà các nước áp dụng để thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu.

Trong năm 2008, Hàn Quốc hạ giá đồng tiền đến vài chục %. Trung Quốc đứng trước sức ép phải tăng giá đồng nội tệ nhưng đến tháng 10/2008 cũng đã hạ giá, mặc dù chưa có công bố là bao nhiêu.

Cảnh giác những rủi ro: Chính sách giảm giá VND có kiểm soát là cần thiết, nhưng nhóm nghiên cứu cũng đưa ra một số rủi ro liên quan mà Chính phủ Việt Nam cần cảnh giác nếu theo đuổi chính sách đó.

Rủi ro thứ nhất là nhiều doanh nghiệp của Việt Nam đã vay USD từ các ngân hàng trong nước và quốc tế. Nếu nguồn thu nhập chính của họ bằng VND và phải trả nợ bằng USD thì khi tỷ giá USD/VND tăng, lợi nhuận của các doanh nghiệp này sẽ giảm, thậm chí một số trường hợp có thể không trả được nợ và ngân hàng phải chịu thêm nợ xấu.

Vì lý do trên, khuyến nghị đưa ra là việc điều chỉnh tỷ giá nên tiến hành theo từng bước và Ngân hàng Nhà nước phải phát đi những tín hiệu rõ ràng để những người đi vay ngoại tệ có thời gian điều chỉnh.

Rủi ro thứ hailà rủi ro về lạm phát. Giá nội tệ giảm làm hàng nhập khẩu trở nên đắt hơn một cách tương đối. Khi đó, nếu các nhà sản xuất trong nước có thể cung cấp những hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu với giá rẻ hơn thì người tiêu dùng và doanh nghiệp sẽ chuyển sang mua những hàng hóa này. Tuy nhiên, thực tế là nhiều hàng hóa mà người dân và doanh nghiệp cần trong nước lại chưa sản xuất được, hay sản xuất được nhưng có mức giá cao hơn hay chất lượng thấp hơn hàng nhập khẩu. Kết quả là nền kinh tế sẽ “nhập khẩu” lạm phát từ bên ngoài khi VND giảm giá.

“Đây là một nguyên nhân khiến cho việc tăng thâm hụt ngân sách tại thời điểm này trở nên rất rủi ro. Nếu áp lực lạm phát cao trở lại, việc giảm giá VND sẽ dẫn tới tình trạng leo thang giá cả. Đối với một nền kinh tế nhỏ và mở như Việt Nam, chính sách giảm giá đồng nội tệ tỏ ra hợp lý hơn việc gia tăng thâm hụt ngân sách. Nếu hai điều này xẩy ra cùng một lúc thì lạm phát sẽ còn tăng nhanh hơn nữa”, nhóm nghiên cứu nhận định.

Rủi ro thứ ba là tỷ giá USD/VND có thể bị “tăng quá mức” khi người trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài mất niềm tin vào khả năng quản lý cung tiền của các cơ quan điều hành chính sách tiền tệ. Người dân và doanh nghiệp sẽ tranh mua ngoại tệ mạnh hay vàng khi đồng nội tệ bắt đầu mất giá.

Nếu tính huống đó xảy ra, hệ quả mà nhóm nghiên cứu đề cập tới là “trong nỗ lực bảo toàn tài sản, người ta có thể chấp nhập trả một mức giá cao bất thường miễn là mua được ngoại tệ, và không một mức lãi suất nào đủ cao để kéo họ trở lại với đồng nội tệ”.

Với lý do trên, Chính phủ không thể vừa cắt lãi suất, vừa giảm giá đồng tiền. Người tiết kiệm VND phải được hưởng lãi suất cao hơn để bù đắp cho việc VND mất giá. Nói cách khác, tốc độ giảm giá hàng năm của VND phải phản ánh sự khác biệt về lãi suất tiết kiệm giữa USD và VND.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. PGS. TS. Trần Hoàng Ngân, TS. Nguyễn Minh Kiều – (2008), Thanh toán quốc tế, NXB Thống kê.
  2. PGS. TS. Trần Ngọc Thơ, PGS. TS. Nguyễn Ngọc Định- (2008), Tài chính quốc tế, NXB Thống Kê.
  3. Thảo luận chính sách số 4, chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, 2009
  4. http://www.anninhthudo.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=40628&ChannelID=3
  5. http://www.ven.vn/kinh-te-xa-hoi/lam-gi-111e-can-bang-can-can-thanh-toan/
  6. http://www.vnmedia.vn/newsdetail.asp?CatId=26&NewsId=132875
  7. http://sgtt.com.vn/detail29.aspx?ColumnId=29&fld=HTMG/2008/0530/34976&newsid=34976
  8. http://www.baomoi.com/Tag/c%C3%A1n-c%C3%A2n-thanh-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF.epi
  9. http://dddn.com.vn/2008122505319192cat91/Ty-gia-thi-truong-tu-do-tang-vot.htm
  10. http://www.tin247.com/bien_phap_manh_on_dinh_ty_gia_tren_thi_truong_tu_do-3-28913.html
  11. http://www.timkiemtoancau.com/Kinh_t%E1%BA%BF/t%E1%BB%B7_gi%C3%A1_USD_th%E1%BB%8B_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_t%E1%BB%B1_do
  12. 12.   http://m.fxware.com/i/i-charts.asp?t=VND&f=USD&z=5d
  13. 13.   http://www.tuoitre.com.vn
  14. http://www.vietnamnet.vn

c) Gia hạn kiểm tra trong trường hợp cần thiết;

d) Quyết định xử lý về thuế, xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền quyết định xử phạt vi phạm hành chính;

đ) Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến hành vi hành chính, quyết định hành chính của công chức quản lý thuế.

2. Công chức quản lý thuế khi thực hiện kiểm tra thuế có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Thực hiện đúng nội dung, thời hạn ghi trong quyết định kiểm tra thuế;

b) Yêu cầu người nộp thuế cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung kiểm tra;

c) Lập biên bản kiểm tra thuế; báo cáo kết quả kiểm tra với người đã ra quyết định kiểm tra và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực, khách quan của biên bản, báo cáo đó;

d) Xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với người có thẩm quyền ra quyết định xử lý vi phạm.

Mục 3

THANH TRA THUẾ

Điều 81. Các trường hợp thanh tra thuế

1. Đối với doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng thì thanh tra định kỳ một năm không quá một lần.

2. Khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế.

3. Để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Điều 82. Quyết định thanh tra thuế

1. Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp có thẩm quyền ra quyết định thanh tra thuế.

2. Quyết định thanh tra thuế phải phải có các nội dung sau đây:

a) Căn cứ pháp lý để thanh tra thuế;

b) Đối tượng, nội dung, phạm vi, nhiệm vụ thanh tra thuế;

c) Thời hạn tiến hành thanh tra thuế;

d) Trưởng đoàn thanh tra thuế và các thành viên khác của đoàn thanh tra thuế.

3. Chậm nhất là ba ngày làm việc, kể từ ngày ký, quyết định thanh tra thuế phải được gửi cho đối tượng thanh tra.

Quyết định thanh tra thuế phải được công bố chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày ra quyết định thanh tra thuế.

Điều 83. Thời hạn thanh tra thuế

1. Thời hạn một lần thanh tra thuế không quá ba mươi ngày, kể từ ngày công bố quyết định thanh tra thuế.

2. Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định thanh tra thuế gia hạn thời hạn thanh tra thuế. Thời gian gia hạn không vượt quá ba mươi ngày.

Điều 84. Nhiệm vụ, quyền hạn của người ra quyết định thanh tra thuế

1. Người ra quyết định thanh tra thuế có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Chỉ đạo, kiểm tra đoàn thanh tra thuế thực hiện đúng nội dung, thời hạn ghi trong quyết định thanh tra thuế;

b) Yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản, giải trình về những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra thuế; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra thuế cung cấp thông tin, tài liệu đó;

c) Áp dụng các biện pháp quy định tại các điều 89, 90 và 91 của Luật này;

d) Trưng cầu giám định về những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra thuế;

đ) Tạm đình chỉ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền đình chỉ việc làm khi xét thấy việc làm đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

e) Xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về thuế; kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện quyết định xử lý về thanh tra thuế;

g) Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến trách nhiệm của trưởng đoàn thanh tra thuế, các thành viên khác của đoàn thanh tra thuế;

h) Kết luận về nội dung thanh tra thuế.

2. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này, người ra quyết định thanh tra thuế phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

Điều 85. Nhiệm vụ, quyền hạn của trưởng đoàn thanh tra thuế, thành viên đoàn thanh tra thuế

1. Trưởng đoàn thanh tra thuế có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Tổ chức, chỉ đạo các thành viên trong đoàn thanh tra thuế thực hiện đúng nội dung, đối tượng, thời hạn đã ghi trong quyết định thanh tra thuế;

b) Yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản, giải trình về những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra thuế; khi cần thiết có thể tiến hành kiểm kê tài sản của đối tượng thanh tra liên quan đến nội dung thanh tra thuế;

c) Áp dụng biện pháp quy định tại Điều 90 của Luật này;

d) Lập biên bản thanh tra thuế;

đ) Báo cáo với người ra quyết định thanh tra thuế về kết quả thanh tra và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực, khách quan của báo cáo đó;

e) Xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền ra quyết định xử lý vi phạm;

2. Thành viên đoàn thanh tra thuế có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của trưởng đoàn thanh tra thuế;

b) Kiến nghị xử lý những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra thuế;

c) Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao với trưởng đoàn thanh tra thuế.

3. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều này, trưởng đoàn thanh tra thuế, thành viên đoàn thanh tra thuế phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định và hành vi của mình.

Điều 86. Nghĩa vụ và quyền của đối tượng thanh tra thuế

1. Đối tượng thanh tra thuế có các nghĩa vụ sau đây:

a) Chấp hành quyết định thanh tra thuế;

b) Cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác các thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, trưởng đoàn thanh tra thuế và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của thông tin, tài liệu đã cung cấp;

c) Chấp hành yêu cầu, kết luận thanh tra thuế, quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế, trưởng đoàn thanh tra thuế và cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

d) Ký biên bản thanh tra trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc thanh tra thuế.

2. Đối tượng thanh tra thuế có các quyền sau đây:

a) Giải trình về những vấn đề có liên quan đến nội dung thanh tra thuế;

b) Bảo lưu ý kiến trong biên bản thanh tra thuế;

c) Từ chối cung cấp thông tin, tài liệu không liên quan đến nội dung thanh tra thuế, thông tin, tài liệu thuộc bí mật Nhà nước, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

d) Khiếu nại với người ra quyết định thanh tra thuế về quyết định, hành vi của trưởng đoàn thanh tra thuế, thành viên đoàn thanh tra thuế khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật. Trong khi chờ giải quyết khiếu nại, người khiếu nại vẫn phải thực hiện các quyết định đó;

đ) Yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;

e) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế, trưởng đoàn thanh tra thuế, thành viên khác của đoàn thanh tra thuế.

Điều 87. Kết luận thanh tra thuế

1. Chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả thanh tra thuế, người ra quyết định thanh tra thuế phải có văn bản kết luận thanh tra thuế. Kết luận thanh tra thuế phải có các nội dung sau đây:

a) Đánh giá việc thực hiện pháp luật về thuế của đối tượng thanh tra thuộc nội dung thanh tra thuế;

b) Kết luận về nội dung được thanh tra thuế;

c) Xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm (nếu có);

d) Xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

2. Trong quá trình ra văn bản kết luận thanh tra, người ra quyết định thanh tra có quyền yêu cầu trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra báo cáo, yêu cầu đối tượng thanh tra giải trình để làm rõ thêm những vấn đề cần thiết phục vụ cho việc ra kết luận thanh tra thuế.

Mục 4

BIỆN PHÁP ÁP DỤNG TRONG THANH TRA THUẾ

ĐỐI VỚI TRƯỜNG HỢP CÓ DẤU HIỆU TRỐN THUẾ, GIAN LẬN THUẾ

Điều 88. Áp dụng các biện pháp trong thanh tra thuế đối với trường hợp có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế

           1. Khi người nộp thuế có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế liên quan đến tổ chức, cá nhân khác.

           2. Khi dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế có tính chất phức tạp.

Điều 89. Thu thập thông tin liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế

1. Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân có thông tin liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế cung cấp thông tin bằng văn bản hoặc trả lời trực tiếp.

2. Trong trường hợp yêu cầu cung cấp thông tin bằng văn bản thì khi nhận được yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp thông tin đúng nội dung, thời hạn, địa chỉ được yêu cầu và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin đã cung cấp; trường hợp không thể cung cấp được thì phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do.

3. Trong trường hợp yêu cầu cung cấp thông tin bằng trả lời trực tiếp thì khi nhận được yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế, người được yêu cầu cung cấp thông tin phải có mặt đúng thời gian, địa điểm ghi trong văn bản để cung cấp thông tin theo nội dung được yêu cầu và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin đã cung cấp; trường hợp không thể có mặt thì phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do.

Trong quá trình thu thập thông tin bằng trả lời trực tiếp, thanh tra viên thuế phải lập biên bản làm việc và được ghi âm, ghi hình công khai.

Điều 90. Tạm giữ tài liệu, tang vật liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế

1. Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế, Trưởng đoàn thanh tra thuế có quyền quyết định tạm giữ tài liệu, tang vật liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế.

2. Việc tạm giữ tài liệu, tang vật liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế được áp dụng khi cần xác minh tình tiết làm căn cứ để có quyết định xử lý hoặc ngăn chặn ngay hành vi trốn thuế, gian lận thuế.

3. Trong quá trình thanh tra thuế, nếu đối tượng thanh tra có biểu hiện tẩu tán, tiêu hủy tài liệu, tang vật liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế thì thanh tra viên thuế đang thi hành nhiệm vụ được quyền tạm giữ tài liệu, tang vật đó. Trong thời hạn hai mươi bốn giờ, kể từ khi tạm giữ tài liệu, tang vật, thanh tra viên thuế phải báo cáo thủ trưởng cơ quan quản lý thuế hoặc trưởng đoàn thanh tra thuế ra quyết định tạm giữ tài liệu, tang vật; trong thời hạn tám giờ làm việc, kể từ khi được báo cáo, người có thẩm quyền phải xem xét và ra quyết định tạm giữ. Trường hợp người có thẩm quyền không đồng ý việc tạm giữ thì thanh tra viên thuế phải trả lại tài liệu, tang vật trong thời hạn tám giờ làm việc.

4. Khi tạm giữ tài liệu, tang vật liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế, thanh tra viên thuế phải lập biên bản tạm giữ. Trong biên bản tạm giữ phải ghi rõ tên, số lượng, chủng loại của tài liệu, tang vật bị tạm giữ; chữ ký của người thực hiện tạm giữ, người đang quản lý tài liệu, tang vật vi phạm. Người ra quyết định tạm giữ có trách nhiệm bảo quản tài liệu, tang vật tạm giữ và chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu tài liệu, tang vật bị mất, bán, đánh tráo hoặc hư hỏng.

Trong trường hợp tài liệu, tang vật cần được niêm phong thì việc niêm phong phải được tiến hành ngay trước mặt người có tài liệu, tang vật; nếu người có tài liệu, tang vật vắng mặt thì việc niêm phong phải được tiến hành trước mặt đại diện gia đình hoặc đại diện tổ chức và đại diện chính quyền, người chứng kiến.

5. Tang vật là tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý, kim khí quý và những vật thuộc diện quản lý đặc biệt phải được bảo quản theo quy định của pháp luật; tang vật là hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng thì người ra quyết định tạm giữ phải tiến hành lập biên bản và tổ chức bán ngay để tránh tổn thất; tiền thu được phải được gửi vào tài khoản tạm giữ mở tại Kho bạc Nhà nước để bảo đảm thu đủ tiền thuế, tiền phạt.

6. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ phải xử lý tài liệu, tang vật bị tạm giữ theo những biện pháp trong quyết định xử lý hoặc trả lại cho cá nhân, tổ chức nếu không áp dụng hình thức phạt tịch thu đối với tài liệu, tang vật bị tạm giữ. Thời hạn tạm giữ tài liệu, tang vật có thể được kéo dài đối với những vụ việc phức tạp, cần tiến hành xác minh, nhưng tối đa không quá sáu mươi ngày, kể từ ngày tạm giữ tài liệu, tang vật. Việc kéo dài thời hạn tạm giữ tài liệu, tang vật phải do người có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều này quyết định.

7. Cơ quan quản lý thuế phải giao một bản quyết định tạm giữ, biên bản tạm giữ, quyết định xử lý tài liệu, tang vật liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế cho tổ chức, cá nhân có tài liệu, tang vật bị tạm giữ.

About these ads

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
This entry was posted in Luận văn, chuyên đề, khóa luận and tagged , . Bookmark the permalink.

One Response to CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ GIÁ

  1. ve`0ve`0 nói:

    thank ban.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s